Luận án tiến sĩ nghiên cứu bệnh gạo lợn do ấu trùng cysticercus cellulosae gây rataij tỉnh sơn la điện biên và biện pháp phòng chống ts

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu nghiên cứu bệnh gạo lợn do ấu trùng cysticercus cellulosae gây rataij tỉnh sơn la điện biên và biện, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

179
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1. Một số đặc điểm của sán dây Taenia solium và ấu trùng Cysticercus cellulosae

1.1.1.1. Vị trí của sán dây Taenia solium trong hệ thống phân loại động vật
1.1.1.2. Đặc điểm của sán dây Taenia solium
1.1.1.2.1. Đặc điểm chung của sán dây

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh gạo lợn và ấu trùng Cysticercus cellulosae

Bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, ảnh hưởng đến cả động vật và con người. Ấu trùng này là giai đoạn ấu trùng của sán dây Taenia solium, một loại ký sinh trùng phổ biến ở các vùng miền núi như Sơn LaĐiện Biên. Bệnh gạo lợn không chỉ gây thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi mà còn đe dọa sức khỏe cộng đồng do khả năng lây truyền sang người. Nghiên cứu này nhằm xác định đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả.

1.1. Đặc điểm của sán dây Taenia solium và ấu trùng Cysticercus cellulosae

Sán dây Taenia solium là một loại ký sinh trùng có vòng đời phức tạp, bao gồm cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng. Ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh chủ yếu trong cơ thể lợn, gây ra bệnh gạo lợn. Khi lợn nhiễm bệnh, ấu trùng có thể ký sinh ở nhiều cơ quan như cơ, não, mắt, gây ra các triệu chứng như còi cọc, chậm lớn, và trong trường hợp nghiêm trọng, có thể dẫn đến tử vong. Ở người, ấu trùng này có thể gây ra bệnh neurocysticercosis, một bệnh lý nguy hiểm ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương.

1.2. Tình hình dịch tễ bệnh gạo lợn tại Sơn La và Điện Biên

Tại các tỉnh Sơn LaĐiện Biên, bệnh gạo lợn đang là một vấn đề nghiêm trọng do tập quán chăn nuôi thả rông và thói quen ăn uống của người dân. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm Cysticercus cellulosae ở lợn tại các địa phương này khá cao, đặc biệt ở những vùng có điều kiện vệ sinh kém. Việc thiếu kiểm soát trong giết mổ và tiêu thụ thịt lợn cũng góp phần làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh.

II. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và bệnh lý bệnh gạo lợn

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các yếu tố dịch tễ liên quan đến bệnh gạo lợn tại Sơn LaĐiện Biên, bao gồm tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, và các yếu tố nguy cơ như tập quán chăn nuôi và thói quen ăn uống. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm Cysticercus cellulosae ở lợn cao hơn ở những hộ chăn nuôi thả rông so với nuôi nhốt.

2.1. Thực trạng nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn

Kết quả mổ khám lợn tại các huyện thuộc Sơn LaĐiện Biên cho thấy tỷ lệ nhiễm Cysticercus cellulosae dao động từ 1,0% đến 7,2%. Cường độ nhiễm cũng khá cao, với số lượng ấu trùng tìm thấy trong mỗi kg thịt lợn lên đến 50-70 cá thể. Điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của bệnh và sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời.

2.2. Tương quan giữa nhiễm sán dây Taenia solium ở người và bệnh gạo lợn

Nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia solium ở người và tỷ lệ nhiễm Cysticercus cellulosae ở lợn. Những người có thói quen ăn thịt lợn sống hoặc chưa nấu chín có nguy cơ nhiễm sán dây cao hơn, từ đó làm tăng nguy cơ lây truyền bệnh gạo lợn.

III. Biện pháp phòng chống bệnh gạo lợn

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các biện pháp phòng chống bệnh gạo lợn đã được đề xuất, bao gồm cải thiện điều kiện vệ sinh trong chăn nuôi, kiểm soát chặt chẽ quá trình giết mổ, và nâng cao nhận thức của người dân về nguy cơ lây nhiễm. Việc áp dụng các biện pháp này không chỉ giúp giảm tỷ lệ nhiễm bệnh ở lợn mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

3.1. Cải thiện điều kiện chăn nuôi

Một trong những biện pháp quan trọng là thay đổi tập quán chăn nuôi thả rông sang nuôi nhốt, đảm bảo vệ sinh chuồng trại và quản lý chất thải chăn nuôi. Điều này giúp giảm nguy cơ lợn tiếp xúc với nguồn bệnh từ môi trường bên ngoài.

3.2. Kiểm soát giết mổ và tiêu thụ thịt lợn

Việc kiểm soát chặt chẽ quá trình giết mổ và tiêu thụ thịt lợn là yếu tố then chốt trong phòng chống bệnh gạo lợn. Cần khuyến khích người dân chỉ sử dụng thịt lợn đã qua kiểm dịch và nấu chín kỹ để tiêu diệt ấu trùng Cysticercus cellulosae.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu bệnh gạo lợn do ấu trùng cysticercus cellulosae gây rataij tỉnh sơn la điện biên và biện pháp phòng chống ts

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số đặc điểm của sán dây Taenia solium và ấu trùng Cysticercus cellulosae 1. Vị trí của sán dây Taenia solium trong hệ thống phân loại động vật Theo Phan Thế Việt và cs.

(1977) [50], Nguyễn Thị Lê và cs. solium - thường gọi là sán dây lợn - có vị trí trong hệ thống phân loại như sau: Lớp sán dây Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Cestoda Carus, 1863 Bộ Cyclophyllidae Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Taeniata Skrjabin et Schulz, 1973 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeur, 1758 Loài Taenia solium Linnaeur, 1758 1. Đặc điểm của sán dây Taenia solium 1. Đặc điểm chung của sán dây Phan Thế Việt (1977) [50], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [15] cho biết: Sán dây T.

solium có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: cơ thể có hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dẹt theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân. Đầu sán thường có dạng hình cầu, có giác bám dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm.

Cơ quan bám nằm trên đầu là các giác bám và nhiều móc. Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây. Móc bám nằm ngay trên đầu sán dây, sắp xếp thành một hay hai hàng. Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu.

Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ. Thân sán dây gồm nhiều đốt. Các đốt ở phần thân sán dây chia làm 3 loại: đốt chưa thành thục, đốt thành thục và đốt già. Đốt chưa thành thục là những đốt giáp với các đốt cổ, cơ quan sinh dục ở mỗi đốt này chưa phát triển đầy đủ và chỉ có cơ quan sinh dục đực.

Đốt thành thục (ở giữa thân sán) là những đốt có cơ quan sinh dục đã phát triển đầy đủ, có cả cơ quan sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết (mỗi đốt 5 đều có cấu tạo như một cơ thể sán dây độc lập, nhưng không có hệ tiêu hóa). Đốt già (ở cuối thân sán) là những đốt mà các khí quan khác đã teo đi, chỉ còn tử cung chứa đầy trứng sán. Đốt già thường xuyên tách khỏi cơ thể sán dây và theo phân ra ngoài. Đốt sán già có hình 4 cạnh (chiều dài lớn hơn chiều rộng).

Cơ thể sán dây được bao bọc bởi 3 lớp: lớp vỏ, lớp dưới vỏ và lớp cơ, bên dưới lớp cơ là các khí quan nội tạng. Sán dây không có hệ tiêu hóa, sán lấy dinh dưỡng bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể. Theo Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [24], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [16], hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh nằm ở đầu sán, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể.

Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang. Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp của sán dây đã tiêu giảm. Sán dây hô hấp theo kiểu yếm khí. Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết.

Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính. Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục. Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm. Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai.

Lông gai nằm trong nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh. Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong. Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối.

Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vỏ (thể Melis) và tử cung. Sán dây thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sán, ít khi ở phía trước. Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng). Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục.

Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp. Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng. Từ tuyến noãn hoàng, các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc hình thành trứng.

Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng. Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung, tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng. 6 Trứng được rơi ra ngoài bằng các nút thắt cơ thể của đốt. Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ.

Sán dây sinh sản lưỡng tính, sự thụ tinh có thể xảy ra trong cùng một đốt sán (tự thụ tinh) hoặc giữa hai đốt khác nhau trong cùng một con hoặc giữa hai con (thụ tinh chéo). Sán tiêu hóa bằng cách, chất dinh dưỡng đi qua vỏ để thẩm thấu vào thân sán. Dịch tiêu hóa không thể thẩm thấu vào thân sán khi sán còn sống, nhờ đó mà sán không bị tiêu diệt khi sống trong đường tiêu hóa của ký chủ. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây Taenia solium Nhiều tác giả nghiên cứu về sán dây T.

solium đều cho rằng, sán dây có đặc điểm hình thái, cấu tạo như sau: Sán dây dài, dẹp theo hướng lưng - bụng, màu trắng hoặc hơi vàng. Cơ thể bao gồm: đầu, cổ và các đốt. Số lượng các đốt dao động từ vài trăm đốt đến hàng nghìn đốt. Các đốt phía trước là đốt non và bé, càng về sau các đốt càng lớn và già, đốt già nhất ở cuối cơ thể.

Nguyễn Thị Lê và cs. (2000) [25] khi mô tả về hình thái của sán dây đã cho rằng: sán dây T. solium có hình dạng bên ngoài giống sán dây T. saginata (thường gọi là sán dây bò hoặc sán sơ mít), nhưng ngắn hơn.

solium trưởng thành ký sinh ở ruột non của người, dài 2 - 7 mét, tuy nhiên có trường hợp chiều dài lên đến 9 m. Đốt đầu hình cầu, có 4 giác bám, có đỉnh đầu và hai hàng móc đỉnh gồm 22 - 32 móc. Các đốt cổ ngắn và hẹp. Đốt chưa thành thục có chiều dài lớn hơn chiều rộng.

Các đốt càng về sau thân càng lớn, đốt già hình chữ nhật, tử cung phân thành 7 - 12 nhánh (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2006 [20], Chu Thị Thơm và cs. Cổ của sán dây mảnh, nối tiếp với đầu, là nơi sản sinh ra đốt sán. Thân gồm nhiều đốt. Các đốt già cơ quan sinh dục đực tiêu biến chỉ còn thấy tử cung chứa trứng sán.

Một đốt sán có khoảng 55.000 trứng, những đốt già ở cuối thân thường rụng thành từng đoạn ngắn, 5 - 6 đốt dính nhau rồi theo phân ra ngoài và không di động (Nguyễn Mạnh Hùng và cs. Kích thước của sán dây T. solium không thuần nhất, tuy sán đã ký sinh nhiều năm trong cơ thể người (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1976 [34]). Điều đáng chú ý là những người nhiễm nhiều sán dây thì kích thước mỗi con sán dây thường nhỏ, có con chỉ dài chừng 20 cm (Đỗ Dương Thái và cs.

7 Có thể giả thuyết rằng, chế độ ăn uống của bệnh nhân có liên quan đến sự phát triển của đốt sán và chiều dài của sán dây T. Ở những người bệnh có chế độ ăn uống đầy đủ, có nhiều thức ăn giàu protein, đốt sán phát triển nhanh và được thải tương đối đều đặn theo phân. Ngược lại, ở những người ăn thức ăn thiếu protein, đốt sán phát triển chậm và có những thời gian dài đốt sán không rụng theo phân (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1976 [34]). Trước đây, người ta quan niệm người bị bệnh sán dây T.

solium chỉ nhiễm đơn độc một sán dây. Hiện tượng này được giải thích theo nhu cầu dinh dưỡng của sán, nếu số lượng sán quá nhiều, nhu cầu dinh dưỡng sẽ không được giải quyết và chỉ còn sót lại một sán sống. Tuy nhiên, hiện nay vẫn thấy nhiều người có 2 - 5 sán dây ký sinh, cá biệt có người có tới 17 sán dây T. solium trưởng thành ký sinh trên cơ thể (Đỗ Dương Thái và cs., 1974 [33], Lê Bách Quang và cs.

Ở Việt Nam, bệnh sán dây T. solium ở người khá phổ biến, có khoảng 10% bệnh nhân nhiễm từ 2 sán dây trở lên (Lê Bách Quang và cs. Nhiều trường hợp trên một bệnh nhân nhiễm cả sán dây T. solium trưởng thành và ấu trùng của nó.

Tuy nhiên, trên thực tế, bệnh ấu trùng C. cellulosae ở người thường là bệnh thứ phát sau tiền sử có mắc bệnh sán dây trưởng thành T. solium (Nguyễn Văn Đề và cs.1: Đốt trưởng thành T. solium (Nguồn: Prayong Radomyos và cs.

2013) Trứng của sán dây T. solium có hình cầu hoặc hình tròn, màu vàng xám hoặc nâu sẫm. Bên trong là khối có hạt chiết quang nằm trong nhân, đường kính từ 31 - 56 µm, có màu nâu sẫm. Vỏ trứng dày, có 2 lớp và có vạch hướng tâm từ trong ra ngoài, bên trong chứa một phôi 6 móc và không nhìn thấy bằng mắt thường (Phạm Văn Thân, 2009 [36], Phan Anh Tuấn, 2013 [42], Lê Thị Xuân, 2015 [51]).

8 Lớp ngoài của vỏ trứng sán dây T. solium rất mỏng nên khi trứng ra bên ngoài môi trường thì vỡ ngay, lớp vỏ sát phôi 6 móc rất dày, có khía ngang như nan hoa (Lê Bách Quang và cs. solium nằm trong đốt sán nên chỉ khi nào đốt sán bị phân hủy mới giải phóng trứng. Ở môi trường bên ngoài, nhiệt độ trên 70oC mới có khả năng diệt được trứng sán (Lê Bách Quang và cs.

Sau khi đốt sán phân hủy, giải phóng trứng sán thì trứng sán có thể sống 1 tháng ở môi trường bên ngoài. solium không cần thời gian phát triển ở ngoại cảnh. Trứng có sức đề kháng cao với các hóa chất thông thường. Tuy nhiên, trong dung dịch formol và cresyl nồng độ 5%, trứng bị diệt sau 2 giờ (Nguyễn Văn Đề và cs.

Chu kỳ sinh học của sán dây Taenia solium Như đã nói ở trên, sán dây T.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu và biện pháp phòng chống bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae tại Sơn La và Điện Biên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra, cùng với các biện pháp phòng chống hiệu quả. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về nguyên nhân và tác động của bệnh, mà còn đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm bảo vệ sức khỏe vật nuôi và an toàn thực phẩm.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh do ấu trùng khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu đặc điểm do ấu trùng cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn và dê tại tỉnh Thái Nguyên đề xuất biện pháp phòng chống, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về các biện pháp phòng ngừa tương tự. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về dịch tễ học của bệnh này. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về bệnh do ấu trùng ở dê qua tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm của bệnh do ấu trùng cysticercus tenuicollis gây ra ở dê nuôi tại một số địa phương tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các bệnh do ấu trùng gây ra và cách phòng chống hiệu quả.