Đặt vấn đề Trong sản xuất nông nghiệp nước ta, con trâu chiếm một vị trí hết sức quan trọng "con trâu là đầu cơ nghiệp". Trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt, con trâu không chỉ cung cấp sức kéo trên đồng ruộng, sử dụng để vận chuyển hàng hoá vùng nông thôn, miền núi, cung cấp phân bón cho sản xuất cây trồng; nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp mà còn cung cấp cấp thịt có chất lượng cao. Tuyên Quang là một tỉnh miền núi có số dân sống dựa và sản xuất nông nghiệp chiếm 78%. Cũng như ở nhiều nơi trong cả nước, chăn nuôi trâu là một nghề sản xuất truyền thống lâu đời, con trâu đã trở thành con vật thân thiết, là tài sản quý đối với mỗi người nông dân vì nó không những mang lại giá trị kinh tế cao, vừa cung cấp sức kéo và phân bón trong sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, theo kết quả Báo cáo thống kê của Sở NN&PTNT tỉnh Tuyên Quang năm 2020, tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Chiêm Hóa nói riêng số lượng trâu đang bị giảm cả về số lượng và chất lượng. Trước thực tế trên cùng với công tác giống và đảm bảo nguồn thức ăn dinh dưỡng thì công tác vệ sinh thú y, phòng và trị bệnh cho đàn trâu là nội dung có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp cho trâu có sức đề kháng, hạn chế được sự lây nhiễm và mắc bệnh, giảm những rủi ro, góp phần từng bước nâng cao số lượng và chất lượng đàn trâu nuôi tại địa phương. Nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về công tác vệ sinh thú y, phòng và trị bệnh đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn trâu nuôi tại địa phương, trong phạm vi nội dung đề tài cấp Nhà nước "Nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen trâu có khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang, mã số NVQG-2018/13' chúng tôi thực hiện chuyên đề nghiên cứu "Nghiên cứu quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang (năm thứ 2)". Mục tiêu của chuyên đề Đánh giá được thực trạng tình hình chăn nuôi trâu và kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang.
Ý nghĩa của chuyên đề Kết quả của chuyên đề bổ sung nguồn thông tin về áp dụng biện pháp thú y phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang đòng thời góp phần nâng cao nhận thức cho người dân về việc áp dụng biện pháp thú y phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại địa phương. Luan van 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình nghiên cứu trong nước về con trâu Từ những năm 1970, công tác tuyển chọn trâu phục vụ nhân thuần đã bắt đầu được chú ý. Tại trại trâu Ngọc Thanh, Vĩnh Phúc họ đã chọn con có khối lượng lớn để làm giống với khối lượng sơ sinh có thể đạt 28,8kg (đực) và 27,8kg (cái).
Áp dụng một số biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng tốt giúp tăng khối lượng của nghé từ sơ sinh đến 6 tháng đạt 465 g/ngày. Khối lượng 12 tháng đạt 185,4kg (đực) và 182,6kg (cái); 24 tháng tuổi đạt 266,8kg (đực) và 254,3kg (cái); 36 tháng tuổi tương ứng 363,7 kg (đực) và 333,7kg (cái). Trâu cái trưởng thành 451,6kg. Nuôi nghé đực 18 tháng tuổi đã có khả năng truyền giống, nhưng trên 2 năm tuổi chất lượng tinh mới tốt.
Nghé cái có biểu hiện động dục rõ bắt đầu vào lúc 2 năm tuổi, chu kỳ động dục 22 ngày, thời gian chịu đực kéo dài 21giờ. Cho phối giống vào cuối giai đoạn chịu đực và phối kép 2 lần cách nhau 10-12 giờ cho tỷ lệ đậu thai trên 80%. Thời gian mang thai trung bình 325 ngày. Trâu sống tương đối thọ khoảng 20-22 năm, mỗi trâu cái cả đời có thể sinh 15-17 nghé con.
Tuy nhiên trong thực tế sản xuất thì chỉ để trâu cái đẻ 5-6 nghé con sau đó khoảng 13-16 tuổi bà con tiến hành loại thải. Mùa sinh sản chính của trâu vào mùa thu đông chiếm 62%. Tỷ lệ nuôi sống của nghé con đạt 87%, nguyên nhân gây chết chính do ỉa chảy, thiếu sữa và chết rét (Nguyễn Đức Thạc, 1983). Khi kiểm tra 287 trâu cái trong tuổi sinh sản tại xã Tản Lĩnh (Ba Vì) và xã Tự Lập (Mê Linh) có 92 con chiếm 32% có vấn đề liên quan cơ quan sinh sản, trong số này có 60% gặp vấn đề buồng trứng, số còn lại chủ yếu viêm tử cung.
Thí nghiệm trên 19 con trâu chậm sinh do buồng trứng kém phát triển Luan van 4 được điều trị bằng PMSG + HCG cho tỷ lệ đậu thai 36,3% thấp hơn so với lô đạt PRID đạt 62,5%. Đối với trâu có buồng trứng duy trì thể vàng sử dụng PGF2α để điều trị và TTNT có kết quả đậu thai 60% ngay ở chu kỳ động dụng thứ 2, tương đương lô đặt PRID (Mai Văn Sánh, 2005). Trịnh Văn Trung và ctv (2008) nghiên cứu dinh dưỡng cho trâu bằng việc bổ sung thức ăn xanh, bột sắn, sắn khô và rỉ mật giai đoạn 7-12 tháng tuổi bổ sung 30% thức ăn tinh trong khẩu phần nghé cho tăng khối lượng cao nhất (561 g/con/ngày). Bổ sung 18-25% bột lá sắn trong khẩu phần ăn của trâu tơ cho tăng khối lượng 545-578 g/ con/ngày.
Khi sử dụng bột sắn, bột lá sắn và rỉ mật vỗ béo trâu tăng khối lượng đạt 527 g/con/ngày và tỷ lệ thịt xẻ đạt 43,6%. Vũ Duy Giảng (2009) cho biết, nuôi trâu giai đoạn 18-24 tháng tuổi đem vỗ béo trong 3 tháng có thể cho tăng khối lượng 680-700 g/con/ngày. Dinh dưỡng cho khẩu phần vỗ béo cho trâu chủ yếu là thức ăn dễ kiếm, ngoài cỏ tươi có thêm một lượng nhất định cám gạo, sắn lát hay sắn tươi. Chất lượng thịt trâu ngày càng được đánh giá cao trên thị trường thế giới và được nhiều người ưa chuộng, kể cả một số nước châu âu và Mỹ vì nhiều nạc, ít mỡ, lượng cholesterol ít hơn thịt bò 41%.
Tỷ lệ thịt xẻ của trâu cũng khá cao với 43-48%. Một nghiên cứu về độ ngon được tiến hành trên 28 bữa ăn với 3 loại thịt (1) thịt trâu, (2) thịt bò lai, (3) thịt bò loại 1 từ châu Âu không được cho biết trước tại Trinidad. Kết quả cho thấy có 14/28 người đánh giá thịt trâu ngon nhất, 7 người đánh giá thịt bò loại 1 nhập khẩu châu Âu ngon nhất, 5 người chọn thịt bò lai và có 2 người đánh giá thịt trâu và thịt bò lai ngon như nhau và ngon hơn thịt bò loại 1. Đặc điểm chung của trâu nội ở các địa phương nước ta là tầm vóc nhỏ, sinh trưởng chậm (khả năng tăng trọng thấp) và thành thục muộn.
Trâu Việt Luan van 5 Nam có khối lượng trưởng thành nhỏ: trâu đực 400-450 kg/con trâu cái 330- 350 kg/con và tỷ lệ thịt xẻ 43-45%. Do chăn nuôi đặc biệt là công tác giống hầu như chưa được quan tâm đúng mức nên tầm vóc trâu có xu hướng giảm: Số liệu điều tra từ năm 1985 đến năm 2000 cho thấy tầm vóc của trâu đực đã giảm 11,3%: từ 476kg xuống 422,3kg và trâu cái giảm 14,6%: từ 406kgn xuống 346,5kg. Đây là vấn đề rất đáng báo động về tình trạng suy thoái trâu Việt Nam (Cục Chăn nuôi, 2010). Thời gian qua, công tác giống trâu đã được chú trọng hơn, nhưng cần phải xây dựng đàn hạt nhân nhằm tạo vùng giống trâu có năng suất, chất lượng cao để cung cấp trâu giống trong vùng và các vùng phụ cận.
Một vài nghiên cứu được tiến hành để cải tạo tầm vóc đàn trâu địa phương, sử dụng trâu đực ngoại hình to làm giống. Kết quả về cải tạo tầm vóc trâu bản địa thông qua sử dụng trâu đực và cái giống khối lượng to đã làm tăng khối lượng sơ sinh, 3, 6, 12 và 24 tháng tuổi của nghé thế hệ 1 lên 10% so với đàn đại trà, và thế hệ 2 lên 5-7% so với thế hệ 1 (Trịnh Văn Trung và ctv, 2010). Đinh Văn Cải (2013) cho biết nghé nội sinh ra từ đực có khối lượng lớn lúc 6 và 12 tháng tuổi cao hơn 7,2% và 9,3%, TKL từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi cao hơn 10% so với đại trà. Trung tâm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật Nghệ An (2016) đã tuyển chọn thông qua bình tuyển, đánh giá quần thể trâu Thanh Chương được 70 con trâu giống (20 đực và 50 cái) đưa vào đàn bảo tồn, kết quả một số chỉ tiêu đạt được như sau: Trâu cái 24-30 tháng tuổi đã bắt đầu động dục và có khả năng phối giống.
Khối lượng sơ sinh nghé đực 27,79kg và nghé cái 24,7kg, KL trưởng thành của trâu đực 513,1- 541,9kg, trâu cái 439,0-482,0kg. Khoảng cách 2 lứa đẻ 14-18 tháng chiếm 50%. Tỷ lệ thịt xẻ của trâu cái là 42,83% và trâu đực là 47,6%; tỷ lệ thịt tinh của trâu cái là 31,3% và trâu đực là 32,08% (Đặng Văn Quát và ctv, 2016). Luan van 6 Phạm Văn Giới và ctv (2017) cho biết, chăn nuôi trâu ở Việt Nam chủ yếu ở quy mô nông hộ nhỏ lẻ thường dưới 5 con/hộ, rất ít hộ nuôi trên 10 con/hộ.
Trong đàn, trâu cái sinh sản chiếm 46,43-48,64%; tỷ lệ trâu đực giống trong quần thể thấp (1,81-3,58%). Phương thức nuôi bán chăn thả tận dụng các loại cây cỏ, thức ăn tự nhiên là chủ yếu, tỷ lệ các hộ trồng cỏ, dự trữ và bổ sung thức ăn cho trâu còn thấp. Khối lượng trâu trưởng thành đạt 370-385 và 430-455kg đối với trâu cái và đực. Tuổi đẻ lứa đầu 3-4 năm, khoảng cách lứa đẻ 18-24 tháng.
Khi áp dụng giải pháp dinh dưỡng bổ sung mức protein thô 8,92%, xơ thô 7,81%, caxi 0,09%, photpho 0,63% và ME là 2.682,2 kcal/kg, áp dụng các biện pháp về chọn giống đã làm tang khối lượng của đàn con cao hơn 9,89%, tăng khối lượng cao hơn 4,83-18,75% ở các giai đoạn từ 6 tháng tuổi trở lên, khi áp dụng phối giống có kiểm soát giúp đạt khoảng cách lứa đẻ chỉ còn 15,34 tháng và trong vỗ béo nuôi trâu áp dụng phương thức nuôi nhốt cho hiệu quả kinh tế đạt cao nhất. Nguyễn Công Định và ctv (2018) đã nghiên cứu cải tiến kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và áp dụng các kỹ thuật mới nhằm nâng cao khả năng sinh sản và khối lượng của trâu cho biết: thụ tinh nhân tạo cho tỷ lệ chửa trên 50%, thời điểm phối giống thích hợp cho cao nhất, đó là 10-12 giờ kể từ khi trâu cái bắt đầu chịu đực và sử dụng phương pháp phối kép. Đồng thời ứng dụng đặt CIDR và tiêm PMSG cho trâu cái tơ độ tuổi 32-33 tháng tuổi cho kết quả rút ngắn tuổi động dục và phối giống lần đầu 2,6-7,4 tháng so với tự nhiên.