Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Huyện Yên Sơn là địa phương có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh Tuyên Quang, sở hữu địa hình và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển đàn gia súc nhai lại. Theo số liệu của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Tuyên Quang, tính đến ngày 01/10/2019, toàn huyện có trên 22.000 con trâu, bò. Song song với tiềm năng chăn nuôi, hiểu biết của người dân địa phương về các bệnh ký sinh trùng trên đàn gia súc còn nhiều hạn chế, đặc biệt là bệnh sán lá gan (Fasciolosis) do hai loài sán Fasciola hepatica và Fasciola gigantica ký sinh trong gan và ống dẫn mật gây ra.

Bệnh sán lá gan tác động lên vật chủ qua bốn cơ chế chính: tác động cơ học gây tổn thương mô và tắc mật; tác động độc tố làm biến chất protein huyết tương, xơ hóa nhu mô gan; tác động chiếm đoạt dinh dưỡng (mỗi sán trưởng thành hút khoảng 0,2 ml máu mỗi ngày); và tác động mang trùng gây nhiễm khuẩn thứ phát. Bệnh thường tiến triển ở thể mãn tính, ít gây chết đột ngột nhưng làm trâu, bò gầy mòn, suy nhược, tiêu chảy kéo dài, giảm sút năng suất lao tác và sản lượng sữa thịt. Thực tế chăn nuôi tại huyện Yên Sơn cho thấy nhiều hộ nông dân vẫn duy trì tập quán thả rông không chuồng trại, hoặc nuôi nhốt dưới gầm sàn nhà, hố phân không được che đậy hay xử lý đúng quy chuẩn, phân tươi bón trực tiếp cho cây trồng, gây ô nhiễm môi trường và phát tán mầm bệnh vi khuẩn, nấm cùng trứng giun sán ra tự nhiên.

Nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn trên, đề tài xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định được tình hình nhiễm sán lá gan trên đàn trâu, bò tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
  2. Ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn trâu, bò ở các lứa tuổi nuôi tại nông hộ; bệnh sán lá gan trên trâu, bò; hiệu quả của các chế phẩm sinh học trong xử lý phân chuồng để tiêu diệt mầm bệnh và giảm ô nhiễm môi trường.
  • Phạm vi không gian: Điều tra, lấy mẫu thực địa tại 5 xã thuộc huyện Yên Sơn gồm Phúc Ninh, Hùng Lợi, Hoàng Khai, Đội Bình và Chân Sơn. Công tác xét nghiệm mẫu thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành trong 6 tháng, từ ngày 28/5/2020 đến ngày 28/11/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết và phân loại học

Theo phân loại động vật học của Skrjabin và cs. (1977) cùng Nguyễn Thị Lê và cs. (1996), sán lá gan ký sinh ở gia súc nhai lại thuộc ngành Plathelminthes, phân ngành Platodes, lớp Trematoda, phân lớp Prosostomadidea, bộ Fasciolida, phân bộ Fasciolata, họ Fasciolidae, phân họ Fasciolinae, giống Fasciola. Hai loài gây bệnh chủ yếu gồm:

  • Fasciola gigantica (Cobbold, 1885): Chiều dài 25 - 75 mm, chiều rộng 3 - 12 mm, thân dài gấp khoảng 3 lần chiều rộng, u lồi đầu tiếp nối thân nên không có phần "vai" rõ rệt, bờ thân song song, đầu tận cùng tù. Kích thước trứng 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm.
  • Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758): Chiều dài 18 - 51 mm, chiều rộng 4 - 13 mm, phần trước nhô ra tạo thành đôi "vai" bè sang hai bên, bờ thân phình ở vai rồi thót nhọn về phía sau. Kích thước trứng 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09 mm.

Vòng đời sán lá gan trải qua 5 giai đoạn: Trứng theo dịch mật vào ruột rồi ra môi trường theo phân -> Nở thành mao ấu (Miracidium) bơi tự do trong nước sau 10 - 25 ngày ở nhiệt độ 15 - 30°C -> Xâm nhập vào vật chủ trung gian là ốc nước ngọt họ Lymnaeidae (Lymnaea swinhoei - ốc vành tai, Lymnaea viridis - ốc hạt chanh) -> Phát triển qua các giai đoạn bào ấu (Sporocyst), lôi ấu (Redia thế hệ I và II) và vĩ ấu (Cercaria) trong 50 - 80 ngày -> Vĩ ấu rời ốc, rụng đuôi biến thành kén nang trùng (Adolescaria) bám vào cỏ nước hoặc bơi trong nước -> Gia súc ăn phải cây cỏ hoặc uống nước chứa Adolescaria, ấu trùng thoát kén tại dạ dày - ruột rồi di hành vào ống dẫn mật, phát triển thành sán trưởng thành sau 79 - 88 ngày.

Các chế phẩm sinh học được nghiên cứu ứng dụng gồm:

  • EMUNIV (Công ty Cổ phần Vi sinh Ứng dụng): Chứa tập đoàn vi sinh vật hữu ích gồm Bacillus subtilis (10⁸ CFU/g), Bacillus licheniformis (10⁷ CFU/g), Bacillus megaterium (10⁷ CFU/g), Lactobacillus acidophilus (10⁸ CFU/g), Lactobacillus plantarum (10⁸ CFU/g), Streptomyces sp. (10⁷ CFU/g) và Saccharomyces cerevisiae (10⁷ CFU/g).
  • EMIC: Đa chủng vi sinh vật thuộc các giống Bacillus, Lactobacillus, Streptomyces, Saccharomyces... có khả năng sinh enzyme phân giải nhanh chất hữu cơ và sinh kháng sinh ức chế vi sinh vật gây hại.
  • EMZEO (Công ty TNHH Công nghệ sinh học Đức Bình): Chế phẩm dạng bột chứa các nhóm vi sinh vật phân giải protein, lipid, glucid, cellulose, hemicellulose và pectin.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập mẫu phân: Áp dụng phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc cắt ngang tại 5 xã, mỗi xã chọn 4 thôn. Cỡ mẫu tối thiểu được xác định theo công thức dịch tễ học với độ tin cậy 95% và tỷ lệ nhiễm dự đoán 20%, tính ra dung lượng mẫu là 300 con (gồm 220 con trâu và 80 con bò). Mẫu phân tươi được lấy trực tiếp từ trực tràng hoặc ngay khi gia súc vừa bài xuất, khối lượng khoảng 30 gam/mẫu.
  • Phương pháp xét nghiệm mẫu: Phát hiện trứng sán lá gan bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943) dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 100 lần. Xác định cường độ nhiễm (số lượng trứng/gam phân) bằng buồng đếm McMaster. Dùng phương pháp phù nổi bằng dung dịch muối bão hòa để kiểm tra trứng giun tròn.
  • Phương pháp định loại sán lá gan: Mổ khám 50 gan trâu, bò theo phương pháp mổ khám không toàn diện của Skrjabin (1977) để thu thập sán trưởng thành. Định loại hình thái học bằng phương pháp nhuộm tiêu bản carmin theo khóa phân loại của Nguyễn Thị Lê và cs. (1996). Thẩm định phân tử bằng kỹ thuật PCR khuếch đại và giải trình tự đoạn gen CO1 đối chiếu với ngân hàng gen quốc tế GenBank.
  • Phương pháp điều tra thực trạng và thử nghiệm xử lý chất thải: Điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu hỏi tại 50 hộ chăn nuôi (10 hộ/xã). Bố trí thử nghiệm ủ phân tại 5 hộ gia đình (khối lượng 4 - 5 tấn phân/hộ): 2 hộ dùng EMUNIV (liều lượng 200 g/5 lít nước/1 tấn phân), 1 hộ dùng EMIC (300 g hòa nước/1 tấn phân), 2 hộ dùng EMZEO (3 gói 200 g hòa nước/1 tấn phân); ủ hiếu khí - kỵ khí có che bạt trong 25 - 30 ngày. Đánh giá cảm quan mùi hôi tại chuồng và bán kính 50 - 100 m qua phỏng vấn 25 hộ lân cận; xét nghiệm đếm trứng giun sán trong phân trước và sau ủ 25 ngày.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê sinh học trên phần mềm Minitab 16 theo giáo trình của Nguyễn Văn Thiện (2008).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Đặt vấn đề dựa trên thực trạng địa bàn huyện Yên Sơn có quy mô đàn đại gia súc lớn nhưng tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ cao về ô nhiễm chất thải và dịch bệnh ký sinh trùng. Nêu rõ 2 mục tiêu nghiên cứu và khẳng định ý nghĩa khoa học (bổ sung dẫn liệu dịch tễ thú y tại miền núi) cũng như ý nghĩa thực tiễn (khuyến cáo phòng trị bệnh và chuẩn hóa giải pháp xử lý phân chuồng thành phân bón hữu cơ an toàn).

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp toàn diện các cơ sở lý luận về vị trí phân loại học, cấu tạo hình thái, vòng đời 5 giai đoạn, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng lâm sàng (thể cấp tính ở gia súc non 1,5 - 2 năm tuổi và thể mãn tính ở gia súc trưởng thành) và bệnh tích đại thể, vi thể của bệnh sán lá gan. Trình bày các công trình dịch tễ học trong nước (Trịnh Văn Thịnh, Phan Địch Lân, Đoàn Văn Phúc) và quốc tế (Kaufmann, Mas-Coma, Kozak). Giới thiệu đặc tính các loại thuốc trị sán (Dertil, Fasciolid, Tolzan-F, Fasinex) và thành phần sinh học của 3 chế phẩm vi sinh EMUNIV, EMIC, EMZEO.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết địa điểm thu mẫu tại 5 xã (Phúc Ninh, Hùng Lợi, Hoàng Khai, Đội Bình, Chân Sơn) và quy trình xét nghiệm tại phòng thí nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11/2020. Thiết lập công thức tính cỡ mẫu đại diện (300 con: 220 trâu, 80 bò), nguyên lý kỹ thuật lắng cặn Benedek, kỹ thuật đếm buồng McMaster, kỹ thuật mổ khám Skrjabin trên 50 mẫu gan, quy trình nhuộm carmin và PCR gen CO1. Trình bày chi tiết bố cục thử nghiệm ủ phân tại 5 hộ dân và tiêu chuẩn đánh giá mùi, mật độ trứng giun sán.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương tập trung phân tích các dữ liệu điều tra thực địa và kết quả xét nghiệm mẫu:

  • Thực trạng chăn nuôi và phòng bệnh: Phản ánh phương thức chăn thả tự nhiên chiếm ưu thế (60 - 70%); tỷ lệ chuồng trại hợp vệ sinh rất thấp (0 - 20%); 0% hộ có bể Biogas; 0% hộ vệ sinh bãi chăn; chỉ 10 - 20% hộ gom phân ủ; tỷ lệ tẩy sán lá gan định kỳ chỉ đạt từ 20% đến 50%.
  • Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo địa phương: Tỷ lệ nhiễm chung toàn huyện là 44,33%. Tỷ lệ nhiễm ở trâu (45,90%) cao hơn bò (40,00%). Xã Phúc Ninh có tỷ lệ nhiễm ở trâu cao nhất (50,00%), xã Hùng Lợi có tỷ lệ nhiễm ở bò cao nhất (46,15%). Cường độ nhiễm tập trung chủ yếu ở mức trung bình 300 - 600 trứng/gam phân (48,12%).
  • Nhiễm theo lứa tuổi gia súc: Tỷ lệ và mức độ nhiễm tăng lũy tiến theo tuổi: nhóm 1 - 2 tuổi nhiễm 13,84% (không có ca nhiễm nặng); nhóm >2 - 5 tuổi nhiễm 48,78% (nhiễm nặng 20,00%); nhóm >5 - 8 tuổi nhiễm 53,33% (nhiễm nặng 27,08%); nhóm trên 8 tuổi nhiễm cao nhất với 72,72% (nhiễm nặng chiếm tới 43,75%).
  • Nhiễm theo mùa vụ và tính biệt: Tỷ lệ nhiễm giữa mùa hè (44,59%) và mùa thu (44,07%) khác nhau không rõ rệt. Gia súc cái có tỷ lệ nhiễm (46,60%) cao hơn gia súc đực (39,36%).
  • Thử nghiệm ủ phân vi sinh: Trình bày quy trình kỹ thuật ủ đống phân chuồng 4 - 5 tấn bằng EMUNIV, EMIC và EMZEO có che bạt trong 25 - 30 ngày để giảm phát thải khí độc và tiêu diệt mầm mống trứng ký sinh trùng.

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực trạng chăn nuôi và thú y tại cơ sở

Khảo sát 50 hộ chăn nuôi tại 5 xã thuộc huyện Yên Sơn ghi nhận bức tranh thực tế về điều kiện chăn nuôi và công tác phòng dịch:

Chỉ tiêu khảo sát (điều tra 10 hộ/xã) Phúc Ninh (%) Hùng Lợi (%) Hoàng Khai (%) Đội Bình (%) Chân Sơn (%)
Chăn thả hoàn toàn tự nhiên 60,00 60,00 70,00 70,00 70,00
Bán chăn thả (có cho ăn tại chuồng) 40,00 40,00 30,00 30,00 30,00
Chuồng trại hợp vệ sinh về xây dựng 10,00 10,00 10,00 20,00 0,00
Vệ sinh tốt chuồng nuôi 10,00 10,00 10,00 20,00 0,00
Xử lý phân bằng bể Biogas 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00
Thu gom phân để ủ 10,00 10,00 20,00 20,00 20,00
Vệ sinh bãi chăn thả 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00
Thực hiện tẩy sán lá gan 50,00 20,00 20,00 30,00 20,00

Kết quả xét nghiệm tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan

Kết quả kiểm tra phân của 300 con trâu, bò tại 5 xã cho thấy sự lưu hành tương đối phổ biến của sán lá gan:

Loài gia súc / Địa phương Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ ≤300 trứng/g (%) Cường độ >300-600 trứng/g (%) Cường độ >600 trứng/g (%)
Trâu (tính chung) 220 101 45,90 24,75 47,52 27,72
- Xã Phúc Ninh 44 22 50,00 31,80 22,70 45,40
- Xã Hùng Lợi 48 22 45,83 40,90 45,46 13,64
- Xã Hoàng Khai 34 13 38,23 7,70 61,53 30,77
- Xã Đội Bình 48 22 45,83 31,81 54,55 13,64
- Xã Chân Sơn 46 22 47,82 4,54 59,10 36,36
Bò (tính chung) 80 32 40,00 37,50 50,00 12,50
- Xã Phúc Ninh 7 2 28,57 100,00 0,00 0,00
- Xã Hùng Lợi 13 6 46,15 50,00 50,00 0,00
- Xã Hoàng Khai 30 12 40,00 25,00 66,67 8,33
- Xã Đội Bình 12 5 41,66 40,00 20,00 40,00
- Xã Chân Sơn 18 7 38,88 28,57 57,14 14,29
Tính chung trâu, bò 300 133 44,33 27,81 48,12 24,06

Sự biến động theo lứa tuổi, mùa vụ và tính biệt

Yếu tố phân tích Tiêu chí phân nhóm Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ ≤300 trứng/g (%) Cường độ >300-600 trứng/g (%) Cường độ >600 trứng/g (%)
Theo lứa tuổi 1 - 2 tuổi 65 9 13,84 22,22 77,78 0,00
>2 - 5 tuổi 123 60 48,78 28,33 51,67 20,00
>5 - 8 tuổi 90 48 53,33 25,00 47,92 27,08
>8 tuổi 22 16 72,72 37,50 18,75 43,75
Theo mùa vụ Mùa hè 148 66 44,59 27,27 50,00 22,73
Mùa thu 152 67 44,07 28,36 46,27 25,37
Theo tính biệt Gia súc đực 94 37 39,36 29,73 43,24 27,03
Gia súc cái 206 96 46,60 27,08 50,00 22,92

Đóng góp và giải pháp đề xuất

  • Đóng góp khoa học: Cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học thực địa đầy đủ và chính xác về sự phân bố của bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò tại huyện Yên Sơn, chứng minh quy luật gia tăng tỷ lệ và cường độ nhiễm theo tuổi vật chủ và chỉ rõ sự chênh lệch cảm nhiễm giữa trâu và bò.
  • Giải pháp kỹ thuật: Đề xuất định mức và quy trình ứng dụng 3 chế phẩm sinh học (EMUNIV 200 g/tấn phân, EMIC 300 g/tấn phân, EMZEO 600 g/tấn phân) trong việc đánh đống ủ hiếu khí - kỵ khí phân gia súc (lượng thải 15 - 20 kg/con/ngày), tận dụng nhiệt nội sinh của quá trình lên men vi sinh vật để làm mất mùi hôi và tiêu diệt mầm mống trứng giun sán trước khi bón cho cây trồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thời gian theo dõi thực địa của đề tài diễn ra trong 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2020), do đó số liệu biến động mùa vụ chỉ mới khảo sát được mùa hè và mùa thu, chưa bao quát được toàn diện chu kỳ dịch tễ qua mùa đông và mùa xuân.
    • Số lượng bò được kiểm tra (80 con) ít hơn đáng kể so với trâu (220 con) do đặc thù cơ cấu đàn đại gia súc của các xã điều tra.
    • Phạm vi nghiên cứu mới thực hiện tập trung tại 5 xã đại diện của huyện Yên Sơn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi điều tra dịch tễ quanh năm trên cả 4 mùa và tại nhiều huyện miền núi khác của tỉnh Tuyên Quang.
    • Điều tra sâu hơn về mật độ phân bố và tỷ lệ cảm nhiễm ấu trùng sán lá gan trên các loài ốc nước ngọt (Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis) tại các thủy vực đồng cỏ chăn thả.
    • Đánh giá định lượng chi tiết diễn biến nhiệt độ đống ủ và mức độ giảm phát thải các loại khí độc cụ thể ($NH_3$, $H_2S$) của từng loại chế phẩm sinh học trong suốt chu kỳ ủ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi: Nguồn tài liệu học tập chuẩn mực về phương pháp điều tra dịch tễ ký sinh trùng thú y cắt ngang, kỹ thuật xét nghiệm phân gạn lắng Benedek, đếm buồng McMaster và kỹ thuật mổ khám kiểm tra bệnh tích gan theo Skrjabin.
  • Cán bộ thú y cơ sở và khuyến nông viên: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa để tham mưu lịch tẩy sán định kỳ cho đàn gia súc địa phương, đặc biệt ưu tiên nhóm trâu bò cái sinh sản và gia súc trên 5 năm tuổi.
  • Hộ chăn nuôi đại gia súc: Cung cấp quy trình kỹ thuật cụ thể về liều lượng và cách phối trộn các chế phẩm vi sinh (EMUNIV, EMIC, EMZEO) để xử lý lượng phân chuồng tồn đọng thành nguồn phân bón hữu cơ an toàn cho cây trồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu và bò tại huyện Yên Sơn khác nhau như thế nào?

Theo số liệu nghiên cứu, trâu có tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 45,90% (101/220 con), cao hơn rõ rệt so với ở bò là 40,00% (32/80 con). Nguyên nhân do tập tính sinh học của trâu ưa nước, thích đằm tắm và ăn cỏ tại các vũng nước, ao hồ, ruộng lúa nước, nơi tập trung nhiều ốc nước ngọt và nang ấu (Adolescaria), trong khi bò ít ưa nước hơn.

2. Yếu tố lứa tuổi ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh?

Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan tăng lũy tiến theo tuổi gia súc: lứa tuổi 1 - 2 năm chỉ nhiễm 13,84% và không có trường hợp nào nhiễm nặng (>600 trứng/g phân); nhóm >2 - 5 tuổi nhiễm 48,78%; nhóm >5 - 8 tuổi nhiễm 53,33%; và nhóm trên 8 tuổi nhiễm cao nhất với 72,72% (trong đó 43,75% số con nhiễm nặng). Lý do là gia súc càng lớn tuổi thì thời gian tiếp xúc đồng cỏ càng dài, nguy cơ nuốt nang ấu càng cao, kết hợp với việc sán trưởng thành có đời sống kéo dài (3 - 5 năm, có thể đến 11 năm) gây ra hiện tượng bội nhiễm tích lũy.

3. Thực trạng chuồng trại và công tác tẩy trừ sán lá gan tại các xã điều tra ra sao?

Tại 5 xã khảo sát, có tới 60 - 70% số hộ áp dụng hình thức chăn thả tự nhiên hoàn toàn. Tỷ lệ chuồng trại đạt chuẩn vệ sinh chỉ chiếm từ 0% đến 20%; 100% số hộ không có bể Biogas và không dọn vệ sinh bãi chăn; chỉ có 10 - 20% hộ thực hiện thu gom phân để ủ. Tỷ lệ hộ thực hiện tẩy sán lá gan cho trâu, bò chỉ đạt 20% (Hùng Lợi, Hoàng Khai, Chân Sơn), 30% (Đội Bình) và cao nhất là 50% (Phúc Ninh).

4. Liều lượng và cách sử dụng các chế phẩm sinh học để ủ phân trâu, bò được tác giả hướng dẫn như thế nào?

  • Chế phẩm EMUNIV: Hòa 1 gói (200 gam) vào 5 lít nước sạch, tưới đều cho 1 tấn phân chuồng, đánh đống, che kín bạt và ủ trong 25 - 30 ngày.
  • Chế phẩm EMIC: Hòa 300 gam chế phẩm với nước sạch, tưới đều cho 1 tấn phân, che bạt kín, sau 7 - 10 ngày tiến hành đảo trộn.
  • Chế phẩm EMZEO: Hòa 3 gói (mỗi gói 200 gam, tổng 600 gam) với nước sạch, tưới đều cho 1 tấn phân chuồng, đảo trộn, đánh đống, che bạt và ủ trong 25 - 30 ngày.

5. Phương pháp xét nghiệm nào được dùng để chẩn đoán và xác định cường độ nhiễm sán lá gan trong phân?

Đề tài sử dụng phương pháp lắng cặn Benedek (1943) để xét nghiệm tìm trứng sán lá gan dựa trên nguyên lý tỷ trọng của trứng sán nặng hơn tỷ trọng của nước nên sẽ chìm xuống cặn lắng khi khuấy mẫu. Để định lượng cường độ nhiễm (phân loại thành ba mức: ≤300, >300 - 600 và >600 trứng/gam phân), tác giả sử dụng buồng đếm McMaster.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Trà Giang đã phản ánh bức tranh thực địa toàn diện về sự lưu hành của bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang với tỷ lệ nhiễm chung là 44,33%. Nghiên cứu xác lập rõ nét các quy luật dịch tễ học thú y về sự gia tăng tỷ lệ và cường độ nhiễm theo lứa tuổi gia súc, sự khác biệt giữa trâu và bò, đồng thời chỉ ra những hạn chế lớn trong tập quán vệ sinh chuồng trại tại địa phương. Bên cạnh các dẫn liệu chẩn đoán ký sinh trùng học, công trình đã xây dựng quy trình ứng dụng các chế phẩm vi sinh hữu hiệu (EMUNIV, EMIC, EMZEO) trong ủ phân chuồng, cung cấp giải pháp kép giúp kiểm soát nguồn phát tán mầm bệnh và hạn chế ô nhiễm môi trường nông nghiệp nông thôn.