Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nghề nuôi ong lấy mật tại Việt Nam có lịch sử lâu đời, được hỗ trợ bởi điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa và thảm thực vật phong phú cho hoa nở quanh năm. Giống ong được nuôi phổ biến tại các tỉnh miền Bắc là giống ong nội địa (Apis cerana), với tổng quy mô ước tính trên phạm vi cả nước đạt khoảng 250.000 đàn và năng suất mật trung bình từ 10 đến 15 kg/đàn/năm. Bên cạnh việc cung cấp các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và y học như mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, sáp ong và nọc ong, đàn ong mật còn giữ vai trò sinh thái quan trọng trong việc thụ phấn cho cây trồng nông nghiệp và thực vật rừng. Theo các tài liệu chuyên ngành được tác giả trích dẫn, giá trị kinh tế gián tiếp thu được từ việc ong thụ phấn làm tăng năng suất cây trồng lớn gấp 10 đến 140 lần tổng giá trị của toàn bộ các sản phẩm khai thác từ ngành ong.
Tuy nhiên, nghề nuôi ong tại địa phương thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn liên quan đến biến động thời tiết, khí hậu, sự khan hiếm nguồn hoa theo mùa, kỹ thuật duy trì quy mô đàn, tuổi thọ của ong chúa và áp lực dịch bệnh. Trong số các bệnh truyền nhiễm gây hại nặng nề nhất cho loài Apis cerana, bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ (thối ấu trùng châu Âu) và bệnh thối ấu trùng tuổi lớn (bệnh ấu trùng túi/Sacbrood) là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm năng suất mật từ 20% đến 80%, làm suy kiệt thế đàn hoặc kích thích hiện tượng ong bốc bay hàng loạt. Xuất phát từ thực tế sản xuất và yêu cầu kiểm soát dịch bệnh bảo vệ đàn ong, tác giả Đỗ Thị Tuyến đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tỉ lệ nhiễm bệnh thối ấu trùng ở loài ong Apis cerana nuôi tại xã Phúc Hà - TP Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Đánh giá thực trạng nhiễm bệnh thối ấu trùng trên các đàn ong nội (Apis cerana) nuôi tại xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên.
- Xác định ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc đến tỷ lệ nhiễm bệnh, bao gồm: điều kiện thời tiết - khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm); nguồn mật - phấn hoa dự trữ; quy mô đàn (số lượng cầu ong); độ tuổi của ong chúa; và điều kiện vệ sinh thùng nuôi.
- Thử nghiệm và so sánh hiệu quả của hai phác đồ điều trị bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ (biện pháp sinh học và biện pháp dùng kháng sinh kết hợp).
Đối tượng nghiên cứu là các đàn ong mật giống nội (Apis cerana) được quản lý trong vụ Hè - Thu và Thu - Đông. Phạm vi không gian của đề tài giới hạn tại 11 xóm thuộc địa bàn xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên. Phạm vi thời gian theo dõi thực địa được tiến hành liên tục từ ngày 25 tháng 5 năm 2015 đến ngày 25 tháng 11 năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý luận, đề tài tổng hợp các đặc tính sinh học, phân loại học và hình thái giải phẫu của loài ong nội Apis cerana (thuộc ngành Arthropoda). Khóa luận mô tả chi tiết cấu tạo các phần cơ thể (đầu, ngực, bụng), cấu trúc các tuyến chức năng (tuyến sáp ở 4 đốt bụng cuối của ong thợ, tuyến Naxonop tiết feromol định danh đàn, cơ quan ngòi đốt có hạch thần kinh độc lập), các hệ cơ quan nội tạng (tiêu hóa, tuần hoàn hở với tim 5 ngăn đập 60-70 lần/phút khi nghỉ và 140 lần/phút khi bay, hệ thống khí quản trao đổi khí, hệ thần kinh và cơ quan sinh dục của 3 cấp ong: chúa, thợ, đực). Đề tài cũng hệ thống hóa các thông số kỹ thuật bánh tổ: "khoảng cách con ong" là 7,5 mm, khoảng cách tâm hai bánh tổ liền kề là 32 mm ở miền Bắc, đường kính lỗ tổ ong thợ từ 4,2 đến 4,8 mm, lỗ ong đực từ 5,1 đến 5,4 mm và mũ chúa từ 7,2 đến 8,0 mm. Cơ chế thông tin tìm kiếm nguồn thức ăn thông qua ngôn ngữ điệu múa của ong trinh sát (múa vòng tròn khi nguồn hoa dưới 7 m, múa lưỡi liềm khi trên 8 m, múa hình số 8 lắc lư khi cách tổ trên 50 m) được trình bày làm cơ sở phân tích tập tính kiếm ăn và lây lan dịch bệnh.
Về bệnh học ong, tác giả tập trung vào hai bệnh truyền nhiễm:
- Bệnh thối ấu trùng châu Âu (thối ấu trùng tuổi nhỏ/mở nắp): Tác nhân chính là liên cầu khuẩn Gram dương Melissococcus pluton (kích thước 0,7 - 1,5 µm), cùng các vi khuẩn bội nhiễm thứ phát như Bacillus alvei, Streptococcus. Bệnh làm chết ấu trùng ở giai đoạn 3 - 4 ngày tuổi, xác chết đổi màu từ trắng bệch sang vàng nhạt, nâu đậm rồi thối rữa dạng dấm chua hoặc khô thành vảy ở đáy lỗ tổ.
- Bệnh thối ấu trùng túi (Sacbrood/nhọn đầu): Tác nhân do vi rút Thai Sacbrood gây ra trên ấu trùng tuổi lớn và nhộng mới vít nắp, làm cơ thể ấu trùng tích dịch lỏng tạo thành túi nước không mùi, đầu nhọn nhô cao khỏi mặt lỗ tổ. Do tác nhân là vi rút nên các loại kháng sinh hoàn toàn không có hiệu lực điều trị.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra dịch tễ học được triển khai như sau:
- Phương pháp kiểm tra đàn ong: Kiểm tra bên ngoài định kỳ 3 lần/ngày (sáng, trưa, tối) nhằm phát hiện dấu hiệu ong làm việc thưa thớt, xác chết trước cửa tổ hoặc hiện tượng ong cướp mật; kiểm tra bên trong gồm kiểm tra điểm nhanh (thăm dò phát hiện sớm) và kiểm tra toàn bộ định kỳ 1 tháng/lần vào thời điểm chuyển vụ, thực hiện cầm cầu thẳng đứng ngang tầm mắt để đánh giá trạng thái ấu trùng, trứng, nhộng và lượng thức ăn.
- Phương pháp đánh giá mức độ nhiễm bệnh: Đếm trực tiếp số lượng ấu trùng chết trên từng bánh tổ để phân cấp cường độ nhiễm:
- Nhiễm nhẹ (+): có từ 1 đến 3 ấu trùng chết/bánh tổ.
- Nhiễm trung bình (++): có từ 4 đến 15 ấu trùng chết/bánh tổ.
- Nhiễm nặng (+++): có từ 16 ấu trùng chết trở lên/bánh tổ.
- Thiết kế theo dõi các yếu tố ảnh hưởng: Sử dụng mẫu điều tra gồm 150 đàn ong có thế đàn và chế độ nuôi dưỡng đồng đều nhau tại xã Phúc Hà, chia thành các lô tương ứng:
- Theo dõi thời tiết: Đánh số 150 đàn, theo dõi định kỳ từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2015 gắn với các chỉ tiêu nhiệt độ (°C), lượng mưa (mm) và ẩm độ không khí (%).
- Theo dõi nguồn mật - phấn dự trữ: Kiểm tra lượng thức ăn 5 ngày/lần (tương ứng chu kỳ phát triển 5 ngày của ấu trùng ong thợ) từ tháng 6 đến tháng 10.
- Theo dõi quy mô đàn: Chia 150 đàn thành 3 lô (50 đàn/lô) theo số lượng cầu ong (3 cầu, 4 cầu, 6 cầu), theo dõi từ tháng 6 đến tháng 8.
- Theo dõi tuổi ong chúa: Chia 150 đàn thành 3 lô (50 đàn/lô) theo các nhóm tuổi (≤ 6 tháng, 6 - 12 tháng, > 12 tháng), theo dõi từ tháng 6 đến tháng 8.
- Theo dõi tình trạng vệ sinh: Chia 150 đàn thành 3 lô (50 đàn/lô) theo điều kiện chăm sóc và vệ sinh thùng nuôi (Tốt, Trung bình, Kém), theo dõi trong tháng 7 và tháng 8.
- Phương pháp thử nghiệm điều trị: Thực hiện trên 7 đàn ong nhiễm bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ, so sánh 2 quy trình:
- Phương pháp sinh học: Nhốt chúa cách ly từ 7 đến 10 ngày để cắt đứt lứa tuổi ấu trùng mẫn cảm, sau đó thả cho đẻ 3 ngày rồi tiếp tục nhốt chúa 5 ngày; kết hợp cho ăn xi-rô đường (tỷ lệ 1 kg đường : 1 lít nước sôi để nguội, định mức 100 ml/cầu/tối) và rút bớt cầu bệnh.
- Phương pháp tổng hợp (dùng kháng sinh): Sử dụng hỗn hợp 1 gam Streptomycin kết hợp 1 triệu đơn vị Penicillin hòa tan trong 3 lít xi-rô đường, cho ăn với liều lượng tương ứng 30 cầu ong/tối, cho ăn liên tục trong 3 tối; kết hợp rút bớt cầu bệnh.
- Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng phương pháp thống kê sinh vật học trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện (2000), xác định tỷ lệ phần trăm nhiễm bệnh và so sánh sai khác thống kê ở mức ý nghĩa $P < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của nghề nuôi ong nội Apis cerana trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp miền Bắc, phân tích mối liên hệ tương hỗ giữa nguồn hoa tự nhiên và năng suất đàn ong, chỉ ra thực trạng thiệt hại do hội chứng thối ấu trùng gây nên đối với kinh tế hộ gia đình tại địa phương. Chương này công bố rõ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu tại xã Phúc Hà, đồng thời khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu dịch tễ thú y học và ý nghĩa thực tiễn cung cấp quy trình phòng trị cho các trại ong.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Chương tổng quan cung cấp cơ sở sinh học toàn diện về loài Apis cerana, phân tích đặc điểm hình thái, cấu tạo các hệ cơ quan nội tạng và chức năng chuyên hóa của từng đẳng cấp trong đàn (ong chúa, ong thợ, ong đực). Tác giả làm rõ vai trò của hệ thống feromol chúa trong việc kiểm soát hành vi thợ và ức chế buồng trứng ong thợ, cấu trúc bánh tổ và tập tính tích trữ mật - phấn. Chương này cũng tổng hợp danh mục và lịch nở hoa vụ Xuân - Hè của 9 loài cây nguồn mật - phấn chính tại xã Phúc Hà (dâu da xoan, dưa chuột, gioi, keo tai tượng, ngô, nhãn, vải nhỡ, vải thiều, lúa). Về bệnh học, tác giả phân tích sâu về đặc điểm vi khuẩn học của Melissococcus pluton, vi rút Thai Sacbrood, triệu chứng bệnh lý và cơ chế lây nhiễm. Cuối chương là phần lược khảo tài liệu nghiên cứu trong nước (Phùng Hữu Chính, Nguyễn Duy Hoan, Ngô Đắc Thắng, Nguyễn Khánh Quắc) và nghiên cứu quốc tế (Crane, Zhou Bingfeng, Hepburn, Zeng Zhi) về dịch tễ bệnh thối ấu trùng và hội chứng sụp đổ bầy đàn (Colony Collapse Disorder - CCD).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết địa bàn nghiên cứu tại 11 xóm của xã Phúc Hà, TP. Thái Nguyên cùng khung thời gian 6 tháng thực hiện (25/5/2015 – 25/11/2015). Tác giả quy định nghiêm ngặt quy trình kiểm tra đàn ong (thao tác mở nắp, tách ván ngăn, giữ cầu thẳng đứng, ghi chép sổ nhật ký theo dõi 10 tiêu chí). Chương này thiết lập tiêu chuẩn phân hạng mức độ nhiễm bệnh (+, ++, +++), quy chuẩn thiết kế thí nghiệm theo dõi 150 đàn ong theo 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng, quy trình pha chế kháng sinh (Streptomycin, Penicillin, Kanamycin) và công thức toán học tính toán tỷ lệ nhiễm theo phương pháp thống kê sinh học.
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Tác giả phân tích số liệu điều tra dịch tễ trên 150 đàn ong nuôi tại xã Phúc Hà, chỉ ra tỷ lệ nhiễm thối ấu trùng châu Âu là 4,66% (7 đàn), hoàn toàn không ghi nhận bệnh thối ấu trùng túi. Chương này lần lượt mổ xẻ tác động của 5 nhóm nhân tố: biến động nhiệt độ - lượng mưa - ẩm độ qua các tháng (đặc biệt là tác động của hiện tượng El Nino gây mưa ngâu kéo dài trong tháng 7 và 8); mức độ dồi dào của nguồn mật phấn dự trữ; tương quan nghịch giữa số lượng cầu ong và tỷ lệ mắc bệnh; vai trò kiểm soát dịch bệnh của ong chúa trẻ dưới 6 tháng tuổi nhờ lượng feromol dồi dào; và tác động trực tiếp của điều kiện vệ sinh, khoảng cách đặt thùng tới cống rãnh bẩn đối với nguy cơ phát sinh sâu bánh tổ và mầm bệnh. Cuối cùng, chương phân tích kết quả thử nghiệm lâm sàng điều trị 7 đàn bệnh, chứng minh hiệu lực của từng phác đồ.
Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng kết các chỉ số dịch tễ học và hiệu quả của các giải pháp kỹ thuật; thừa nhận các hạn chế về thời gian thực tập và kinh nghiệm thực tế; kiến nghị các biện pháp kỹ thuật then chốt đối với người chăn nuôi ong tại địa phương (thay chúa 6 tháng/lần, duy trì đàn từ 4 cầu trở lên, vệ sinh định kỳ đáy thùng, bổ sung thức ăn vụ hè thu) và đề xuất các cấp chuyên môn tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã thu thập và xử lý hệ thống số liệu thực nghiệm hoàn chỉnh về tình hình dịch tễ bệnh thối ấu trùng ong tại xã Phúc Hà, được tổng hợp qua các bảng số liệu sau:
Bảng 1: Phân bố bệnh thối ấu trùng ong tại các xóm thuộc xã Phúc Hà
| STT |
Tên xóm điều tra |
Tổng số đàn (đàn) |
Số đàn mắc bệnh (đàn) |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
| 1 |
Xóm 1 |
10 |
2 |
20,00 |
| 2 |
Xóm 2 |
30 |
0 |
0,00 |
| 3 |
Xóm 3 |
5 |
0 |
0,00 |
| 4 |
Xóm 4 |
9 |
0 |
0,00 |
| 5 |
Xóm 5 |
12 |
3 |
25,00 |
| 6 |
Xóm 6 |
10 |
0 |
0,00 |
| 7 |
Xóm 7 |
40 |
2 |
5,00 |
| 8 |
Xóm 8 |
6 |
0 |
0,00 |
| 9 |
Xóm 9 |
8 |
0 |
0,00 |
| 10 |
Xóm 10 |
15 |
0 |
0,00 |
| 11 |
Xóm 11 |
5 |
0 |
0,00 |
| Tổng |
Toàn xã |
150 |
7 |
4,66 |
Toàn bộ 7 đàn bị bệnh đều nhiễm bệnh thối ấu trùng châu Âu (thối ấu trùng tuổi nhỏ), không phát hiện ca nhiễm bệnh thối ấu trùng tuổi lớn (thối ấu trùng túi/Sacbrood). Các hộ nuôi quy mô lớn (20 - 40 đàn/trại) có tỷ lệ mắc bệnh rất thấp hoặc không mắc do quản lý kỹ thuật tốt; ngược lại, bệnh tập trung tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ (Xóm 5 đạt 25,00%, Xóm 1 đạt 20,00%).
Bảng 2: Tác động của các yếu tố sinh thái và kỹ thuật đến tỷ lệ nhiễm bệnh
| Yếu tố khảo sát |
Phân nhóm chỉ tiêu |
Số đàn theo dõi |
Số đàn mắc bệnh |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
Mức ý nghĩa thống kê |
| Khí hậu theo tháng |
Tháng 6 (33,80°C; 136,5 mm; 83,00%) |
30 |
0 |
0,00 |
$P < 0,05$ |
|
Tháng 7 (33,53°C; 195,3 mm; 80,76%) |
30 |
4 |
13,33 |
|
|
Tháng 8 (32,67°C; 201,5 mm; 85,09%) |
30 |
2 |
6,66 |
|
|
Tháng 9 (31,06°C; 170,1 mm; 85,00%) |
30 |
1 |
3,33 |
|
|
Tháng 10 (30,16°C; 123,2 mm; 80,41%) |
30 |
0 |
0,00 |
|
| Nguồn mật - phấn |
Nhiều (+++) - Tháng 6 & Tháng 10 |
60 |
0 |
0,00 |
$P < 0,05$ |
|
Trung bình (++) - Tháng 9 |
30 |
1 |
3,33 |
|
|
Ít (+) - Tháng 7 & Tháng 8 |
60 |
6 |
10,00 |
|
| Quy mô đàn |
3 cầu ong |
50 |
4 |
8,00 |
$P < 0,05$ |
|
4 cầu ong |
50 |
2 |
4,00 |
|
|
6 cầu ong |
50 |
1 |
2,00 |
|
| Tuổi ong chúa |
Ong chúa ≤ 6 tháng tuổi |
50 |
0 |
0,00 |
$P < 0,05$ |
|
Ong chúa 6 - 12 tháng tuổi |
50 |
3 |
6,00 |
|
|
Ong chúa > 12 tháng tuổi |
50 |
4 |
8,00 |
|
| Điều kiện vệ sinh |
Tốt (vệ sinh sạch, xa nguồn ô nhiễm) |
50 |
0 |
0,00 |
$P < 0,05$ |
|
Trung bình |
50 |
2 |
4,00 |
|
|
Kém (gần cống rãnh, có sâu bánh tổ) |
50 |
5 |
10,00 |
|
Bảng 3: So sánh kết quả thử nghiệm hai phác đồ điều trị bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ
| Phương pháp điều trị |
Số đàn điều trị (đàn) |
Số đàn khỏi bệnh (đàn) |
Tỷ lệ khỏi bệnh (%) |
Ghi chú kỹ thuật |
| Biện pháp sinh học |
7 |
5 |
71,42 |
Nhốt chúa 7-10 ngày, thả 3 ngày, nhốt tiếp 5 ngày; cho ăn xi-rô đường 1:1, rút bớt cầu bệnh |
| Dùng thuốc kháng sinh |
7 |
6 |
85,71 |
1g Streptomycin + 1 triệu UI Penicillin trong 3 lít nước đường (cho 30 cầu/tối x 3 tối), rút cầu bệnh |
Sự sai khác về hiệu quả giữa hai phương pháp có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$). Phác đồ kháng sinh kết hợp rút cầu bệnh cho tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn (85,71%) so với biện pháp sinh học đơn thuần (71,42%).
Các giải pháp và kiến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất bao gồm:
- Định kỳ thay ong chúa mới 6 tháng một lần nhằm bảo đảm sức đẻ trứng và duy trì lượng feromol quản lý đàn cao.
- Áp dụng các biện pháp kỹ thuật duy trì thế đàn mạnh từ 4 đến 6 cầu quân đông; chủ động loại bỏ cầu cũ, cầu bệnh, ghép các đàn yếu để tăng khả năng tự vệ sinh bánh tổ của ong thợ.
- Chủ động cho ăn bổ sung xi-rô đường và bột đậu tương/phấn hoa nhân tạo trong các tháng giáp hạt hè thu (tháng 7 và tháng 8) khi thời tiết nắng nóng, mưa kéo dài và nguồn hoa tự nhiên cạn kiệt.
- Vệ sinh định kỳ đáy thùng nuôi, đặt thùng ong nơi khô ráo, thoáng mát, cách xa cống rãnh nước thải bẩn; thường xuyên diệt trừ các loài thiên địch nguy hại như sâu bánh tổ, gián, kiến và ong bắp cày (ong bò vẽ).
- Khi đàn ong mắc bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ, cần phối hợp rút bớt cầu bệnh, thu hẹp thể tích tổ và sử dụng phác đồ kháng sinh Streptomycin kết hợp Penicillin cho ăn đúng liều lượng vào buổi tối trong 3 đêm liên tiếp; trường hợp gần vụ khai thác mật thì ưu tiên biện pháp sinh học nhốt chúa hoặc phun thuốc để tránh dư lượng kháng sinh trong mật ong.
Về mặt đóng góp khoa học, công trình đã xác lập được bộ dẫn liệu thực địa về tỷ lệ nhiễm bệnh thối ấu trùng và các nhân tố sinh thái chi phối tại địa bàn xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên; đồng thời kiểm chứng thực tế tính khả thi và hiệu lực của các biện pháp can thiệp thú y trên giống ong nội Apis cerana.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ rõ những hạn chế khách quan trong quá trình thực hiện:
- Thời gian nghiên cứu thực địa chỉ kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2015), tập trung chủ yếu vào vụ Hè - Thu và giai đoạn đầu vụ Thu - Đông, chưa bao quát được trọn vẹn chu kỳ dịch tễ cả năm (đặc biệt là vụ Đông - Xuân khi nhiệt độ xuống thấp).
- Trình độ và kinh nghiệm thực tiễn của tác giả tại thời điểm thực tập tốt nghiệp còn hạn chế; số lượng đàn ong mắc bệnh được đưa vào thử nghiệm điều trị lâm sàng còn khiêm tốn ($n = 7$ đàn/thí nghiệm).
Hướng mở nghiên cứu tiếp được đề xuất dựa trên phạm vi nghiên cứu:
- Cần mở rộng quy mô điều tra dịch tễ học bệnh ong trên toàn bộ các xã, phường của thành phố Thái Nguyên và các vùng sinh thái lân cận trong thời gian liên tục từ 12 đến 24 tháng.
- Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về mức độ tồn dư kháng sinh trong mật ong sau điều trị, khảo sát các loại kháng sinh thảo mộc hoặc chế phẩm vi sinh nhằm thay thế kháng sinh hóa dược trong phòng trị bệnh cho ong mật.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là tài liệu học thuật và kỹ thuật thực hành có giá trị đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y, Nông học tại các trường đại học, cao đẳng nông lâm nghiệp cần tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu dịch tễ học côn trùng và kỹ thuật chẩn đoán bệnh đàn ong.
- Cán bộ kỹ thuật khuyến nông, trạm thú y địa phương và người chăn nuôi ong mật giống Apis cerana tại khu vực trung du, miền núi phía Bắc.
Các phần nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng trực tiếp bao gồm:
- Quy trình kiểm tra đàn ong bên trong - bên ngoài và mẫu sổ theo dõi nhật ký phát triển đàn ong (mục 3.4.1).
- Tiêu chuẩn phân hạng cường độ nhiễm bệnh ấu trùng qua số lượng ấu trùng chết trên bánh tổ (mục 3.4.2).
- Bảng lịch nở hoa của 9 loài cây nguồn phấn, nguồn mật vụ Xuân - Hè tại Thái Nguyên (mục 2.1.6).
- Quy trình kỹ thuật nhốt chúa ngắt lứa kết hợp liều lượng phối chế Streptomycin (1g) và Penicillin (1 triệu đơn vị) trong điều trị bệnh thối ấu trùng châu Âu (mục 3.4.4 và 4.7).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận ghi nhận đàn ong nuôi tại xã Phúc Hà mắc loại bệnh thối ấu trùng nào và tác nhân gây bệnh chính là gì?
Khóa luận xác định 100% các ca mắc bệnh trên địa bàn xã Phúc Hà (7/150 đàn, tỷ lệ 4,66%) đều là bệnh thối ấu trùng châu Âu (thối ấu trùng tuổi nhỏ), hoàn toàn không xuất hiện bệnh thối ấu trùng túi (thối ấu trùng tuổi lớn). Tác nhân vi sinh vật chính gây bệnh thối ấu trùng châu Âu được xác định là liên cầu khuẩn Gram dương Melissococcus pluton (kích thước 0,7 - 1,5 µm), có thể kèm theo các vi khuẩn thứ phát như Bacillus alvei và Streptococcus.
2. Phân bố tỷ lệ nhiễm bệnh thối ấu trùng giữa các xóm tại xã Phúc Hà có đặc điểm gì?
Trong tổng số 11 xóm điều tra với 150 đàn, bệnh chỉ xuất hiện cục bộ tại 3 xóm: Xóm 5 có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 25,00% (3/12 đàn), tiếp đến là Xóm 1 đạt 20,00% (2/10 đàn) và Xóm 7 đạt 5,00% (2/40 đàn). Tám xóm còn lại (Xóm 2, 3, 4, 6, 8, 9, 10, 11) có tỷ lệ nhiễm bệnh là 0,00%. Nguyên nhân là do các hộ nuôi quy mô nhỏ lẻ ở Xóm 1 và Xóm 5 chăm sóc kém, trong khi các trại quy mô lớn (20-40 đàn) nắm vững kỹ thuật phòng bệnh.
3. Yếu tố quy mô đàn (số cầu ong) và tuổi của ong chúa tác động như thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh?
Số liệu thực nghiệm cho thấy tương quan nghịch rõ rệt giữa thế đàn và tỷ lệ bệnh ($P < 0,05$): đàn 3 cầu có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 8,00%, giảm xuống 4,00% ở đàn 4 cầu và chỉ còn 2,00% ở đàn 6 cầu. Về tuổi chúa ($P < 0,05$): đàn có ong chúa dưới 6 tháng tuổi hoàn toàn không bị bệnh (0,00%); tỷ lệ nhiễm tăng lên 6,00% ở nhóm chúa 6 - 12 tháng tuổi và đạt cao nhất 8,00% ở nhóm chúa trên 12 tháng tuổi do lượng feromol và sức đẻ trứng của chúa già suy giảm.
4. Phác đồ sử dụng thuốc kháng sinh điều trị bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ trong khóa luận được tiến hành ra sao và đạt hiệu quả bao nhiêu?
Phác đồ kháng sinh được thực hiện bằng cách hòa tan hỗn hợp 1 gam Streptomycin kết hợp 1 triệu đơn vị Penicillin vào 3 lít nước đường (pha tỷ lệ 1 kg đường : 1 lít nước sôi để nguội), định mức cho ăn tương ứng 30 cầu ong/tối, cho ăn vào buổi tối liên tục trong 3 đêm, đồng thời kết hợp loại bỏ các cầu bệnh nặng. Kết quả thử nghiệm trên 7 đàn bệnh đạt tỷ lệ khỏi 85,71% (6/7 đàn), cao hơn so với biện pháp sinh học đơn thuần (71,42%) với mức sai khác có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$).
5. Biện pháp điều trị sinh học không dùng kháng sinh được tác giả thực hiện theo chu kỳ thời gian nào?
Biện pháp sinh học được tiến hành bằng thao tác: nhốt ong chúa cách ly trong lồng từ 7 đến 10 ngày để cắt đứt lứa tuổi ấu trùng mẫn cảm trong tổ, sau đó thả chúa cho đẻ trứng trong 3 ngày rồi tiếp tục nhốt chúa lại 5 ngày. Trong thời gian này, người nuôi kết hợp rút bớt cầu bệnh để tập trung quân và cho đàn ong ăn bổ sung xi-rô đường (tỷ lệ 1 đường : 1 nước) với liều lượng 100 ml/cầu vào buổi tối. Biện pháp này giúp đàn ong tự dọn sạch mầm bệnh và đạt tỷ lệ khỏi bệnh 71,42% (5/7 đàn).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Tuyến đã phản ánh bức tranh dịch tễ học bệnh thối ấu trùng trên đàn ong mật nội địa Apis cerana tại xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm bệnh chung là 4,66% (hoàn toàn là thối ấu trùng châu Âu). Công trình đã chứng minh bằng thực nghiệm sự phụ thuộc chặt chẽ của tỷ lệ mắc bệnh vào điều kiện thời tiết mùa vụ hè thu, nguồn thức ăn phấn mật dự trữ, thế đàn, độ tuổi ong chúa và tình trạng vệ sinh cơ sở nuôi dưỡng ($P < 0,05$). Kết quả thử nghiệm lâm sàng xác nhận phác đồ phối hợp kháng sinh Streptomycin và Penicillin kết hợp rút cầu bệnh mang lại hiệu quả chữa khỏi bệnh cao nhất đạt 85,71%, đóng góp cơ sở khoa học và quy trình thực tiễn hữu ích cho nghề nuôi ong mật tại địa phương.