Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Một số khái niệm cơ bản. Biến đổi khí hậu - Climate Change: Là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan (10) Biên độ ngày của nhiệt độ - Diurnal Temperature Range (DTR): Chênh lệch giữa nhiệt độ thấp nhất và cao nhất trong ngày (10).
Nhiệt độ trung trung bình ngày: Là giá trị trung bình cộng của nhiệt độ được đo đạc trong ngày Nhiệt độ thấp nhất: Là trị số nhiệt độ thấp nhất được xác định trong khoảng thời gian giữa hai kỳ quan trắc bằng nhiệt kế khí tượng tối thấp. Nhiệt độ cao nhất: Là trị số nhiệt độ cao nhất được xác định trong khoảng thời gian giữa hai kỳ quan trắc bằng nhiệt kế khí tượng tối cao. Trung bình sự thay đổi nhiệt độ trong một khoảng thời gian là bình quân sự chênh lệch nhiệt độ giữa các ngày. Dao động khí hậu - Climatic Fluctuation: Biến động khí hậu gồm bất kỳ dạng thay đổi có tính hệ thống, dù thường xuyên hay không thường xuyên, trừ các xu thế và bất liên tục (thay đổi đột ngột trong một giai đoạn, từ giá trị trung bình này sang giá trị trung bình khác), đặc trưng bằng ít nhất hai cực đại (hay cực tiểu) và một cực tiểu (hay cực đại), gồm cả ở hai đầu chuỗi số liệu.
Khí hậu - Climate: Là tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một vùng nhất định, đặc trưng bởi các đại lượng thống kê dài hạn của các yếu tố khí tượng tại vùng đó (10). Nhiệt độ cực trị - Extreme Temperatures: Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất đạt được trong thời gian nhất định (10). 5 Thời tiết - Weather: Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,…(10) Khí hậu và thời tiết là hai khái niệm khác nhau nhưng thường bị nhầm lẫn. Thời tiết là trạng thái của khí quyển tại bất kỳ thời điểm và địa điểm nào.
Các kiểu thời tiết thay đổi rất nhiều từ năm này sang năm khác và từ vùng này sang vùng khác. Các khía cạnh quen thuộc của thời tiết bao gồm nhiệt độ, lượng mưa, mây và gió mà mọi người trải qua trong suốt một ngày. Điều kiện thời tiết khắc nghiệt bao gồm bão, lốc xoáy, bão tuyết và hạn hán. Khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình tồn tại trong nhiều thập kỷ hoặc lâu hơn.
Mặc dù thời tiết có thể thay đổi trong vài phút hoặc vài giờ, việc xác định sự thay đổi của khí hậu đã đòi hỏi các quan sát trong khoảng thời gian từ nhiều thập kỷ đến nhiều thế kỷ hoặc lâu hơn. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT): là một nhóm bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây nên những tổn thương cấp tính ở một phần hay toàn bộ hệ thống đường hô hấp từ mũi họng cho đến phế nang (11). Hen phế quản (Asthma) là một bệnh viêm mạn tính đường thở do nhiều tế bào và các thành phần tế bào tham gia. Viêm đường thở mạn tính kết hợp với tăng đáp ứng đường thở dẫn đến những đợt thở rít, khó thở, nghẹt lồng ngực, ho tái diễn; các triệu chứng thường xảy ra về đêm hoặc sáng sớm; những đợt này thường kết hợp với tắc nghẽn đường thở lan toả và hồi phục tự phát hoặc sau điều trị.
Khái niệm đợt bùng phát của hen phế quản (exacerbation) (còn gọi là cơn hen hoặc hen cấp tính -asthma attack or acute asthma) là đợt tiến triển các triệu chứng khó thở, thở rít, ho, nghẹt lồng ngực hoặc kết hợp các triệu chứng này. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD): là một bệnh phổ biến, có thể phòng và điều trị được, bệnh có đặc điểm là giới hạn lưu lượng thở dai dẳng, bệnh tiến triển và thường kết hợp với đáp ứng viêm mạn tính ở đường thở và nhu mô phổi do các hạt và khí độc hại. Các đợt cấp và bệnh lý đi kèm góp phần làm bệnh nặng lên ở từng cá thể. Định nghĩa của GOLD (2011).
Sự thay đổi của thời tiết và khí hậu trên thế giới và Việt Nam. Thực trạng trên thế giới.1: Sự khác biệt của nhiệt độ trung bình toàn cầu từ giai đoạn 1850-1900 (Dữ liệu đến tháng 6/2019) (12). Sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu là minh chứng rõ nhất của biến đổi khí hậu. Từ năm 1980 đến nay, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng trên 0,85°C, kể từ giữa thế kỷ 20 sự gia tăng được ghi nhận ngày càng nhanh chóng, đặc biệt giai đoạn từ 1951 đến 2012 với mức tăng khoảng 0,12ºC/ thập kỷ (10).
Khoảng thời gian từ 2011- 2015 nền nhiệt trung bình toàn cầu cao hơn khoảng 0,51ºC so với giai đoạn 2006-2010 và so với giai đoạn 1961-1990 là 0,57ºC. Năm 2015 được ghi nhận là năm ấm nhất trong giai đoạn này với nhiệt độ trung bình năm cao hơn 0,76ºC so với giai đoạn 1961-1990. Đây cũng là năm đầu tiên nhiệt độ trung bình toàn cầu cao hơn 1°C so với nhiệt độ trung bình thời kì tiền công nghiệp (13). Bốn năm nóng nhất lịch sử được ghi nhận là từ năm 2015 đến 2018 và năm 2019 hiện tại cũng được dự đoán sẽ là một trong năm năm nóng nhất với tháng 7/2019 là tháng nóng nhất trong lịch sử toàn cầu.
Nhiệt độ trung bình toàn cầu giai 7 đoạn 2015 – 2019 cao hơn so với bất kỳ giai đoạn 5 năm nào trước đây, ước tính cao hơn khoảng 0,2°C so với trung bình giai đoạn 2011 - 2015 và so với giai đoạn tiền công nghiệp (1850 - 1900) là cao hơn khoảng 1,1ºC (12). Nhiệt độ trung bình trên lục địa thường có sự thay đổi lớn hơn so với nhiệt độ trung bình toàn cầu. Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), giai đoạn 2015- 2019 ghi nhận nhiệt độ cực cao và sóng nhiệt ở nhiều nơi trên thế giới, nhiệt độ trung bình ở các lục địa cao hơn khoảng 1,7°C so với tiền công nghiệp và hơn 0,3°C so với năm 2011-2015. Hầu hết các khu vực đất liền đều được ghi nhận có nhiệt độ trung bình ấm hơn so với toàn cầu, đặc biệt tuy nhiên có một vài khu vực ngoại lệ ở Canada, Nam Cực và Ấn Độ Dương (12).
Xu thế của sự biến đổi nhiệt độ là tăng nhanh hơn ở vùng vĩ độ cao; ở các vùng sâu trong lục địa so với vùng biển đảo; số ngày và số đợt nắng nóng có xu thế tăng trên toàn cầu. Biên độ nhiệt độ ngày giảm đi khoảng 0,07ºC/ thập kỷ (14). Ở Bắc Cực, nhiệt độ trên đỉnh lớp băng vĩnh cửu tăng lên 3ºC so với năm 1982 (14). Trong giai đoạn 1979-2018 diện tích biển băng mùa hè ở Bắc Cực giảm xấp xỉ 12% mỗi thập kỷ.
Tại Nam Cực sông băng tan chảy trong giai đoạn 2015- 2019 cũng ở mức cao kỷ lục so với bất kỳ giai đoạn 5 năm nào trước đây (12). Mực nước biển tiếp tục tăng với tốc độ nhanh trong những năm gần đây; từ 3,04 mm/ năm trong 10 năm từ 1997-2006 lên 4,36 mm /năm trong giai đoạn 2007– 2016. Giai đoạn 2014 - 2019, tốc độ gia tăng mực nước biển trung bình toàn cầu đã lên tới 5 mm / năm (12). So sánh giai đoạn 2015 - 2018 với giai đoạn 2011 – 2015, tổng lượng mưa trung bình cao hơn trong thời kỳ sau so với trước các khu vực Bắc Mỹ, Đông Âu và hầu hết châu Á.
Ngược lại, lượng mưa đã giảm ở phần lớn của châu Âu, tây nam và nam châu Phi, một phần lớn Nam Mỹ, khu vực gió mùa Ấn Độ, và miền bắc và miền tây Australia. Thực trạng ở Việt Nam. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất của BĐKH. Hiện tượng El Nino và La Nina ảnh hưởng mạnh đến nước ta trong vài thập kỷ gần đây, El Nino thường gây ra các hiện tượng hạn hán, nắng nóng kéo dài do vùng mưa trong hoàn lưu Walker dịch chuyển sang phía Đông Thái Bình Dương, ngược lại La Nina, khi vùng nước ấm và vùng mưa dịch chuyển về khu vực phía Tây thường gây ra mưa lớn và ngập lụt.
Theo xếp hạng Chỉ số rủi ro khí hậu 2018, Việt Nam là quốc gia thứ 5 trong năm 2016 và thứ 8 trong giai đoạn 1997-2016 chịu tác động nhiều nhất của các hiện tượng thời tiết cực đoan (15). Nhiệt độ trung bình tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây. Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62ᵒC, riêng giai đoạn 1985-2014 nhiệt độ tăng khoảng 0,42ᵒC. Tốc độ tăng trung bình mỗi thập kỷ khoảng 0,1ᵒC như vậy thấp hơn giá trị trung bình toàn cầu là 0,12ᵒC/thập kỷ (10).
Tại các trạm đất liền nhiệt độ trung bình đo được có xu thế cao hơn so với khu vực biển đảo. Sự gia tăng nhiệt độ còn khác nhau giữa các mùa trong năm, nhiệt độ trung bình của mùa đông được ghi nhận tăng cao nhất và thấp nhất vào mùa xuân. Trong 7 vùng khí hậu, khu vực Tây Nguyên có mức tăng nhiệt độ lớn nhất, khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng thấp nhất (10). Giai đoạn 1958-2014, lượng mưa năm ở các khu vực phía Bắc có xu thế giảm (5,8% ~ 12,5%); khu vực phía Nam có xu thế tăng (6,9% ~ 19,8%).
Khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng lớn nhất (19,8%); khu vực đồng bằng Bắc Bộ có mức giảm lớn nhất (12,5%). Ở phía Bắc, lượng mưa giảm rõ nhất vào các tháng mùa thu và tăng nhẹ vào các tháng mùa xuân. Đối với các khu vực phía Nam, lượng mưa các có xu thế tăng; tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông (35,3% ~ 80,5%) và mùa xuân (9,2% ~ 37,6%) (10). Mực nước biển trung bình tại các trạm hải văn của Việt Nam có xu hướng tăng rõ rệt với mức tăng khoảng 2,45mm/năm.
Nếu tính trong thời kỳ 1993-2014, 9 mực nước biển trung bình tại các trạm hải văn đều có xu thế tăng với mức độ tăng trung bình khoảng 3,34mm/năm (10). Tác động của sự thay đổi thời tiết tới sức khỏe con người. Nhiệt độ Các tác động của thời tiết và khí hậu đối với sức khỏe con người rất đa dạng và mức độ khác nhau ở các cá thể cũng như những cộng đồng khác nhau. Một số nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của nhiệt độ cực đoan với sự gia tăng tử vong đáng kể.
Tiêu biểu như sóng nhiệt năm 2003 tại châu Âu được ước tính chịu trách nhiệm cho khoảng 30.000 ca tử vong sớm (3).