Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu bò fasciolosis ở tỉnh thái nguyên bắc kạn tuyên quang và biện pháp phòng trị 2010 2013

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu bò fasciolosis tại Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang giai đoạn 2010-2013 và biện pháp phòng trị hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

206
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu dịch tễ bệnh sán lá gan trâu bò

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm dịch tễ của bệnh sán lá gan ở trâu, bò tại ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, và Tuyên Quang trong giai đoạn 2010-2013. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh cao, đặc biệt ở những vùng có điều kiện khí hậu nóng ẩm và phương thức chăn thả tự do. Dịch tễ học chỉ ra rằng bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa, khi điều kiện môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ký sinh trùng. Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố ảnh hưởng như tuổi, giới tính, và mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học

Dịch tễ học của bệnh sán lá gan được nghiên cứu chi tiết, bao gồm sự phân bố của bệnh theo địa lý và thời gian. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất ở vùng núi phía Bắc, nơi có điều kiện khí hậu và môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ký sinh trùng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bệnh có xu hướng gia tăng vào mùa mưa, khi độ ẩm và nhiệt độ cao tạo điều kiện cho trứng và ấu trùng sán phát triển.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm

Các yếu tố như tuổi, giới tính, và mùa vụ được xem xét trong nghiên cứu. Kết quả cho thấy trâu, bò non có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với trưởng thành. Giới tính cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm, với con cái có nguy cơ cao hơn do đặc điểm sinh lý. Mùa mưa là thời điểm bệnh bùng phát mạnh nhất, do điều kiện môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ký sinh trùng.

II. Biện pháp phòng trị bệnh sán lá gan

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả để kiểm soát bệnh sán lá gan ở trâu, bò. Các biện pháp bao gồm sử dụng thuốc tẩy sán, cải thiện điều kiện chăn nuôi, và quản lý dịch bệnh. Kết quả thử nghiệm cho thấy các loại thuốc như albendazol, triclabendazole, và nitroxinil có hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh. Ngoài ra, nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao ý thức vệ sinh và quản lý môi trường chăn nuôi để phòng ngừa bệnh.

2.1. Sử dụng thuốc tẩy sán

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các loại thuốc tẩy sán như albendazol, triclabendazole, và nitroxinil. Kết quả cho thấy các loại thuốc này có hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò. Albendazoltriclabendazole được khuyến cáo sử dụng rộng rãi do hiệu quả và độ an toàn cao. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc đúng liều lượng và thời điểm là yếu tố quan trọng để đạt hiệu quả điều trị tối ưu.

2.2. Cải thiện điều kiện chăn nuôi

Cải thiện điều kiện chăn nuôi là một trong những biện pháp phòng trị quan trọng. Nghiên cứu đề xuất các biện pháp như vệ sinh chuồng trại, quản lý chất thải, và kiểm soát nguồn nước để giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh. Ngoài ra, việc nâng cao ý thức vệ sinh và quản lý môi trường chăn nuôi cũng được nhấn mạnh như một yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh sán lá gan.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn trong việc kiểm soát bệnh sán lá gan ở trâu, bò. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các biện pháp phòng trị hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi và giảm thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra. Nghiên cứu cũng có giá trị trong việc phòng ngừa bệnh sán lá gan ở người, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và miền núi.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu cung cấp những thông tin khoa học quan trọng về đặc điểm dịch tễbiện pháp phòng trị bệnh sán lá gan ở trâu, bò. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng các chính sách và quy trình quản lý dịch bệnh hiệu quả. Nghiên cứu cũng góp phần vào việc nâng cao hiểu biết về ký sinh trùng và các bệnh truyền nhiễm trong chăn nuôi.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao trong việc áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh sán lá gan ở trâu, bò. Nghiên cứu khuyến cáo sử dụng các loại thuốc tẩy sán hiệu quả và cải thiện điều kiện chăn nuôi để giảm tỷ lệ nhiễm bệnh. Ngoài ra, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao ý thức vệ sinh và quản lý môi trường chăn nuôi, từ đó giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Bệnh sán lá gan ở trâu, bò, dê do hai loài sán lá Fasciola hepatica và Fasciola gigantica ký sinh ở ống dẫn mật và gan gây ra. Ngoài trâu, bò, dê, hai loài sán này còn gây bệnh cho người và nhiều loài động vật khác. gigantica là hai loài sán lá phổ biến ở các vùng thuộc châu Á và châu Phi. Theo Mas - Coma S.

(2001) [124] tác hại của sán lá gan đối với gia súc nhai lại rất lớn, biểu hiện rõ nhất là gây thiếu máu, viêm và xơ gan khi gia súc bị nhiễm sán lá gan ở mức độ nặng. Sán lá gan ngày càng chứng tỏ vai trò gây bệnh quan trọng cho động vật nhai lại và người (Mas - Coma S. Sán lá Fasciola gây bệnh trên động vật nhai lại và người 1. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học Theo Nguyễn Thị Lê và cs.

(1996) [34], sán lá gan ký sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Plathelminthes Schneider, 1873 Phân ngành Platodes Leuckart, 1854 Lớp Trematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962 Bộ Fasciolibda Skrjabin và Schulz, 1937 Phân bộ Fasciolata Skrjabin và Schulz, 1937 Họ Fasciolidae Railliet, 1895 Phân họ Fasciolinae Stiles và Hassall, 1898 Giống Fasciola Linnaeus, 1758 Loài Fasciola hepatica Linnaeus, 1758 Loài Fasciola gigantica Cobbold, 1885 n 5 1. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola Sán lá F. hepatica có màu đỏ nâu. gigantica là loài sán lá phổ biến ở nước ta.

Loài sán này có chiều dài từ 25 - 75 mm, rộng từ 3 - 12 mm, hình lá, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy sán không có ‘‘vai’’. Hai rìa bên thân sán song song với nhau, có hai giác bám: giác bụng và giác miệng. Giác miệng ở đầu sán thông với hầu, thực quản, ruột gồm hai manh tràng phân thành nhiều nhánh nhỏ. Giác bụng tròn, lớn hơn giác miệng và ở gần giác miệng.

gigantica màu vàng nâu, hình bầu dục, phình rộng ở giữa, thon dần về hai đầu, đầu hơi nhỏ có nắp trứng, trứng dài 0,13 - 0,18 mm, rộng 0,06 - 0,1 mm. hepatica có đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán có ‘‘vai’’. Sán dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần đầu hình nón dài 3 - 4 mm, chứa cả hai giác bám, giác bụng lớn hơn giác miệng. Hai rìa bên thân sán không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thon lại ở cuối thân.

Cấu tạo bên trong của F. Trứng sán có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F. gigantica, dài 0,13 - 0,15 mm; rộng 0,07 - 0,09 mm. A - Fasciola gigantica B - Fasciola hepatica Hình 1.

hepatica [169] Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh. Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với cơ quan tiêu hoá. Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt). Hệ sinh dục rất phát triển với cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán.

Tử cung sán chứa đầy trứng. n 6 Hệ bài tiết gồm 1 - 2 ống bài tiết chạy dọc cơ thể. Từ ống bài tiết có nhiều nhánh nhỏ chạy ra hai bên và tận cùng là tế bào ngọn lửa. Các ống này tập trung dịch bài tiết vào túi dự trữ ở cuối thân và đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết.

Hệ thần kinh kém phát triển, gồm hai hạch não nằm ở hai bên, nối với nhau bằng vòng dây thần kinh. Từ đó có ba đôi dây thần kinh đi về phía trước và phía sau thân, những dây này nối với nhau bằng nhiều dây nhỏ. Cơ quan cảm giác bị tiêu giảm. Hệ sinh dục của sán phát triển mạnh, có bộ phận sinh dục đực và cái trên cùng một cơ thể.

Bộ phận sinh dục đực gồm hai tinh hoàn phân nhánh mạnh, xếp trên dưới nhau ở phần sau cơ thể. Mỗi tinh hoàn thông với ống dẫn tinh riêng rồi đổ vào túi sinh dục. Phần cuối của túi sinh dục được kitin hóa, gọi là cirrus, có chức năng như dương vật. Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinh hoàn.

Tử cung sán chứa đầy trứng, uốn khúc thành hình hoa ở giữa ống dẫn noãn hoàng và giác bụng. Tuyến noãn hoàng xếp dọc 2 bên thân và phân nhánh. (2009) [126], ở châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương chỉ có loài F. hepatica; trong khi ở châu Á và châu Phi có cả 2 loài F.

Đối với khu vực Đông Nam Á, đặc biệt ở Việt Nam, tình hình nhiễm Fasciola ở động vật nhai lại và người đang gia tăng (Tran V. Vòng đời của sán lá Fasciola Năm 1752 Swammerrdam đã phát hiện những vĩ ấu (Cercaria) của sán lá F. hepatica ở một ốc Gasterpoda. Song phải đến năm 1882 Thomas (nghiên cứu ở Anh) và Leukart (nghiên cứu ở Đức) đã gần như cùng một lúc mô tả vòng đời của sán lá gan.

Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của gia súc nhai lại. Sau khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng. Những trứng này theo dịch mật vào ruột và theo phân ra ngoài. Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước.; nhiệt độ 15 - 30oC; pH = 5 - 7,7; có ánh sáng thích hợp thì sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước.

Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ. Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển được trong nước. n 7 Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [50]: thời gian phát triển của trứng sán lá gan phụ thuộc vào nhiệt độ: khi nhiệt độ thấp thời gian phát triển kéo dài, khi nhiệt độ tăng thời gian nở ngắn hơn. Cụ thể như sau: Ở 10 -19oC, trứng sán nở sau 56 ngày Ở 12 - 20oC, trứng sán nở sau 48 ngày Ở 21 - 24oC, trứng sán nở sau 37 ngày Ở 22 - 26oC, trứng sán nở sau 21 - 26 ngày Ở 28 - 30oC, trứng sán nở sau 14 - 16 ngày Ở 25 - 30oC, trứng sán có tỷ lệ nở khá cao (70 - 80%).

Đồng thời các tác giả còn cho biết, trứng sán lá gan cần có nước để phát triển. Trứng để ở đĩa Petri không có nước sau 2 giờ sẽ bị teo lại và vỡ. Trứng có thể phát triển ở độ pH là 7,8 - 8,1; ở độ pH này mao ấu có thể chui ra khỏi trứng và xâm nhập vào ký chủ trung gian. Trong nước cất, mao ấu có thể sống tới 24 giờ, trong nước máy tới 36 giờ.

Khi bắt đầu yếu dần, mao ấu chuyển động quay tròn, nhào lên lộn xuống liên tục một lúc rồi đứng im, rụng lông và tan rữa dần. gigantica lớn hơn trứng F. Nếu ở nhiệt độ 30oC, trứng của F. hepatica mất 7 ngày mới nở, nếu 25oC thì mất 9 - 10 ngày và 20oC thì mất 15 ngày, trong khi đó nếu ở nhiệt độ 30oC, trứng của F.

gigantica phải mất 11 - 12 ngày mới nở, nếu 25oC thì mất 17 ngày và 20oC thì mất 31 ngày. (1958) [98] cho biết, nhiệt độ 24 - 26oC và pH 6,5 - 7 là tốt nhất cho sự phát triển của trứng sán lá gan. Tác giả cho rằng, trứng không sống ở nhiệt độ trên 43oC, điều kiện khô hạn cũng làm trứng chết nhanh. gigantica phát triển không đồng đều và nở thành Miracidium ở cùng một thời gian.

Vì vậy, trong cùng một điều kiện Miracidium có thể nở trong khoảng thời gian tới vài tuần, tăng cơ hội nhiễm vào ốc. Cũng theo Guralp N. (1964) [99], thời gian cho sự phát triển thành Miracidium trong trứng F. gigantica khác nhau phụ thuộc vào nhiệt độ.

Khoảng 10 - 11 ngày ở 37 - 38oC, 21 - 24 ngày ở 25oC và 33 ngày ở 17 - 22oC. (1988) [64] thấy rằng, trứng bị kích thích nở khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng mạnh. Khi thoát khỏi vỏ trứng, Miracidium sống trong nước khoảng 18 - 26 giờ. n 8 Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst).

Theo Phan Địch Lân (2004) [33], ký chủ trung gian của sán lá F. gigantica ở Việt Nam là hai loài ốc Lymnaea swinhoei (ốc vành tai) và Lymnaea viridis (ốc hạt chanh). Hai loài ốc này thường sống trong các ao, hồ, mương, rãnh, các chân ruộng mạ có nước xâm xấp, các thửa ruộng cấy lúa nước, các vũng trên đồng cỏ, các khe lạch, các chân ruộng bậc thang, khe suối ở miền núi. Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi.

Trong một ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng. Trong khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều lôi ấu (Redia). Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu. Lôi ấu (Redia) hình suốt chỉ, ít hoạt động, đã có miệng, hầu và ruột.

Có hai loại Redia (Redia thế hệ I và Redia thế hệ II) cùng phát triển trong ốc - vật chủ trung gian. Ở nhiệt độ 16oC hoặc thấp hơn, Redia thế hệ I dừng phát triển. Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30oC), sau 29 - 35 ngày, Redia biến thành Cercaria. Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria.

Vĩ ấu (Cercaria) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có thân hình tròn lệch, kích thước 0,28 - 0,30 x 0,23 mm, có đuôi dài hơn thân, đuôi giúp vĩ ấu di chuyển dễ dàng trong nước. Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân nhánh. Trong cơ thể Cercaria có những hạt glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho sự vận động không ngừng của đuôi. Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu.

Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi trường nước. Nhờ sự hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu có thể tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh, tạo thành kén (Adolescaria). Từ khi Miracidium xâm nhập vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường ngoài, bơi tự do trong nước.

Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh. Lúc này Cercaria đã biến thành Adolescaria (ấu trùng sán lá gan có sức gây bệnh).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh sán lá gan trâu bò tại Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang (2010-2013) là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích đặc điểm dịch tễ và đề xuất các biện pháp hiệu quả để phòng ngừa và điều trị bệnh sán lá gan ở trâu bò tại ba tỉnh miền núi phía Bắc. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về tình hình nhiễm bệnh mà còn đưa ra các giải pháp thực tiễn, giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi và bảo vệ sức khỏe đàn gia súc. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và những người quan tâm đến lĩnh vực thú y.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh ký sinh trùng và biện pháp phòng trị, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh lý lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp gây ra ở lợn tại tỉnh bắc kạn và biện pháp phòng trị, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu hơn về bệnh ký sinh trùng ở lợn. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bệnh cầu trùng ở gà và biện pháp phòng trị tại huyện trùng khánh tỉnh cao bằng cũng là một tài liệu đáng chú ý, tập trung vào bệnh cầu trùng ở gia cầm. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tỉ lệ nhiễm bệnh thối ấu trùng ở loài ong apis cerana nuôi tại xã phúc hà thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị mang đến cái nhìn toàn diện về bệnh thối ấu trùng ở ong, một vấn đề thú vị khác trong lĩnh vực chăn nuôi.