Đặt vấn đề Bệnh gạo lợn là một bệnh truyền lây giữa người và động vật. Bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra. Đây là sán ấu trùng của sán dây Taenia solium ký sinh ở người. Ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh ở các cơ của lợn, khi lợn mắc bệnh gạo thì thịt lợn không thể sử dụng làm thực phẩm cho con người, gây tổn thất cho ngành chăn nuôi.
Người ăn thịt lợn gạo chưa nấu chín sẽ bị bệnh sán dây. Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9] ấu trùng Cysticercus cellulosae là một bọc màu trắng, bên trong có nước trong suốt, đường kính từ 8 - 10 mm, có khi chỉ 5 mm, giống hình hạt gạo. Trên màng bên trong dính một đầu sán màu trắng, cấu tạo giống đầu sán dây trưởng thành. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [12] lợn ở miền núi mắc bệnh gạo cao hơn ở đồng bằng, vì ở miền núi thường nuôi lợn thả rông, một số vùng có tập quán ăn thịt lợn sống hoặc chưa nấu chín.
Đó là nguyên nhân làm cho lợn dễ nhiễm bệnh gạo và người cũng dễ nhiễm bệnh sán dây. Khi lợn mắc bệnh gạo có triệu chứng không điển hình, rất khó phát hiện bệnh. Khi mổ khám lợn, kiểm tra các cơ vân, mới phát hiện được gạo ký sinh. Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra rất khó phát hiện.
Ngoài ra, việc chẩn đoán bệnh trên con vật sống rất khó khăn do triệu chứng bệnh không điển hình. Đặc biệt, không thể tìm thấy ấu trùng bằng cách xét nghiệm phân do ấu trùng ký sinh trong cơ của lợn. Những năm gần đây, lợn được nuôi phổ biến ở nhiều tỉnh thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Điện Biên. Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình vẫn nuôi lợn theo phương thức thả rông và một số hộ gia đình vẫn chưa có điều kiện n 2 xây nhà tiêu.
Chính vì vậy khi người phóng uế ra môi trường thì trứng sán dây phát tán, lợn nuôi thả rông ăn phải trứng sán dây dễ mắc bệnh bệnh gạo. Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm của của ấu trùng Cysticercus cellulosae gây bệnh gạo ở lợn, không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm ấu trùng (gạo) ở lợn, mà còn góp phần phòng chống bệnh sán dây ở người. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra ở lợn (bệnh gạo lợn) tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên” 2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Nghiên cứu đặc điểm điểm dịch tễ và lâm sàng của bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra trên lợn, làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo để xây dựng quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra trên lợn tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, có một số đóng góp mới cho khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để người chăn nuôi nhận biết về bệnh để có biện pháp phòng bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên lợn và người n 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý Huyện Tủa Chùa là một huyện miền núi của tỉnh Điện Biên, các thành phố Điện Biên Phủ 130 km. - Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lai Châu. - Phía tây giáp huyện Mường Chà - Phía nam giáp huyện Tuần Gíao - Phía đông giáp tỉnh Sơn La. - Khí hậu thủy văn Khí hậu đặc trưng là khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia làm hai mùa khá rõ rệt; nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C, độ ẩm trung bình 80 - 85%, lượng mưa bình quân trong năm 900 - 2.
* Địa hình - Thuận lợi Tủa Chùa là huyện miền núi, nằm ở phía Đông của tỉnh Điện Biên, có điều kiện giao thông thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán hàng hóa, góp thúc đẩy kinh tế phát triển toàn diện hơn. Ngoài ra, huyện có đặc điểm địa hình, thời tiết, khí hậu, điều kiện xã hội phù hợp cho việc phát trển nhiều ngành nghề kinh tế nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng. Nguồn nhân công dồi dào phù hợp cho phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện. Hiện nay, do có chính sách đầu tư và sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với vùng đặc biệt khó khăn nên có nhiều mô hình kinh tế đang được đầu tư xây dựng và phát triển.
Các mô hình Vườn - Ao - Chuồng - Rừng ngày càng n 4 được người dân quan tâm mở rộng, công tác thú y ngày càng được nâng cao. Điều kiện kinh tế phát triển tốt, đời sống nhân dân được cải thiện hơn nhiều. - Khó khăn Địa hình huyện chủ yếu là đồi núi hiểm trở, đất đai cằn cỗi. Hiện nay, đất đai vẫn chủ yếu là đồi cây bụi và đất trống, phần lớn chưa được cải tạo nên gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển chăn nuôi gia súc trong huyện.
Điều kiện xã hội - Dân cư, dân tộc: Huyện có dân số trên 45 nghìn người, gồm 7 dân tộc, dân tộc Mông chiếm đa số 67,28 %, còn lại là dân tộc Thái, Kinh, Dao, Hoa. Số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 51%, tỷ lệ lao động qua đào tạo 17 %, chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ và cơ quan nhà nước. - Về giáo dục Hiện nay trên toàn bộ khu vực có 2 trường trung học phổ thông, 1 trường dân tộc nội trú, 12 trường trung học cơ sở, 12 trường tiểu học và 15 trường mầm non. Được sự hỗ trợ và sự chỉ đạo của tỉnh, hầu hết các trường học của huyện và trung tâm các xã đều được đầu tư xây dựng lại với công trình 1 - 2 tầng khang trang, cơ sở vật chất trang thiết bị của nhà trường đã phần nào đáp ứng được cho công tác giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.
Tuy nhiên, bên cạnh đó ở một số xã vùng sâu vùng xa gặp nhiều khó khăn việc xây dựng lớp học và mở các phân trường tại các thôn, làng, bản còn gặp rất nhiều khó khăn, các trường học được xây dựng với quy mô nhà cấp 4 và nhà tạm. Thiếu thốn về cơ sở vật chất và trang thiết bị cho công tác giảng dạy của nhà trường, thiếu giáo viên, một số thôn, bản còn chưa có lớp học n 5 - Về y tế Trên địa bàn huyện có một bệnh viện đa khoa nằm tại trung tâm Xã Mường Báng. Bên cạnh đó, mỗi xã đều có các Trạm y tế với tổng số 12 bác sỹ, 211 y tá, y sỹ và hộ lý. Mặc dù số lượng, chất lượng trang thiết bị cũng như đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu thốn gây ảnh hưởng tới công tác y tế, chăm sóc sức khỏe của cộng đồng người dân trong khu vực.
Nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của cấp tỉnh và sự nỗ lực cố gắng của cán bộ Trung tâm y tế huyện nên nhìn chung người dân đã được tiếp cận tới các dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe. - Văn hóa thể thao Các dân tộc trên địa bàn huyện có truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, bản sắc riêng của các dân tộc miền núi Tây Bắc, tạo nguồn cảm hứng cho du khách đến tìm hiểu và nghiên cứu. Trong số đó văn hóa đặc sắc của dân tộc Thái (điệu hát then, múa xòe, múa sạp, ném còn, dệt vải,. Trong vài năm gần đây, dưới sự nỗ lực của huyện nên các xã đều đã xây dựng được bưu điện văn hóa xã, một số xã đã có nhà văn hóa với các phương tiện để nghe thông tin như: Đài, tivi… Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho người dân có thể nắm bắt, trao đổi các thông tin, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như của địa phương đề ra.
Từ đó trình độ dân trí trong khu vực không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, vẫn còn một số bản, làng vùng sâu cách xa trung tâm xã và huyện, điều kiện văn hóa còn gặp nhiều khó khăn làm ảnh hưởng phần nào tới công tác tuyên truyền động viên nhân dân tham gia các hoạt động văn hoá nói chung cũng như công tác thú y nói riêng, bởi lẽ người dân nơi đây họ chưa nhận biết được nhiều về tầm quan trọng của công tác Thú y. Đây là trở ngại lớn nhất trong khi thực hiện công tác Thú y. Mặt khác Tủa Chùa là một huyện vùng sâu vùng xa nên trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, kém hiểu biết về công tác chăn nuôi thú y, việc tiêm n 6 phòng cho gia súc, gia cầm chưa được triệt để và thường xuyên dẫn đến dịch bệnh xảy ra rải rác trên địa bàn, dễ lây thành dịch nếu công tác phòng, trị không được kịp thời và đúng lúc.
Sự hiểu biết, nắm bắt thông tin về khoa học kỹ thuật còn chậm, do đó việc áp dụng khoa học tiên tiến vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn. Điều kiện kinh tế, giao thông, thủy lợi… còn có nhiều khó khăn, vốn đầu tư vào phát triển chăn nuôi còn hạn chế, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn. Những khó khăn này đã và đang gây cản trở đến sự phát triển công tác chăn nuôi và thú y. - Giao thông thủy lợi Hệ thống thủy lợi cũng được huyện chú trọng đầu tư, đã bê tông hóa được đa phần các mương ở các xã gần trung tâm huyện.
Đảm bảo nước chăn nuôi và tưới tiêu cho bà con nhân dân trong huyện, cung ứng nước sinh hoạt cho bà con nhân dân.Tuy nhiên ở một số thôn bản vùng cao vẫn còn khan hiếm nguồn nước vào mùa khô gây khó khăn cho sinh hoạt và phát triển kinh tế. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh học của sán dây Taenia solium ký sinh ở người và ấu trùng Cysticercus cellulosae 2. Vị trí của sán dây Taenia solium trong hệ thống phân loại động vật học Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [ 31 ]; (Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18]); cho biết, sán dây Taenia solium có vị trí trong hệ thống phân loại như sau: Lớp sán dây Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Cestoda Carus, 1863 Bộ Cyclophyllidae Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Taeniata Skjabin et Schulz, 1973 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Liunaeus, 1758 n 7 2.