Đặt vấn đề Nước ta nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới, thảm thực vật rất phong phú và đa dạng, hoa ở quanh năm, đây là điều kiện tốt để phát triển nghề nuôi ong lấy mật. Chính vì vậy nghề nuôi ong đã có từ rất lâu đời, các giống ong được nuôi chủ yếu là giống ong nội (Apis cerana), hiện nay được nuôi nhiều ở các tỉnh Miền Bắc và từ những năm 60 của thế kỷ 20 chúng ta đã nhập thêm giống ong ý (Apis mellifera). Hiện tại giống ong ý chủ yếu được nuôi ở các tỉnh phía Nam. Ong mật còn cung cấp cho con người nhiều sản phẩm quý: Phấn hoa, sữa ong chúa, sáp ong, nọc ong.
Đây là những sản phẩm sinh học rất độc đáo, có giá trị dinh dưỡng cao dùng để bồi bổ sức khỏe cho con người, sử dụng trong y học và nhiều ngành công nghiệp khác. Nuôi ong có nhiều lợi thế vì mọi người ai cũng có thể nuôi được, con ong không đòi hỏi vốn lớn vì chúng tự kiếm được thức ăn và có thể tận dụng được các vật liệu sẵn có để làm thùng ong, đồng thời có thể sử dụng được thời gian và công lao động nhàn rỗi ở mọi gia đình. Ong mật ít bệnh hơn các giống vật nuôi khác, kỹ thuật tạo giống nhân đàn đơn giản và điều quan trọng nữa là ong làm tăng sự đa dạng sinh học của cây trồng và cây rừng, góp phần bảo vệ thiên nhiên, môi trường và còn lợi ích mà ít người nhận thấy được đó là dùng ong để thụ phấn cho cây trồng là một biện pháp thâm canh tăng năng suất đạt hiệu quả cao. Theo tính toán của các chuyên gia thì lợi nhuận do ong thụ phấn cho cây trồng lớn hơn lợi nhuận toàn bộ các sản phẩm ngành ong từ 10 đến 140 lần.
Để đạt được hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi ong thì ngoài những yếu tố thuận lợi ở trên còn có những khó khăn mà nghề nuôi ong thường gặp e 2 như: Thời tiết, khí hậu, nguồn hoa, quy mô đàn, tuổi ong chúa, đặc biệt là sâu bệnh gây thiệt hại lớn nhất là bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ và bệnh thối ấu trùng tuổi lớn. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tỉ lệ nhiễm bệnh thối ấu trùng ở loài ong Apis cerana nuôi tại xã Phúc Hà - TP Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định một số yếu tố ảnh hưởng tỉ lệ nhiễm bệnh thối ấu trùng ở loài ong Apis cerana tại xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên 1. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về một số yếu tố ảnh hưởng tỉ lệ nhiễm bệnh thối ấu trùng ở loài ong Apis cerana và đề xuất biện pháp điều trị. Ý nghĩa trong thực tiễn của đề tài Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo những hộ gia đình nuôi ong tại xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên và các địa phương khác trong việc phòng trị bệnh thối ấu trùng ở loài ong Apis cerana, nhằ m ngăn chă ̣n và giảm thiê ̣t ha ̣i kinh tế cho người nuôi ong. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CƢ́U 2. Cơ sở khoa học và pháp lý đề tài 2.
Giới thiệu về ong nội (Apis cerana) Theo Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999) [2], ong có nguồn gốc từ ngành động vật chân đốt, tên khoa học là Arthropoda, chân đốt có nguồn gốc từ giun đốt (Annelides) xuất phát từ lớp giun nhiều tơ (Polychaeta). Trong lịch sử phát triển của sinh giới thì động vật có hai hướng tiến hoá đó là động vật không xương sống và động vật có xương sống. Trong động vật không có xương sống thì phát triển nhất là ngành chân đốt, trong đó có loài ong. Ong bắt nguồn từ ngành chân đốt, chân đốt bắt nguồn từ lớp giun nhiều tơ.
Quá trình chuyển hoá từ giun nhiều tơ sang ngành chân đốt là một quá trình phức tạp hoá về mặt cấu tạo. Theo Nguyễn Văn Niê ̣m (1991) [10], ong A.cerana đây là các loài ong đã được nuôi hàng nghìn năm ở các nước châu Á. Trong tự nhiên chúng phân bố rất rộng rãi, chính vì phạm vi phân bố rộng như vậy nên ong A.cerana khác nhau nhiều về kích thước cơ thể, lỗ tổ, lượng mật dự trữ và một số đặc tính khác.cerana có đặc tính xây một vài bánh tổ song song với nhau và vuông góc với mặt đất, chúng xây tổ ở những nơi kín đáo như trong hốc cây, hốc đá. Do đặc điểm này mà người dân châu Á nuôi ong trong các hốc tường, đõ, hộp vuông rỗng.
Ở Việt Nam, ong A.cerana cũng đã được người dân nuôi từ hàng nghìn năm nay chủ yếu là nuôi trong các đõ. Đến nay ở nước ta cũng như một số nước trên thế giới đã chuyển loài ong này sang nuôi trong thùng có cầu di động, do đó mà năng suất mật tăng lên đáng kể. Hiện nay Việt Nam có e 4 khoảng 250.000 đàn ong nội. Năng suất mật đạt trung bình khoảng từ 10 - 15 kg/ đàn/năm.
Cấu tạo cơ thể ong mật 2. Hình thái cấu tạo ngoài - Theo Nguyễn Văn Niê ̣m (1991) [10], Cơ thể ong chia làm 3 phần rõ rệt: Đầu, ngực và phần bụng, các phần này được nối với nhau bằng các khớp động. - Có 3 đôi chân và 2 đôi cánh. - Bên ngoài có lớp vỏ kinh gồm nhiều tấm nối với nhau tạo lên bộ xương ngoài.
- Trong một tổ có 3 cấp ong: Ong chúa kích thước lớn nhất, cánh ngắn, bụng dài có màu nâu đen; ong thợ có màu nâu nhạt hoặc vàng, có một khoanh vàng, ong đực có màu đen, cánh dài, bụng ngắn * Phần đầu ong Đầu ong có cấu tạo hình hộp được bao bọc bởi lớp vỏ kitin, đầu được tách biệt với phần ngực. Phía trước hình tam giác có mắt kép to màu đen, đầu được phủ bởi 1 lớp lông mịn, mắt kép ở ong đực lớn, giữa 2 mắt kép là trán, dưới trán gọi là hốc môi, ở giữa trán có 3 mắt đơn đó là 3 chấm đen xếp hình tam giác giữa đôi mắt kép là 1 đôi râu (anten), đây là một cơ quan cảm giác rất nhậy bén, ong dùng râu để phân biệt mùi vị trong - ngoài tổ và xác định dao động sóng trong không gian, râu ong đực có 13 đốt, ong thợ có 12 đốt. Phần phụ miệng của ong xếp xung quanh miệng thích ứng với chức năng nghiền hút. Phần miệng có hàm trên, hàm dưới, môi dưới, 2 tấm môi trong dính lại với nhau kéo dài thành lưỡi, trên lưỡi có nhiều lông tơ có tác dụng liếm các thức ăn lỏng.
Các phần phụ miệng có xu hướng kéo dài thành vòi để luồn sâu vào hoa hút mật, ong thợ có lưỡi dài và nhiều lông hơn lưỡi ong đực và ong chúa. e 5 * Phần ngực Phần ngực của ong gồm 3 đốt: đốt trước, đốt giữa và đốt sau. Ở trên cánh có các gân dọc và gân ngang được phủ một lớp lông mịn, bờ trước của cánh sau có móc để móc vào bờ sau của cánh trước để tạo mặt bằng cho 2 cánh khi bay. Khi ong vỗ cánh thì nó sẽ làm cho mặt bằng này bị thay đổi, khi nghiêng cánh ong tạo ra một lực lớn ở phía sau đẩy ong về phía trước.
Ong càng vỗ cánh nhanh thì độ nghiêng cánh càng lớn, lực càng lớn, ong bay càng nhanh, ong bay được là nhờ một hệ cơ trực tiếp gắn liền với cánh, hệ cơ có tính co giãn để nâng cánh hoặc hạ cánh xuống, cơ càng khoẻ thì ong bay càng nhanh, có thể đạt tốc độ 50 km/giờ. Mỗi đốt ngực có một đôi chân, mỗi chân gồm các đốt: đốt háng, đốt chuyển, đùi, ống, bàn chân, cuối đốt bàn chân có 2 vuốt nhọn và 1 tấm đệm ở giữa. Mỗi một đôi chân có cấu tạo riêng phù hợp với việc thu lượm phấn và mật. * Phần bụng ong Bụng ong mật không có phần phụ, gồm 6 đốt và nối với phần ngực qua đốt chuyển tiếp riêng bụng ong đực có 7 đốt.
Các đốt bụng được nối với nhau bằng các màng kitin mỏng do vậy ong có thể thay đổi được thể tích bụng, ở ong thợ đốt bụng số 2 và 3 có các lỗ thở ở bên cạnh, 4 đốt bụng cuối mỗi đốt có 1 đôi tuyến sáp. Ở giữa đốt bụng 5 và 6 có tuyến Naxonop (Tên nhà bác học Nga tìm ra), tuyến này tiết ra hương vị đặc trưng của mỗi đàn ong. Riêng ở ong chúa, tuyến Naxonop rất phát triển và tiết ra các feromol đặc trưng để điều khiển mọi hoạt động của đàn. Ở phần cuối bụng ong thợ có cơ quan tự vệ là ngòi đốt, ong đực không có ngòi.
Đây là bộ phận rất phức tạp, bộ phận chính là kim dẫn thông với tuyến độc trong xoang bụng, khi ong thợ đốt ngòi thường bị đứt ra khỏi bụng và ong thợ sẽ bị chết. Việc ong thợ đốt có ý nghĩa sinh học là: Bảo vệ tổ và làm cho đối thủ đau do vẫn có các hạch thần kinh dù ngòi đã bị đứt ra khỏi cơ thể, bên cạnh đó chúng tiết ra feromol báo động các ong thợ khác cùng tấn công kẻ thù. Cấu tạo trong * Hệ tiêu hoá Theo Phùng Hữu Chính (1994) [3] ong mật thuộc vào các côn trùng dinh dưỡng chuyên hoá, cơ quan tiêu hoá của ong còn là nơi dự trữ tạm thời mật hoa khi thu nhận và vận chuyển về tổ. Cơ quan tiêu hoá bao gồm: Miệng, hầu, thực quản, diều, ruột trước và ruột sau.
Tuyến tiêu hoá gồm có 4 đôi: - Đôi tuyến tiết sữa. - Đôi tuyến tiết chất làm ướt lưỡi. - Đôi tuyến tiết men tiêu hoá. - Đôi tuyến tiết chất luyện mật.
Phần diều mật có dạng hình quả lê, là nơi dự trữ mật, có tính co giãn, diều có thể chứa được 0,7 gam mật. Ruột là bộ phận rất quan trọng, mọi quá trình tiêu hoá và hấp thu chất dinh dưỡng đều diễn ra ở đây. Thức ăn được đưa vào cơ thể qua miệng, quá trình tiêu hoá hấp thu xảy ra ở ruột, các chất cặn bã được tập trung ở phần ruột sau và được thải ra ngoài qua hậu môn. * Cơ quan hô hấp Cơ quan hô hấp của ong gồm các lỗ thở, hệ thống ống khí phân nhiều nhánh, các túi khí và hệ thống mao quản trao đổi khí với các tế bào, các mô trong cơ thể.
Các lỗ thở nằm hai bên cơ thể, có 3 đôi lỗ thở nằm ở phần ngực và 6 đôi lỗ thở nằm ở phần bụng.