Luận văn một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò tại huyện võ nhai tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

Luận văn phân tích đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò tại huyện Võ Nhai, Thái Nguyên, đề xuất biện pháp phòng trị hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

71
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1. Vị trí địa lý
2.1.1.2. Địa hình đất đai

2.1.2. Thời tiết khí hậu

2.1.3. Giao thông vận tải

2.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2. Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước

2.2.1. Trên thế giới

2.2.2. Ở Việt Nam

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Thời gian và địa điểm

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.2.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại huyện Võ Nhai

3.2.2. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại huyện Võ Nhai

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp xử lý số liệu

3.3.2. Phương pháp tính tỷ lệ và hệ số gia súc mắc bệnh

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Võ Nhai

4.2. Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn trên địa bàn huyện từ năm 2014 - 2016

4.3. Tần suất xuất hiện dịch bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại các xã từ năm 2014 - 2016

4.4. Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo loài gia súc

4.5. Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo mùa vụ

4.6. Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo lứa tuổi

4.7. Triệu chứng đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng

4.8. Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng theo vùng địa lý

4.9. Kết quả phòng dịch bệnh tụ huyết trùng trâu bò của huyện Võ Nhai từ năm 2014 - 2016

4.10. Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò

4.11. Biện pháp phòng, trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Võ Nhai

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò tại Võ Nhai Thái Nguyên

Bệnh tụ huyết trùng là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trâu bò, gây thiệt hại lớn về kinh tế. Tại Võ Nhai, Thái Nguyên, bệnh xuất hiện với tần suất cao, đặc biệt vào mùa mưa. Nghiên cứu chỉ ra rằng Pasteurella multocida là tác nhân chính gây bệnh. Đặc điểm dịch tễ của bệnh bao gồm sự phân bố theo mùa, vùng địa lý và lứa tuổi. Bệnh thường xảy ra ở trâu bò từ 1-3 tuổi, với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Các yếu tố như điều kiện thời tiết, vệ sinh chuồng trại và quản lý đàn gia súc ảnh hưởng đến sự lây lan của bệnh.

1.1. Phân bố theo mùa và vùng địa lý

Bệnh tụ huyết trùng xuất hiện chủ yếu vào mùa mưa, từ tháng 4 đến tháng 10, khi độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Tại Võ Nhai, các xã vùng núi cao có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với vùng đồng bằng. Điều này liên quan đến địa hình phức tạp và điều kiện chăn nuôi khó khăn.

1.2. Phân bố theo lứa tuổi

Trâu bò từ 1-3 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, chiếm khoảng 60% tổng số ca bệnh. Điều này có thể do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện ở nhóm tuổi này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trâu bò già trên 5 tuổi ít mắc bệnh hơn, nhưng khi mắc bệnh thì tỷ lệ tử vong cao hơn.

II. Biện pháp phòng trị bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò

Để kiểm soát bệnh tụ huyết trùng, các biện pháp phòng trị hiệu quả cần được áp dụng. Phòng bệnh bao gồm tiêm phòng vắc xin, vệ sinh chuồng trại và quản lý đàn gia súc chặt chẽ. Điều trị bệnh cần kết hợp sử dụng kháng sinh và chăm sóc đặc biệt. Nghiên cứu tại Võ Nhai đã đề xuất các phác đồ điều trị hiệu quả, giúp giảm tỷ lệ tử vong và thiệt hại kinh tế.

2.1. Phòng bệnh

Tiêm phòng vắc xin là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất. Vắc xin Pasteurella multocida được sử dụng rộng rãi tại Võ Nhai, giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh. Ngoài ra, việc vệ sinh chuồng trại, cách ly gia súc bệnh và quản lý thức ăn, nước uống cũng góp phần ngăn chặn sự lây lan của bệnh.

2.2. Điều trị bệnh

Điều trị bệnh tụ huyết trùng cần kết hợp sử dụng kháng sinh như Streptomycin và Penicillin. Các phác đồ điều trị được nghiên cứu tại Võ Nhai cho thấy hiệu quả cao, giúp giảm tỷ lệ tử vong xuống dưới 10%. Bên cạnh đó, việc bổ sung dinh dưỡng và chăm sóc đặc biệt cho gia súc bệnh cũng rất quan trọng.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễbiện pháp phòng trị bệnh tụ huyết trùng tại Võ Nhai, Thái Nguyên có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn. Về mặt khoa học, nghiên cứu cung cấp thông tin chi tiết về sự phân bố và đặc điểm của bệnh. Về mặt thực tiễn, các biện pháp phòng trị được đề xuất giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu bổ sung dữ liệu về đặc điểm dịch tễ của bệnh tụ huyết trùngtrâu bò, đặc biệt là tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần làm rõ vai trò của Pasteurella multocida trong việc gây bệnh và các yếu tố ảnh hưởng đến sự lây lan của bệnh.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Các biện pháp phòng trị được đề xuất trong nghiên cứu có thể áp dụng rộng rãi tại các địa phương khác, giúp kiểm soát hiệu quả bệnh tụ huyết trùng. Điều này không chỉ giảm thiểu thiệt hại kinh tế mà còn góp phần nâng cao chất lượng đàn gia súc và phát triển bền vững ngành chăn nuôi.

02/03/2025
Luận văn một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò tại huyện võ nhai tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Việt Nam là một nước trên đà hội nhập và phát triển. Nền kinh tế Việt Nam đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính đem lại việc làm và thu nhập cho đại đa số người dân. Cùng với sự phát triển đi lên của ngành trồng trọt, thì ngành chăn nuôi cũng được coi là một thế mạnh và dường như không thể thiếu.

Có thể kể hàng loạt những lợi ích mà ngành chăn nuôi mang lại, ví dụ như: cung cấp nguồn thực phẩm đa dạng và phong phú (thịt, trứng, sữa,.), cung cấp sức kéo, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt. Biết được tầm quan trọng, Nhà nước ta đã đầu tư cho ngành chăn nuôi trên rất nhiều khía cạnh, có thể kể đến như hỗ trợ đầu tư vốn cho người dân mở trang trại, cung cấp vắc xin miễn phí cho tất cả các tỉnh thành 2 lần/năm trong 2 đợt tiêm phòng chung của cả nước. Không những thế, Nhà nước còn rất chú trọng đầu tư đạo tào nguồn nhân lực có kiến thức chuyên môn về kỹ thuật chăm sóc và điều trị bệnh cho đàn vật nuôi. Với vai trò là một bác sỹ thú y trong tương lai, em tự biết muốn trở thành một bác sỹ thú y có tay nghề cao thì cần phải cọ xát thực tế thật nhiều, cần phải tiếp xúc với nhiều ca bệnh, trực tiếp điều trị thì mới có thể nâng cao tay nghề của mình.

Cùng với mục tiêu như trên, được sự cho phép của Nhà trường, của Khoa, của các cấp lãnh đạo huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài: “Một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”. Nhận được sự hướng dẫn quan tâm chỉ bảo của thầy giáo PGS. Đặng Xuân Bình, cùng sự cố gắng của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận. Tuy nhiên, do lần đầu tiến hành nghiên cứu khoa học và thời gian thực tập có hạn nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót.

Em kính mong nhận n 2 được sự quan tâm giúp đỡ góp ý của quý thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên địa bàn huyện Võ Nhai - Đề xuất các biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài * Ý nghĩa khoa học: - Bổ sung tư liệu về đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là thông tin khoa học về tình hình bệnh tụ huyết trùng và điều trị bệnh cho đàn trâu, bò nuôi tại một số xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Võ Nhai.

* Ý nghĩa thực tiễn: - Là cơ sở thực tiễn để xác định biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả. - Là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Thú y. n 3 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.

Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Võ Nhai là huyện vùng cao, thuộc vùng đặc biệt khó khăn nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Phía Bắc giáp huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, phía Đông giáp huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Toàn huyện có 15 đơn vị hành chính trong đó có 1 thị trấn và 14 xã với tổng số 174 xóm bản, dân số trên 70 nghìn người 2. Địa hình đất đai Tổng diện tích đất tự nhiên 83.

Trong đó: - Diện tích đất nông nghiệp 77.552,71 ha, chiếm 92,4% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 11.284,85 ha chiếm 13,4%, diện tích đất lâm nghiệp 66.012,18 ha chiếm 78,6%, diện tích đất nuôi trồng thủy sản 255,68 ha chiếm 0,3% tổng diện tích đất tự nhiên. - Diện tích đất phi nông nghiệp 3.274,14 ha, chiếm 3,90% tổng diện tích đất tự nhiên. - Diện tích đất chưa sử dụng: 3.115,69 ha, chiếm 3,7% tổng diện tích đất tự nhiên. Đặc điểm địa hình huyện Võ Nhai là núi cao, chịu ảnh hưởng của 2 vòng cung là vòng cung Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và vòng cung Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, vì vậy huyện có địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất bằng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp ít.

Vùng núi dốc và núi đá vôi chiếm 92 %, những vùng đất bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ tập trung n 4 chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền sông và thung lũng của vùng núi đá vôi. Toàn huyện độ cao trung bình so với mặt biển từ 100 - 800 m, đất nông nghiệp phân bố ở độ cao 100 - 450 m. Căn cứ vào địa hình, địa mạo và đất đai huyện chia làm 3 tiểu vùng như sau: - Tiểu vùng I : Bao gồm các xã, thị trấn dọc quốc lộ 1B gồm: Thị trấn Đình Cả, các xã Phú Thượng; Lâu Thượng; La Hiên, với tổng diện tích vùng này là 14.008,33 ha (chiếm 16,69% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện) đây là nơi tập trung dân số cao là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của huyện. Đặc điểm vùng này có hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện lưới thuận lợi cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa.

- Tiểu vùng II: Gồm 5 xã phía Nam: Tràng Xá; Liên Minh; Phương Giao; Dân Tiến; Bình Long với tổng diện tích 26. Địa hình đồi núi hình bát úp, bị chia cắt bởi nhiều khe, suối, sông và xen kẽ núi đá vôi có các bãi soi bằng phẳng phù hợp phát triển cây công nghiệp ngắn và dài ngày, cây lương thực và kết hợp các cây ăn quả, cây lâm nghiệp và phát triển chăn nuôi theo hướng gia trại, trang trại. - Tiểu vùng III: Bao gồm 6 xã phía Bắc của huyện là xã Nghinh Tường; Sảng Mộc; Thượng Nung; Vũ Chấn; Thần Sa và Cúc Đường với tổng diện tích 43. Đặc điểm của vùng này là đất rộng, nhiều đồi núi, khe suối rất thuận lợi cho việc triển lâm nghiệp, du lịch sinh thái.

Thời tiết khí hậu Khí hậu Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa bình quân năm 1.941,5 mm, thấp hơn so với các vùng khác trong tỉnh Thái Nguyên n 5 (2.500) và phân bố không đều, lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa với 1.765mm, chiếm 91% lượng mưa cả năm. Các tháng mùa khô có lượng mưa không đáng kể, lượng bốc hơi nước rất lớn, gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng cho cây trồng, nhất là đối với cây trồng hàng năm.

Độ ẩm bình quân hàng năm trên địa bàn huyện Võ Nhai dao động từ 80 - 87 %, các tháng mùa khô, nhất là các tháng cuối năm (tháng 11, 12) độ ẩm thấp gây khó khăn cho việc phát triển cây vụ Đông. Giao thông vận tải Giao thông nói chung và đường xá nói riêng là cơ sở hạ tầng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Giao thông vận tải phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đến nay huyện Võ Nhai đã hình thành một mạng lưới giao thông đường bộ với các loại đường như sau: - Quốc lộ 1B có chiều dài 28 km, rộng 7 km - Đường tỉnh lộ 23,5 km - Đường huyện dài 98,9 km - Hơn 80 tuyến đường liên xã với tổng chiều dài 486 km - Đường xóm dài khoảng 83 km ; xây dựng mới được 53 đường ngầm, đường tràn, 12 cầu gỗ, 433 cầu cống các loại, 9 cầu bê tông cót thép 2.

Điều kiện kinh tế - xã hội Võ Nhai có 15 đơn vị hành chính gồm thị trấn Đình Cả và 14 xã: Sáng Mộc, Nghinh Tường, Thần Sa, Thượng Nung, Vũ Chấn, Cúc Đường, La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao, Liên Minh và Dân Tiến. Võ Nhai là địa bàn sinh sống của 8 dân tộc như: Kinh (34,17%); Tày (29,88%); Nùng (14,52%); Dao (12,63%); Các dân tộc H’Mông, Cao Lan, Hoa chiếm 8,7%. n 6 Người Cao Lan (Sán Chay, Sán Chí) sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng nước, làm nương, trồng rừng. Người Cao Lan sống trong những ngôi nhà sàn 4 mái có 3 hoặc 5 gian, trong nhà có sàn phơi.

Y phục của người Cao Lan không có nhiều hoạ tiết, phụ nữ thường mặc váy chàm dài ngang bắp chân, mặc áo chàm dài ngang váy. Nam giới búi tóc đội khăn xếp màu chàm có thêu hoa văn, mặc áo chàm dài hoặc ngắn, quần thụng màu nâu hoặc trắng. Trong những dịp lễ, tết, người Cao Lan rất thích các điệu múa Lân, múa Tắc Xình… 2. Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nƣớc 2.

Trên thế giới Bệnh tụ huyết trùng được Bollinger phát hiện lần đầu tiên trên bò năm 1878 ở Munich (Đức). Những năm tiếp theo bệnh được phát hiện ở nhiều nước trên thế giới, trên nhiều loài gia súc, gia cầm. Năm 1885, Kitt đã phân lập được vi khuẩn gây bệnh. Khi nghiên cứu vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh ở các loài gia súc, gia cầm, Hueppe phát hiện thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, tương đồng kháng nguyên, nhưng khác nhau về tính gây bệnh cho các loài vật và gọi chung là vi khuẩn gây nhiễm trùng huyết, xuất huyết, đặt tên là Bacillus septicaemia.

Để ghi nhớ công lao của Louis Pasteur, người có nhiều đóng góp nghiên cứu phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng, năm 1887, Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn gây bệnh này là Do Pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc nên người ta đặt tên vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng cho động vật theo tên vật chủ mà chúng thích nghi và gây bệnh: Pasteurella suiseptica gây bệnh ở lợn. Pasteurella boviseptica gây bệnh ở bò. Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê, cừu. Pasteurella aviseptica gây bệnh ở gà.

Sau một vài lần thay đổi, đến năm 1939, Rosenbush và Merchant đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn này là Pasteurella multocida, để chỉ khả năng gây n 7 bệnh cho nhiều loài vật của chúng, tên này đã được công nhận chính thức trên thế giới và sử dụng cho đến ngày nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò tại Võ Nhai, Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình dịch tễ của bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò, một bệnh lý nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất của đàn gia súc. Tài liệu nêu rõ các đặc điểm dịch tễ học, nguyên nhân gây bệnh, cũng như các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả. Độc giả sẽ nhận được thông tin hữu ích để áp dụng trong công tác chăn nuôi, từ đó nâng cao sức khỏe đàn vật nuôi và giảm thiểu thiệt hại kinh tế.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh lý liên quan đến gia súc, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa tuyên quang năm thứ hai", nơi cung cấp quy trình phòng bệnh cụ thể cho trâu. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn điều tra tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại và thử nghiệm một số phác đồ điều trị" sẽ giúp bạn hiểu thêm về các bệnh lý khác ở gia súc. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn đánh giá tình hình mắc bệnh viêm vú và viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại của công ty cổ phần thiên thuận tường quảng ninh" cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về các bệnh thường gặp ở lợn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe và bệnh lý trong chăn nuôi gia súc.