Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam nói chung và huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Hoạt động chăn nuôi không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm thiết yếu, phụ phẩm cho công nghiệp chế biến và phân bón cho trồng trọt, mà còn giải quyết sinh kế, tạo thu nhập cho người dân nông thôn. Tuy nhiên, cùng với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa trên đàn lợn thường xuyên xuất hiện và tiến triển âm thầm. Trong đó, bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum gây ra là một trong những bệnh giun sán phổ biến nhất. Dù không trực tiếp gây chết nhanh hàng loạt như các bệnh dịch tả hay tai xanh, giun đũa hấp thu chất dinh dưỡng, làm tổn thương niêm mạc ruột non, gây xuất huyết phổi và hoại tử gan trong giai đoạn ấu trùng di hành, khiến lợn còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng và tăng chi phí chăn nuôi.

Trước yêu cầu thực tiễn của công tác thú y tại địa phương, khóa luận tốt nghiệp ngành Thú y của sinh viên Âu Đức Toàn (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2015) đã thực hiện đề tài nhằm làm sáng tỏ tình hình lưu hành và các yếu tố dịch tễ của bệnh giun đũa lợn tại địa bàn khảo sát, từ đó kiểm nghiệm hiệu lực của các thuốc tẩy giun sẵn có để đề xuất biện pháp can thiệp thích hợp.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:

  1. Xác định sự hiện diện của giun đũa lợn tại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn (theo lứa tuổi, giống lợn, tình trạng vệ sinh thú y, tháng trong năm và phương thức chăn nuôi) cùng mức độ ô nhiễm trứng giun ngoài ngoại cảnh.
  3. Xác định hiệu lực tẩy trừ và độ an toàn của một số loại thuốc tẩy giun đũa lợn trong điều kiện sản xuất tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn ở các lứa tuổi nuôi tại các hộ gia đình và trang trại tập trung; các mẫu phân lợn tươi; mẫu cặn nền chuồng, mẫu đất xung quanh chuồng và mẫu đất tại vườn bãi trồng cây thức ăn cho lợn.
  • Phạm vi không gian: Điều tra và thu thập mẫu thực địa tại 3 xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên gồm: xã Khe Mo, xã Hóa Thượng và xã Linh Sơn. Các phân tích xét nghiệm vi thể được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ ngày 01/01/2015 đến ngày 05/06/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Khóa luận xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên đặc điểm sinh học và dịch tễ học của loài giun đũa lợn Ascaris suum (thuộc họ Ascaridae). Trứng giun đũa sau khi ra môi trường ngoài phát triển thành trứng chứa ấu trùng gây nhiễm sau 2 - 3 tuần ở nhiệt độ thích hợp. Khi lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm qua đường tiêu hóa, ấu trùng nở tại ruột non, chui qua niêm mạc ruột vào tuần hoàn tĩnh mạch màng treo, theo máu về gan, sau đó di chuyển lên phổi (chu trình gan - phổi - ruột). Tại phế bào, ấu trùng lột xác lần 3, di chuyển ngược theo dịch nhầy khí quản lên hầu rồi được nuốt trở lại ruột non để lột xác thành giun trưởng thành. Toàn bộ vòng đời kéo dài 54 - 62 ngày và tuổi thọ giun đũa từ 7 - 10 tháng.

Cơ chế bệnh sinh được phân tích trên 3 tác động chính của ký sinh trùng: tác động cơ giới (làm loét ruột non, tắc ruột, tắc ống mật, tổn thương gan phổi), tác động đầu độc (tiết độc tố gây biến loạn thần kinh, tuần hoàn) và tác động truyền bệnh (mở đường cho vi khuẩn bội nhiễm, làm nặng thêm bệnh suyễn lợn). Về phòng trị bệnh, khóa luận dựa trên học thuyết tiêu diệt tận gốc giun sán của Skrjabin (1963) và các quy trình thú y phòng trừ tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lấy mẫu: Áp dụng phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc tại các nông hộ và trại chăn nuôi.
    • Mẫu phân: Lấy 20 - 30 g phân tươi vừa thải của lợn ở các lứa tuổi, ghi chú rõ các yếu tố dịch tễ kèm theo.
    • Mẫu cặn nền chuồng: Thu thập tại 4 góc và điểm giữa của mỗi ô chuồng, trộn đều thành một mẫu gộp (80 - 100 g).
    • Mẫu đất bề mặt: Thu thập trong bán kính 5 m quanh chuồng nuôi và tại vườn bãi trồng rau thức ăn (80 - 100 g/mẫu gộp cho diện tích 10 - 15 m²).
  • Phương pháp xét nghiệm mẫu:
    • Xác định tỷ lệ nhiễm (%): Áp dụng phương pháp phù nổi Fülleborn sử dụng dung dịch nước muối bão hòa (NaCl), soi tìm trứng giun đũa dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 100 lần.
    • Xác định cường độ nhiễm (EPG - số trứng/gam phân): Sử dụng phương pháp buồng đếm McMaster với công thức tính: $$\text{Số trứng/1g phân} = \frac{\text{Tổng số trứng ở 2 buồng đếm} \times 60}{4}$$
    • Phân loại cường độ nhiễm thành 4 mức: Nhẹ (+) khi $\le 400$ trứng/g; Trung bình (++) khi $> 400 - 700$ trứng/g; Nặng (+++) khi $> 700 - 1000$ trứng/g; Rất nặng (++++) khi $> 1000$ trứng/g phân.
  • Phương pháp theo dõi lâm sàng và mổ khám: Quan sát thể trạng, phân, niêm mạc, hoạt động ăn uống của lợn mắc bệnh; mổ khám kiểm tra đường tiêu hóa, gan, phổi của 15 lợn mắc bệnh giun đũa tự nhiên để đánh giá bệnh tích đại thể và đếm số lượng giun ký sinh.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm thử nghiệm thuốc: Thí nghiệm được thực hiện trên 78 lợn nhiễm giun đũa tự nhiên, chia làm 3 lô thử nghiệm tương ứng với 3 loại thuốc:
    • Lô 1 (25 con): Sử dụng Levamisol dạng tiêm hoặc uống với liều 7,5 mg/kg thể trọng (TT).
    • Lô 2 (27 con): Sử dụng Hanmectin - 25 (chứa Ivermectin) với liều 0,3 mg/kg TT.
    • Lô 3 (26 con): Sử dụng Dextomax (Doramectin ngoại nhập từ Brazil) với liều 0,3 mg/kg TT.
    • Đánh giá hiệu lực sạch trứng qua xét nghiệm lại phân sau 15 ngày dùng thuốc bằng phương pháp Fülleborn.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán các tham số thống kê sinh học (trung bình cộng $\bar{X}$, sai số số trung bình $m_X$, độ lệch chuẩn $S_X$, tỷ lệ %) theo hướng dẫn của Nguyễn Văn Thiện (2002) bằng phần mềm Microsoft Excel 2003.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc phát triển chăn nuôi lợn tại huyện Đồng Hỷ, tác hại của bệnh giun đũa lợn đối với năng suất chăn nuôi nông hộ, xác định 3 mục tiêu cụ thể, yêu cầu chuyên môn cùng ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về Ascaris suum trên thế giới và tại Việt Nam. Tổng quan chi tiết về phân loại học, cấu tạo hình thái giun đực (dài 12 - 22 cm, đuôi cong) và giun cái (dài 29 - 35 cm, đuôi thẳng), vỏ trứng 4 lớp, chu kỳ sinh học gan - phổi - ruột, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng lâm sàng và tổn thương bệnh lý. Khái quát các phương pháp chẩn đoán trứng qua phù nổi, phản ứng miễn dịch dị ứng và các nhóm hóa dược tẩy giun truyền thống lẫn hiện đại (Levamisol, Piperazin, Febendazol, Mebendazol, Ivermectin, Doramectin) cùng các kinh nghiệm dùng thuốc nam (vỏ rễ xoan, hạt cau, lá đu đủ, sử quân tử) và biện pháp ủ phân nhiệt sinh học diệt trứng ký sinh trùng.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết địa điểm, thời gian lấy mẫu thực tế từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015 tại 3 xã của huyện Đồng Hỷ; mô tả tiêu chuẩn chọn mẫu phân tươi, cặn nền chuồng và đất bãi rau; các tiêu chí phân cấp vệ sinh thú y (Tốt, Trung bình, Kém); các công thức toán học và thiết kế bố trí 3 lô thí nghiệm thử thuốc tẩy giun trên 78 cá thể lợn nhiễm bệnh.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu thập được qua 366 mẫu phân lợn, 386 mẫu môi trường và 78 lợn thử nghiệm thuốc. Dữ liệu được chia thành các nội dung dịch tễ học, lâm sàng, bệnh tích và khảo nghiệm dược lực học:

Chỉ tiêu dịch tễ Phân nhóm khảo sát Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhẹ (+) (%) Cường độ TB (++) (%) Cường độ nặng (+++) (%) Cường độ rất nặng (++++) (%)
Theo địa bàn xã Khe Mo 112 11 9,82 90,91 9,09 0,00 0,00
Hóa Thượng 108 23 21,29 82,61 13,04 4,35 0,00
Linh Sơn 146 44 30,13 77,27 11,36 6,82 4,55
Tính chung 366 78 21,31 80,77 11,54 5,13 2,56
Theo lứa tuổi $\le 2$ tháng 85 6 7,06 83,33 16,67 0,00 0,00
$> 2 - 4$ tháng 157 48 30,57 77,08 12,50 6,25 4,17
$> 4 - 6$ tháng 98 21 21,43 85,71 9,52 4,77 0,00
$> 6$ tháng 26 3 11,54 100,00 0,00 0,00 0,00
Theo giống lợn Lợn nội (Móng Cái) 97 15 15,46 73,33 13,33 6,67 6,67
Lợn lai ($F_1$) 212 57 26,89 80,70 12,30 5,30 1,70
Lợn ngoại 57 6 10,53 100,00 0,00 0,00 0,00
Theo VSTY Tốt 168 14 8,33 92,86 7,14 0,00 0,00
Trung bình 132 18 13,64 77,77 11,11 5,56 5,56
Kém 66 46 69,70 78,30 13,00 6,50 2,20
Theo phương thức Công nghiệp 235 24 10,21 91,67 8,33 0,00 0,00
Truyền thống 131 54 41,22 75,93 12,96 7,41 3,70

Về diễn biến theo tháng điều tra trong năm 2015, tỷ lệ nhiễm giun đũa tăng dần từ tháng 1 (12,20%), tháng 2 (14,06%), tháng 3 (19,23%), tháng 4 (24,42%) đến đỉnh điểm vào tháng 5 (28,86%), tương ứng với sự gia tăng nhiệt độ và độ ẩm môi trường thuận lợi cho ấu trùng phát triển.

Về mức độ ô nhiễm trứng giun đũa ở ngoại cảnh: Trong tổng số mẫu kiểm tra, tỷ lệ mẫu dương tính tại cặn nền chuồng là 10,56% (17/161 mẫu), đất bề mặt xung quanh chuồng là 7,32% (9/123 mẫu), và đất bãi trồng rau thức ăn là 3,92% (4/102 mẫu).

Về biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể: Trong 78 lợn nhiễm giun đũa, có 18 con biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt (chiếm 23,16%), chủ yếu tập trung ở nhóm nhiễm nặng và rất nặng với các dấu hiệu còi cọc, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt, ho khan từng cơn và rối loạn tiêu hóa (phân táo lỏng xen kẽ). Kết quả mổ khám 15 lợn nhiễm giun cho thấy số lượng giun ký sinh dao động từ 5 - 12 con/cá thể; bệnh tích đại thể ghi nhận phổi viêm xuất huyết từng đám, niêm mạc ruột non dày lên, tróc loét và bề mặt gan xuất hiện nhiều đốm hoại tử màu trắng ("vết gan đốm sữa").

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Tóm tắt 7 kết luận chính về các chỉ số dịch tễ và dược lý; nêu các hạn chế về thời gian thực tập và phạm vi lấy mẫu; đưa ra 4 khuyến nghị kỹ thuật cụ thể nhằm kiểm soát bệnh giun đũa lợn trong chăn nuôi nông hộ và trang trại.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

Khóa luận đã định lượng cụ thể thực trạng nhiễm bệnh giun đũa lợn tại 3 xã thuộc huyện Đồng Hỷ:

  • Tỷ lệ nhiễm giun đũa chung trên đàn lợn là 21,31% (78/366 con nhiễm), trong đó cường độ nhiễm nhẹ chiếm ưu thế tuyệt đối (80,77%), nhiễm trung bình là 11,54%, nhiễm nặng 5,13% và rất nặng 2,56%.
  • Tỷ lệ nhiễm có sự phân hóa rõ nét theo vùng địa lý: xã Linh Sơn có địa hình trũng thấp, nhiều ao hồ có tỷ lệ nhiễm cao nhất (30,13%), tiếp đến là xã Hóa Thượng (21,29%) và thấp nhất là xã vùng cao Khe Mo (9,82%).
  • Lợn ở lứa tuổi 2 - 4 tháng tuổi nhiễm cao nhất (30,57%), giảm dần ở lứa tuổi 4 - 6 tháng (21,43%) và trên 6 tháng (11,54%), thấp nhất ở lợn dưới 2 tháng tuổi (7,06%).
  • Tình trạng vệ sinh thú y và phương thức chăn nuôi là hai yếu tố quyết định: nuôi truyền thống tận dụng có tỷ lệ nhiễm lên tới 41,22% so với 10,21% ở chăn nuôi công nghiệp; cơ sở vệ sinh kém có tỷ lệ nhiễm lên tới 69,70% so với 8,33% ở cơ sở vệ sinh tốt.
  • Kết quả thử nghiệm hiệu lực thuốc tẩy giun sau 15 ngày:
Tên thuốc Liều lượng Số lợn thí nghiệm (con) EPG trước tẩy ($\bar{X} \pm m_X$) Số lợn sạch trứng (con) EPG sau 15 ngày ($\bar{X} \pm m_X$) Tỷ lệ sạch trứng triệt để (%)
Levamisol 7,5 mg/kg TT 25 $917,50 \pm 32,90$ 24 $123,75 \pm 11,30$ 96,00%
Hanmectin-25 0,3 mg/kg TT 27 $934,60 \pm 30,70$ 25 $115,00 \pm 11,30$ 92,59%
Dextomax 0,3 mg/kg TT 26 $911,70 \pm 28,90$ 26 0 100,00%

Giải pháp và khuyến nghị của tác giả

  1. Lịch trình tẩy giun định kỳ: Tiến hành tẩy giun đũa bắt buộc cho lợn con ở thời điểm trên 2 tháng tuổi (sau cai sữa); tẩy giun cho lợn nái trước khi đẻ 1 - 2 tuần và sau khi tách con; định kỳ tẩy giun cho lợn đực giống và lợn hậu bị.
  2. Quản lý và xử lý phân chuồng: Tuyệt đối không dùng phân tươi hoặc nước rửa chuồng chưa qua xử lý để bón trực tiếp cho các bãi trồng rau làm thức ăn cho lợn. Áp dụng phương pháp ủ phân nhiệt sinh học (ủ nổi hoặc ủ chìm trát bùn 10 cm, phối trộn phân chuồng, lá xanh, vôi bột và tro bếp) nhằm tạo nhiệt độ $55 - 60^\circ\text{C}$ tiêu diệt triệt để trứng và ấu trùng giun đũa, hoặc xây dựng hầm khí sinh học Biogas.
  3. An toàn vệ sinh thức ăn và chuồng trại: Định kỳ tiêu độc khử trùng chuồng nuôi và môi trường xung quanh; rửa sạch rau xanh trước khi cho ăn, chuyển đổi sang phương thức cho ăn chín đối với chăn nuôi nông hộ.

Đóng góp của đề tài

Đề tài cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học cập nhật về bệnh giun đũa lợn tại huyện Đồng Hỷ năm 2015, chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa điều kiện địa hình trũng thấp, khâu vệ sinh kém và tập quán dùng phân tươi với nguy cơ ô nhiễm ký sinh trùng ngoại cảnh. Đồng thời, nghiên cứu xác nhận trên thực địa hiệu lực điều trị của 3 loại thuốc thú y thông dụng, cung cấp căn cứ thực tế để người chăn nuôi lựa chọn giữa dòng thuốc nhập khẩu hiệu lực tuyệt đối (Dextomax) và các thuốc nội địa có giá thành kinh tế, hiệu lực cao (Levamisol, Hanmectin-25).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Thời gian nghiên cứu và thực tập tại cơ sở tương đối ngắn (5 tháng, từ tháng 1 đến đầu tháng 6/2015), chưa bao quát hết chu kỳ biến động dịch tễ của toàn bộ 12 tháng trong năm.
  • Địa bàn khảo sát mới tập trung tại 3 xã đại diện của huyện Đồng Hỷ, chưa mở rộng ra các vùng sinh thái đặc thù khác của huyện.
  • Quy mô mẫu lợn đưa vào thử nghiệm hiệu lực thuốc tẩy giun còn ở mức hạn chế (78 con cho 3 lô), chưa có điều kiện so sánh mở rộng thêm nhiều dạng bào chế và hoạt chất tẩy giun khác trên thị trường.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi điều tra dịch tễ học giun sán đường tiêu hóa trên quy mô toàn huyện Đồng Hỷ và các huyện lân cận thuộc tỉnh Thái Nguyên qua nhiều năm liên tiếp.
  • Nghiên cứu sâu hơn về động học kháng thể và đáp ứng miễn dịch của lợn ở các giai đoạn nhiễm ấu trùng di hành Ascaris suum.
  • Khảo nghiệm hiệu lực phòng trị của các phác đồ kết hợp giữa thuốc tẩy giun hiện đại và các bài thuốc nam sẵn có tại địa phương nhằm giảm chi phí cho người chăn nuôi nông hộ.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Tham khảo phương pháp bố trí điều tra dịch tễ học thực địa; quy trình lấy mẫu chùm nhiều bậc đối với chất thải và đất ngoại cảnh; kỹ thuật xét nghiệm ký sinh trùng bằng phương pháp phù nổi Fülleborn và đếm trứng McMaster.
  • Cán bộ kỹ thuật trạm thú y cấp huyện, xã: Sử dụng các số liệu dịch tễ học (tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi 2 - 4 tháng, theo phương thức chăn nuôi, theo mùa vụ) để xây dựng lịch trình tẩy giun định kỳ và kế hoạch phòng chống ký sinh trùng cho đàn lợn địa phương.
  • Chủ hộ chăn nuôi và trang trại: Ứng dụng quy trình ủ phân nhiệt sinh học diệt trứng giun và cân nhắc lựa chọn thuốc tẩy giun phù hợp với điều kiện kinh tế và quy mô đàn nuôi.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm giun đũa trung bình trên đàn lợn tại huyện Đồng Hỷ trong nghiên cứu là bao nhiêu và phân bố giữa các xã như thế nào? Tỷ lệ nhiễm giun đũa trung bình qua kiểm tra 366 cá thể lợn là 21,31%. Trong đó, xã Linh Sơn có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 30,13% (44/146 con), tiếp theo là xã Hóa Thượng đạt 21,29% (23/108 con) và thấp nhất là xã Khe Mo đạt 9,82% (11/112 con). Sự chênh lệch này gắn liền với đặc điểm địa hình, trong đó khu vực trũng thấp, nhiều ao hồ như Linh Sơn có tỷ lệ nhiễm cao hơn.

2. Lứa tuổi nào của lợn có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất và nguyên nhân do đâu? Lợn ở giai đoạn $> 2 - 4$ tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất, đạt 30,57% (với 4,17% nhiễm rất nặng). Nguyên nhân do giai đoạn này lợn bắt đầu tự lập hoàn toàn về thức ăn nước uống, hoạt động nhiều, nhu cầu dinh dưỡng cao nên tăng nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh; đồng thời kháng thể thụ động từ sữa mẹ đã suy giảm và thời gian đủ để giun đũa hoàn thành vòng đời (54 - 62 ngày) để đẻ trứng.

3. Mức độ ô nhiễm trứng giun đũa ngoài môi trường chuồng trại được ghi nhận như thế nào? Khóa luận phát hiện trứng giun đũa xuất hiện ở cả ba vị trí ngoại cảnh khảo sát: cặn nền chuồng nuôi có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 10,56% (17/161 mẫu dương tính), tiếp đến là đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi trong bán kính 5 m đạt 7,32% (9/123 mẫu), và đất bề mặt tại các vườn bãi trồng rau làm thức ăn cho lợn đạt 3,92% (4/102 mẫu).

4. Hiệu lực tẩy giun của 3 loại thuốc thử nghiệm trong khóa luận đạt kết quả ra sao? Sau 15 ngày sử dụng:

  • Dextomax (0,3 mg/kg TT) đạt hiệu lực sạch trứng triệt để 100% (26/26 lợn sạch trứng, EPG về 0).
  • Levamisol (7,5 mg/kg TT) đạt tỷ lệ sạch trứng 96,00% (24/25 lợn sạch trứng, 1 lợn còn trứng nhưng EPG giảm mạnh từ $917,50$ xuống $123,75$).
  • Hanmectin-25 (0,3 mg/kg TT) đạt tỷ lệ sạch trứng 92,59% (25/27 lợn sạch trứng, EPG giảm từ $934,60$ xuống $115,00$). Cả 3 loại thuốc đều an toàn, không gây phản ứng phụ bất thường trên lợn thí nghiệm.

5. Bệnh tích đại thể điển hình ghi nhận được khi mổ khám lợn nhiễm giun đũa là gì? Mổ khám 15 lợn nhiễm bệnh tự nhiên (mang trung bình 5 - 12 giun/con) ghi nhận các tổn thương đại thể đặc trưng gồm: phổi bị viêm và xuất huyết bề mặt từng đám do ấu trùng di hành; lòng ruột non chứa nhiều giun, niêm mạc ruột bị tổn thương tăng sinh dày lên hoặc viêm tróc cata; bề mặt gan xuất hiện các điểm hoại tử màu trắng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Âu Đức Toàn đã phản ánh toàn diện bức tranh dịch tễ học bệnh giun đũa lợn (Ascaris suum) tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm chung là 21,31%, tập trung cao nhất ở lợn 2 - 4 tháng tuổi và các nông hộ chăn nuôi truyền thống có điều kiện vệ sinh kém. Đề tài đã kiểm chứng thực nghiệm hiệu lực tẩy sạch trứng đạt từ 92,59% đến 100% của 3 chế phẩm Dextomax, Levamisol và Hanmectin-25. Các phát hiện dịch tễ và đề xuất kỹ thuật về ủ phân nhiệt sinh học, vệ sinh thú y và định kỳ tẩy giun trong công trình mang giá trị ứng dụng thực tiễn rõ nét cho công tác thú y cơ sở và chăn nuôi lợn an toàn sinh học.