Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc điểm sinh học của giun tròn Trichocephalus suis ở lợn 1. Vị trí của giun tròn Trichocephalus suis trong hệ thống phân loại động vật học Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22], Phan Thế Việt và cs (1977) [40], vị trí của giun Trichocephalus suis (T.
suis) trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933 Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928 Họ Trichocephalidae Baird, 1953 Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788 1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T. suis Theo Skrjabini K. (1979) [44], con đực có chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm.
Chiều dài của phần trước trung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm). Tỷ lệ chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68 : 1. Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ. Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân.
Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; phần chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm. n 4 Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc xích. Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi. Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân.
Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn. Chiều dài gai nói chung xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm. Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm.
Có bao gai bọc chung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ. Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56. Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm.
Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên về kích thước: chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm. Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân. Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; rộng là 0,290 - 0,352 mm. Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm.
Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm). Như vậy, tỷ lệ giữa phần trước và phần sau là 2,04 : 1. Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ. Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm).
Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µm). Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng. Đuôi con cái tù. Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm.
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22], con đực dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau n 5 dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo. Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn. Bao gai phủ đầy gai nhỏ.
Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi. Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm. Ống sinh dục đơn. Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng.
Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm. Phan Địch Lân và cs (2005) [20] cho biết: Giun đực dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm, được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ. Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của giun. Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng.
Hậu môn ở đoạn cuối cùng, âm hộ ở đoạn cuối thực quản. suis hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm. Hai cực có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp.1: Giun Trichocephalus suis a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực (Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005) [20] 1. Vòng đời của giun T.
(1979) [44] cho biết: vòng đời của giun T. suis không cần vật chủ trung gian. Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại cảnh. Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm n 6 nhiễm từ 3 đến 4 tuần.
Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng.2: Sơ đồ vòng đời giun T. suis Trịnh Văn Thịnh và cs (1985) [36], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4] cho rằng, tuổi thọ của giun T. suis ở lợn từ 4 - 5 tháng. Chu kỳ sinh học của giun T.
suis gồm 2 giai đoạn: một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, ấu trùng cảm nhiễm phát triển thành giun trưởng thành. Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ. Phạm Văn Khuê và cs (1996) [10] cho biết: Thời gian hoàn thành vòng đời của giun T. suis là 30 ngày.
Theo Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) [6], giun T. suis sống được trong cơ thể lợn 114 ngày. và cs (2000) [42] cho biết: Những ấu trùng của giun T. suis nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành trong khi bám vào niêm mạc ruột già.
n 7 Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [20], giun T. suis cái đẻ trứng trong ruột già ký chủ, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm. Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19] cho biết: Điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của trứng giun T. suis thành trứng cảm nhiễm ở ngoài môi trường là nhiệt độ từ 18 - 300C, ẩm độ 80 - 85 %; trứng giun T.
suis phát triển thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày. suis cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ. Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm. Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá của ký chủ, ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành.
Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tuỳ loài giun Trichocephalus, nhưng đối với T. suis cần 30 ngày (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2012 [16]). Sự phát triển, sức đề kháng của trứng giun T. suis lợn ở ngoại cảnh Theo Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [27], ở ẩm độ tối đa (gần 100 %) nếu ở nhiệt độ 22oC thì trứng phát triển được đến giai đoạn ấu trùng.
Nhưng cũng điều kiện ẩm độ như trên mà ở 30oC thì trứng sẽ chết sau 1 tháng. Đỗ Dương Thái và cs (1975) [29] cho rằng, trứng giun T. suis bị hủy hoại nếu ẩm độ dưới 30 % kéo dài. Mặt khác, trứng giun T.
suis có thể bị diệt bởi những tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời. Trong cùng một thời gian dưới tác dụng của tia tử ngoại thì trứng đã phát triển thành ấu trùng bị diệt nhanh hơn trứng non. Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22], trứng giun T. suis bị diệt dưới tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học.
Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng lên tới 45oC sẽ làm hủy trứng giun T. Tuy nhiên, trứng non có khả năng chịu đựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng ở giai đoạn ấu trùng. n 8 Ở điều kiện ngoại cảnh trứng giun T. suis phát triển thuận lợi nhất ở nhiệt độ từ 18 - 30oC, ẩm độ 80 - 85 % và bị diệt trong các chất sát trùng như: dung dịch NaOH 2 %, Cresyl 3 %, nước vôi 10 % (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [19]).
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: trứng giun T. suis có vỏ dày nên có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh. suis có thể tồn tại rất lâu (vài năm) trong đất. Sự phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ: ở 30oC cần 17 ngày, ở nhiệt độ thấp hơn, thời gian này kéo dài hơn.
Ở 10oC trứng ngừng phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống. Nhiệt độ từ 45oC trở lên diệt được trứng giun T. Đặc điểm dịch tễ học * Động vật mắc bệnh Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [40], lợn nhà và lợn rừng đều có khả năng nhiễm giun T. Nghiên cứu của Nguyễn Phước Tương (2002) [39] cho biết: Người nuốt phải trứng giun T.
suis lẫn trong nước hay trong thức ăn thực vật chưa nấu chín, sau khi vào ruột ấu trùng phát triển thành giun T. suis trưởng thành khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người. Theo Bùi Quý Huy (2006) [7], giun T. suis ở lợn và Trichuris trichiura ở người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng nguyên.
Do đó, bệnh giun T. suis ở lợn dễ lây sang người. * Tuổi mắc bệnh Bùi Lập (1967) đã mổ khám và xét nghiệm mẫu phân lợn ở các vùng khác nhau đưa ra nhận xét, tỷ lệ nhiễm T. Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi (51,7 - 75 %).
n 9 Bùi Lập, Nguyễn Đăng Khải (1979) [21]: Mổ khám 782 lợn vùng Trung Trung Bộ thấy tỷ lệ nhiễm T. suis ở vùng đồng bằng Trung Trung Bộ là 15,78 %; vùng núi Trung Trung Bộ là 34,78 % và Tây Nguyên là 48,95 %. Trong đó, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở lứa tuổi 2 - 4 tháng, sau đó giảm dần. Phạm Văn Khuê (1982) [9] nghiên cứu biến động nhiễm giun sán theo tuổi lợn tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long.