ĐẶT VẤN ĐỀ Nghề chăn nuôi lợn đã trở nên phổ biến và phát triển mạnh mẽ ở nước ta với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau, từ các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ đến các trang trại chăn nuôi lớn. Sản phẩm từ con lợn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho con người, không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà còn in đậm trong đời sống xã hội bởi một nền văn hóa ẩm thực với cả yếu tố tâm linh, nó được sử dụng nhiều trong những ngày giỗ, ngày tết và lễ hội. Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề khác và đóng góp một phần rất lớn cho nền kinh tế quốc dân. Việt Nam là một nước nằm trong vùng Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978), bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn. Song, bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mạn tính, làm lợn sinh trưởng, phát triển chậm, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng. Nguy hiểm hơn, ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, vi rút xâm nhập gây bệnh. Ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có số đông dân số làm nông nghiệp, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu vật nuôi.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ n 2 thống về biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn nuôi lợn, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus spp. - Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun Trichocephalus spp. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh và quy trình phòng chống bệnh giun Trichocephalus spp.
cho lợn, có một số đóng góp mới cho khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp. cho lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2. Đặc điểm sinh học của giun T. Vị trí của giun T. suis trong hệ thống phân loại động vật học Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] vị trí của giun tròn Trichocephalus suis (T.
suis) trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933 Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928 Họ Trichocephalidae Baird, 1953 Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788 2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T. suis lợn Theo Đỗ Dương Thái và cs (1975) [24], màu sắc trứng giun T. suis là một màu ổn định, thay đổi ít từ màu vàng nhạt đến màu vàng sẫm.
Hình dạng trứng giun T. suis không bất thường đáng kể nhưng chiều ngang của trứng có thể thay đổi chút ít, có những chiều ngang rộng hẹp khác nhau. suis có chu kỳ phát triển chậm, vì vậy hình dạng nhân bên trong ít có những thay đổi. Nhân bên trong thường thành một khối chưa phân chia.
suis có hình thái cấu tạo như sau: Con đực có chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm. Chiều dài của phần trước trung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm); n 4 phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm). Tỷ lệ chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68 : 1. Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ.
Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữ phần mỏng và dày của thân. Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm. Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân dạng móc xích. Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi.
Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân. Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn. Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm.
Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm. Có bao gai bọc xung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ. Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56.
Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm. Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm. Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân. Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; chiều rộng là 0,290 - 0,352 mm.
Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm. Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm). Như vậy tỷ lệ giữa phần trước và phần sau là 2,04 : 1. Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ.
Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,61 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm). Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µ m). Ngay trước âm n 5 hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng. Đuôi con cái tù.
Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm. Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], con đực dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo. Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn.
Bao gai phủ đầy gai nhỏ. Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi. Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm. Ống sinh dục đơn.
Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng. Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm. Trứng của giun T. suis có hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm.
Hai cực có hai nút trong, vỏ dày gồm 2 lớp.1: Giun Trichocephalus suis a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực (Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005) [19] Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18]: Giun T. suis có màu trắng đục. Thân chia ra làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, trông giống như sợi tóc; phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực n 6 đuôi hơi tù, cuộn tròn lại, có một gai giao hợp dài 1,70 - 2 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài phần cuối của giun.
Giun cái đuôi thẳng, hậu môn ở đoạn cuối của thân. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: Hình thể của giun T. suis giống như một sợi tóc màu trắng. Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt.
Phần trước nhỏ như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể. Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực dài 20 - 52 mm đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm, gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ. Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản.
Vòng đời của giun T. suis Vòng đời phát triển của giun T. suis diễn ra theo sơ đồ sau: Trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt Hình 2.2: Sơ đồ vòng đời của giun T. suis ở lợn Thời gian hoàn thành vòng đời của giun T.
suis là 30 - 52 ngày. (1979) [35] cho biết: Vòng đời của giun T. suis không cần vật chủ trung gian. Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi n 7 trường ngoại cảnh.
Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm nhiễm từ 3 đến 4 tuần. Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng. Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [30], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5], tuổi thọ của giun T. suis ở lợn từ 4 - 5 tháng.
Chu kỳ sinh học của giun T. suis gồm hai giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, trứng cảm nhiễm phát triển thành giun trưởng thành. Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ. Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [7], giun T.
suis sống được trong cơ thể lợn 114 ngày. và cs (2000) [34] cho biết: Những ấu trùng này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành trong khi bám vào niêm mạc ruột già.