Đặt vấn đề Bệnh sán dây là một bệnh rất phổ biến ở đàn chó nước ta. Ấu trùng một số loài sán dây ký sinh và gây bệnh ở người và một số loài gia súc khác, gây nhiều thiệt hại cho ngành chăn nuôi cũng như sức khoẻ con người. Một trong những ấu trùng đó là ấu trùng Cysticercus tenuicollis. Đây là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena, ký sinh và gây bệnh ở lợn, dê, cừu, trâu, bò, thỏ, ngựa.
kể cả con người. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [9] cho biết: ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng của vật chủ và gây bệnh. Ấu trùng là những bọc nước có kích thước to, nhỏ không đều nhau bám ở bề mặt màng treo ruột, lách, gan, thận, phổi. Vì thế, trong quá trình giết mổ, có thể nhầm lẫn ấu trùng với các bọc nước bình thường, từ đó không có biện pháp phòng tránh nên làm tăng nguy cơ nhiễm sán dây ở chó Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) [10], bệnh phân bố ở khắp các vùng, đặc biệt là những nơi nuôi nhiều chó và giết mổ gia súc bừa bãi, không kiểm soát vệ sinh chặt chẽ.
Tỷ lệ nhiễm bệnh tăng dần theo tuổi do thời gian và cơ hội tiếp xúc với mầm bệnh tăng dần. Khi bị nhiễm ấu trùng, vật chủ có một số triệu chứng như gầy yếu dần, đau bụng, bụng căng to, ấn vào vùng bụng con vật có cảm giác bị đau, nếu nhiễm nặng có thể hoàng đản da và niêm mạc. Vật chủ có thể chết do thiếu máu, nội quan bị huỷ hoại hoặc do các bệnh kế phát. Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng.
Ngoài ra, việc chẩn đoán bệnh đối với con vật còn sống rất khó khăn do đặc điểm dịch tễ và triệu chứng e 2 bệnh không điển hình. Đặc biệt, không thể tìm ấu trùng bằng cách xét nghiệm phân do ấu trùng ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng. Trong những năm gần đây, chó vẫn được nuôi phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, chó thường được nuôi theo phương thức thả rông, nếu chó bị nhiễm sán dây thì rất dễ phát tán đốt và trứng sán dây, làm cho người và các vật nuôi khác dễ nhiễm và mắc bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis.
Đặc biệt, việc đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y trong giết mổ chó cũng như các loài gia súc khác tại tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng chó thải phân bừa bãi còn phổ biến khiến nguy cơ lây nhiễm bệnh ấu trùng sán dây trên vật nuôi và người là khá cao, đồng thời thực trạng giết mổ trâu, bò, lợn, dê như hiện nay khiến nguy cơ chó nhiễm sán dây cũng tăng lên. Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loài vật nuôi chính, để từ đó xây dựng quy trình phòng chống thích hợp là hết sức cần thiết. Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó, mà còn góp phần phòng chống bệnh ấu trùng sán dây cho người và một số loài vật nuôi khác, đặc biệt là lợn, là loại vật nuôi có số lượng lớn trong ngành chăn nuôi và thường được nuôi rất gần với chó nên càng dễ nhiễm bệnh ấu trùng sán dây hơn so với các loài gia súc khác. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống".
Mục đích của đề tài Xác định được cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra trên lợn tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên; về biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả; có một số đóng góp mới cho khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra trên lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn.
e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis Ấu trùng Cysticercus tenuicollis là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena. Sán dây trưởng thành ký sinh ở ruột chó, cáo, chó sói; ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở bề mặt các khí quan trong xoang bụng nhiều loài gia súc và người.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước. Có một đầu sán bám vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 - 44 móc. Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, lách, màng treo ruột, màng mỡ chài… của gia súc (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [7]). Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở kí chủ trung gian, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Woinshet Samuel - Girma G.
Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [13], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 - 80 x 8 - 100 mm, chứa dịch bên trong. Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ. Theo Johannes Kaufmann (1996) [27], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài ở khoang bụng của cừu và gia súc. Gia súc nhiễm ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, trừ khi nhiễm một số lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra.
e 5 Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3] cho biết: căn bệnh là ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người. Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra phía ngoài. Ở những vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng.
Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật khác phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành. Lợn nuôi gần với chó dễ nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu, bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 2. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4] cho biết: so với các nhóm giun, sán khác thì sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn chưa được đầy đủ.
Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó. Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước. lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam). Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người.
Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã. Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [5]). e 6 Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [10] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam. Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó, mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1].
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [18], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970) để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam. Trong đó, sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở chó có vị trí như sau: Ngành Plathelminthes Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 e 7 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780. Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940 Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782 Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo. Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea.
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có mẫu. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã mô tả loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937. Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S. (1985) Diphyllobothrium mansoni không là tên đồng vật của một loài nào trong họ này.