Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do ấu trùng cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại huyện đại từ tỉnh thái nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại huyện Đại Từ, Thái Nguyên, đề xuất biện pháp phòng chống hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

71
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích của đề tài

1.2. Mục tiêu của đề tài

1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

2.3. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó

2.3.1. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học

2.3.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm bệnh cysticercus tenuicollis ở lợn

Bệnh cysticercus tenuicollis là một bệnh ký sinh trùng phổ biến ở lợn, gây ra bởi ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena. Ấu trùng này ký sinh trên các cơ quan nội tạng như gan, lách, màng treo ruột và màng mỡ chài. Đặc điểm bệnh cysticercus tenuicollis bao gồm sự hình thành các bọc nước chứa ấu trùng, gây rối loạn chức năng các cơ quan bị nhiễm. Khi số lượng ấu trùng lớn, lợn có thể biểu hiện các triệu chứng như sốt cao, mất cảm giác thèm ăn và hiện tượng hoàng đản. Cysticercus tenuicollis ở lợn thường không có triệu chứng rõ ràng khi nhiễm nhẹ, nhưng khi nhiễm nặng, nó có thể gây chèn ép các cơ quan và dẫn đến viêm màng bụng cấp tính.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học

Dịch tễ học cysticercus tenuicollis cho thấy bệnh phổ biến ở các vùng nuôi nhiều chó, đặc biệt là những nơi có chế độ kiểm soát giết mổ không nghiêm ngặt. Bệnh lợn tại Thái Nguyênbệnh lợn tại Đại Từ có tỷ lệ nhiễm cao do điều kiện chăn nuôi thả rông và thiếu biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi của lợn, do thời gian tiếp xúc với mầm bệnh kéo dài. Cysticercus tenuicollis tại Thái Nguyêncysticercus tenuicollis tại Đại Từ là những vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm.

1.2. Triệu chứng và bệnh tích

Triệu chứng lâm sàng của bệnh bao gồm sốt cao, mất cảm giác thèm ăn và hiện tượng hoàng đản. Bệnh tích đại thể thường thấy là sự xuất hiện của các bọc nước chứa ấu trùng trên các cơ quan nội tạng. Cysticercus tenuicollis ở lợn cũng gây ra các tổn thương viêm và chèn ép cơ quan, dẫn đến rối loạn chức năng. Nghiên cứu cho thấy các cơ quan như gan, lách và màng treo ruột là những vị trí ký sinh phổ biến nhất của ấu trùng.

II. Biện pháp phòng chống bệnh cysticercus tenuicollis

Biện pháp phòng chống bệnh cysticercus tenuicollis bao gồm việc kiểm soát chặt chẽ nguồn lây nhiễm từ chó, cải thiện điều kiện vệ sinh trong chăn nuôi và áp dụng các biện pháp điều trị hiệu quả. Phòng chống bệnh cysticercus tenuicollis cần được thực hiện đồng bộ từ khâu quản lý chó nuôi đến việc kiểm soát giết mổ và xử lý chất thải. Phòng ngừa cysticercus tenuicollis cũng bao gồm việc giáo dục người chăn nuôi về các biện pháp vệ sinh và phòng bệnh.

2.1. Kiểm soát nguồn lây nhiễm

Kiểm soát nguồn lây nhiễm từ chó là biện pháp quan trọng nhất trong phòng chống bệnh cysticercus tenuicollis. Chó là vật chủ trung gian truyền bệnh, do đó cần hạn chế việc thả rông chó và thực hiện tẩy giun định kỳ. Bệnh ký sinh trùng ở lợn có thể được giảm thiểu bằng cách kiểm soát chặt chẽ việc tiếp xúc giữa lợn và chó. Ngoài ra, cần đảm bảo vệ sinh trong quá trình giết mổ và xử lý chất thải động vật.

2.2. Cải thiện điều kiện chăn nuôi

Cải thiện điều kiện chăn nuôi là yếu tố then chốt trong phòng ngừa cysticercus tenuicollis. Cần xây dựng chuồng trại đảm bảo vệ sinh, hạn chế tiếp xúc giữa lợn và chó. Nghiên cứu bệnh lợn cho thấy việc áp dụng các biện pháp vệ sinh và quản lý chăn nuôi khoa học có thể giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm bệnh. Ngoài ra, cần tăng cường giáo dục người chăn nuôi về các biện pháp phòng bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm bệnh cysticercus tenuicollis ở lợn tại Đại Từ, Thái Nguyên có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn. Về mặt khoa học, nghiên cứu cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm bệnh cysticercus tenuicollis, dịch tễ học cysticercus tenuicollisbệnh tích đại thể. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả, giúp giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra trong chăn nuôi lợn.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu nằm ở việc bổ sung và hoàn thiện kiến thức về bệnh cysticercus tenuicollis ở lợn. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu về đặc điểm bệnh, triệu chứng lâm sàngbệnh tích đại thể, góp phần vào việc phát triển các phương pháp chẩn đoán và điều trị hiệu quả. Nghiên cứu bệnh lợn cũng mở ra hướng nghiên cứu mới về các bệnh ký sinh trùng ở động vật.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu thể hiện qua việc đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả, giúp giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh và thiệt hại trong chăn nuôi lợn. Phòng chống bệnh cysticercus tenuicollis cần được áp dụng rộng rãi để bảo vệ sức khỏe đàn lợn và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về các biện pháp phòng bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Hiện nay, chăn nuôi vẫn là ngành rất quan trọng trong nền nông nghiệp của nước ta. Có rất nhiều hình thức và quy mô chăn nuôi khác nhau, từ quy mô chăn nuôi nông hộ đến quy mô trang trại đã giải quyết được vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và đưa ra thị trường một số sản phẩm lớn từ thịt để phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên tạo các điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, trong đó có hệ kí sinh trùng gây bệnh cho đàn gia súc. Đặc biệt với kiểu chăn nuôi nông hộ theo hình thức chăn thả ở một số địa phương thì vấn đề nhiễm kí sinh trùng luôn là vấn đề nan giải.

Trong đó có bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis của sán dây trưởng thành Taenia hydatigena gây ra là bệnh rất phổ biến ở nhiều loài gia súc (trâu, bò, dê, lợn, ngựa.) và cả ở người. Bệnh Cysticercus tenuicollis phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nơi nuôi nhiều chó và chế độ kiểm soát giết mổ không nghiêm ngặt. Khi nhiễm nhẹ, chức năng của các khí quan rối loạn không rõ. Khi số lượng ấu sán nhiều gây rối loạn chức năng các khí quan trong xoang bụng, gây hiện tượng hoàng đản, con vật mất tính thèm ăn, sốt cao.

Số lượng ấu sán nhiều còn gây chèn ép các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực, có thể có triệu chứng của viêm màng bụng cấp tính. Ngoài ra, việc chẩn đoán bệnh đối với con vật rất khó khăn do triệu chứng bệnh không điển hình. Đặc biệt, không thể tìm ấu trùng bằng cách xét nghiệm phân do ấu trùng ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng. Những năm gần đây, chó vẫn được nuôi phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Thái Nguyên.

Tuy nhiên, chó thường được nuôi theo phương thức thả rông, nếu chó bị nhiễm sán dây thì rất dễ phát tán mầm bệnh, làm cho người và các vật nuôi khác dễ nhiễm và mắc bệnh ấu n 2 trùng Cysticercus tenuicollis. Đặc biệt, việc đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y trong giết mổ chó cũng như các loài gia súc khác tại tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng chó thải phân bừa bãi còn phổ biến khiến nguy cơ lây nhiễm bệnh ấu sán trên vật nuôi là khá cao, đồng thời thực trạng giết mổ trâu, bò, lợn, dê như hiện nay khiến nguy cơ chó nhiễm sán dây cũng tăng lên. Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ và chế tạo kháng nguyên chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loài vật nuôi, để từ đó xây dựng các quy trình phòng chống thích hợp là hết sức cần thiết. Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó, mà còn góp phần phòng chống bệnh ấu trùng sán dây cho người và một số loài vật nuôi khác.

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống". Mục đích của đề tài Xác định được biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, từ đó xây dựng được quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, triệu chứng và bệnh tích của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.

Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện về đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, về quy trình phòng chống bệnh hiệu quả, có một số đóng góp mới cho khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên một số loại vật nuôi và kể cả trên người. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.

Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7] cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước. Có một đầu sán bám vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 - 44 móc. Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, lách, màng treo ruột, màng mỡ chài… của gia súc (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [8]). Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [14], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 - 80 x 8 - 100 mm, chứa dịch bên trong.

Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ. Theo Johannes Kaufmann (1996) [30], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài ở khoang bụng của cừu và gia súc. Gia súc nhiễm ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, trừ khi nhiễm một số lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [4] cho biết: căn bệnh là ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người.

Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra phía ngoài. Ở những vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng. n 5 Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật khác phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành.

Lợn nuôi gần với chó dễ nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu, bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 2. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn một thế kỷ trước. lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam).

Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người. Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [5], (2003) [6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [14], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam. Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau: Ngành sán dẹp (Plathelminthes) Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 n 6 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780.

Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940 Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782 Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [14], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7]: tính đến thời điểm hiện tại đã phát hiện hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo. Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea. n 7 Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [11] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam.

Việc mô tả hình thái các loài sán dây còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam. (1870) là người đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở Nam Bộ trên người. Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S. (1985) Diphyllobothrium mansoni không là tên đồng vật của một loài nào trong họ này.

Khi nói về lịch sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài Spirometra erinacei- europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum. Tuy nhiên, các tác giả có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [7]). Nguyễn Thị Kỳ (2003) [6] cho biết, ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có mẫu. Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1]).

Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó * Đặc điểm chung: Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [14], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [6] cho biết: Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm bệnh cysticercus tenuicollis ở lợn tại Đại Từ, Thái Nguyên và biện pháp phòng chống" cung cấp cái nhìn sâu sắc về bệnh cysticercus tenuicollis, một loại bệnh ký sinh trùng ảnh hưởng đến lợn. Nghiên cứu này không chỉ mô tả các đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học của bệnh mà còn đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả, giúp người chăn nuôi và các chuyên gia thú y có thêm thông tin hữu ích để bảo vệ đàn lợn của mình.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh liên quan đến lợn, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu bệnh do ấu trùng cysticercus cellulosae gây ra ở lợn bệnh gạo lợn tại huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên, nơi nghiên cứu về một loại ấu trùng khác cũng gây hại cho lợn. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do ấu trùng cysticercus cellulosae gây ra ở lợn bệnh gạo lợn tại tỉnh Sơn La sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bệnh này ở một khu vực khác. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn tình hình mắc bệnh viêm khớp do vi khuẩn streptococcus suis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm phác đồ điều trị, để có cái nhìn tổng quát hơn về các bệnh khác có thể ảnh hưởng đến lợn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe đàn lợn.