Luận văn nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm và chế tạo kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở đàn trâu tại tỉnh tuyên quang

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm và phát triển kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở trâu tại Tuyên Quang, hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

173
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1. Bệnh tiên mao trùng ở động vật

1.1.2. Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng

1.1.3. Phương thức truyền lây tiên mao trùng

1.1.4. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng

1.1.5. Đặc điểm gây bệnh của T. evansi

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Vật liệu nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng trên đàn trâu ở tỉnh Tuyên Quang và áp dụng phác đồ điều trị

2.3.2. Nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm Kit CATT trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu của tỉnh Tuyên Quang

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng trên đàn trâu của tỉnh Tuyên Quang và áp dụng phác đồ điều trị

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu chế tạo Kit chẩn đoán bệnh

2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tình hình nhiễm tiên mao trùng trên đàn trâu ở 4 huyện thuộc tỉnh Tuyên Quang và áp dụng phác đồ điều trị hiệu quả

3.1.1. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại 4 huyện thuộc tỉnh Tuyên Quang

3.1.2. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng theo lứa tuổi trâu tại tỉnh Tuyên Quang

3.1.3. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt

3.1.4. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ

3.1.5. Kết quả xác định loài tiên mao trùng gây bệnh trên đàn trâu của tỉnh Tuyên Quang

3.1.6. Áp dụng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu của tỉnh Tuyên Quang

3.2. Nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm Kit CATT trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu của tỉnh Tuyên Quang

3.3. Kết quả tách dòng và xác định trình tự gen mã hóa kháng nguyên bề mặt RoTAT 1

3.4. Kết quả biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên bề mặt của T.

3.5. Kết quả nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm Kit CATT trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở nhiều loài gia súc, đặc biệt là trâu. Tại tỉnh Tuyên Quang, bệnh này gây ra thiệt hại lớn cho người chăn nuôi do tỷ lệ nhiễm trùng cao và khó phát hiện. Theo nghiên cứu, Trypanosoma evansi là tác nhân chính gây bệnh, lây truyền qua các loài ruồi hút máu. Việc phát hiện và điều trị kịp thời là rất cần thiết để giảm thiểu thiệt hại. Do đó, nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm và chế tạo kit chẩn đoán là một yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của đề tài là xác định tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở đàn trâu tại tỉnh Tuyên Quang và chế tạo kit chẩn đoán có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Nghiên cứu sẽ tập trung vào việc định danh loài tiên mao trùng gây bệnh và áp dụng phác đồ điều trị hiệu quả. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho việc xây dựng quy trình chẩn đoán và điều trị bệnh, từ đó nâng cao sức khỏe cho đàn gia súc và cải thiện đời sống cho người chăn nuôi.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang lại giá trị thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin về tỷ lệ nhiễm và các biện pháp phòng chống bệnh tiên mao trùng. Việc chế tạo kit chẩn đoán từ kháng nguyên tái tổ hợp sẽ giúp phát hiện bệnh nhanh chóng và chính xác, từ đó giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi. Hơn nữa, nghiên cứu này còn khẳng định khả năng làm chủ công nghệ trong sản xuất kit chẩn đoán, góp phần vào sự phát triển của ngành thú y tại Việt Nam.

IV. Tình hình nhiễm tiên mao trùng

Tình hình nhiễm tiên mao trùng ở đàn trâu tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy tỷ lệ nhiễm cao, đặc biệt trong mùa mưa khi côn trùng phát triển mạnh. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm có sự khác biệt theo lứa tuổi và mùa vụ. Các triệu chứng lâm sàng như sốt cao, gầy yếu, và viêm kết mạc thường gặp ở những con bị nhiễm. Việc xác định tỷ lệ nhiễm và các yếu tố ảnh hưởng là rất quan trọng để xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

V. Chế tạo kit chẩn đoán

Quá trình chế tạo kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng được thực hiện dựa trên công nghệ sinh học hiện đại. Kit CATT (Card Agglutination Test for Trypanosomiasis) được phát triển từ kháng nguyên tái tổ hợp RoTAT 1.2, cho phép phát hiện kháng thể kháng Trypanosoma evansi với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Kết quả thử nghiệm cho thấy kit này có thể áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán bệnh, giúp người chăn nuôi phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.

02/03/2025
Luận văn nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm và chế tạo kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở đàn trâu tại tỉnh tuyên quang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Bệnh tiên mao trùng ở động vật 1. Căn bệnh Bệnh tiên mao trùng - Trypanosomiasis - là bệnh do ký sinh trùng đơn bào Protozoa, lớp trùng roi Flagellata gây ra.

Có nhiều loài thuộc giống Trypanosoma như: Trypanosoma brucei, Trypanosoma cruzi, Trypanosoma evansi, Trypanosoma congolense, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma vivax, Trypanosoma simiae… có khả năng gây bệnh cho người và động vật (Kumar A. Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng do loài đơn bào Trypanosoma evansi (T. evansi) gây ra. Tiên mao trùng T.

evansi có hình thoi, dài 18 - 34 m. Giữa thân tiên mao trùng có một nhân, phía cuối cơ thể có một roi, roi này chạy dọc theo thân và tạo thành nhiều màng rung động, cuối cùng roi lơ lửng ở phần đầu và thành roi tự do (Nguyễn Thị Kim Lan, 2011 [12]). Kinetoplast Màng rung Nhân Roi t do Hình 1. Cấu trúc của tiên mao trùng T.

evansi (Nguồn: Desquesnes M. Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng Trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú hoang, thấy phổ biến hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch., không ký sinh ở người (Phạm Sỹ Lăng và cs. Sự lây truyền bệnh tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khỏe là nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae). Sự lây truyền này chỉ mang tính chất cơ học.

Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng quan trọng. Đây là một trong những cơ sở khoa học để xây dựng biện pháp phòng và tránh lây lan bệnh tiên mao trùng hiệu quả (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [13]; Baldacchino F. Phương thức truyền lây tiên mao trùng T. evansi (Nguồn: Desquesnes M.

Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông bán cầu. evansi hiện diện tại tất cả các quốc gia có lạc đà, từ Senegal (15° Bắc) c 6 đến Kenya (xích đạo), trên vành đai Glossina. evansi được tìm thấy không chỉ ở Mauritania, Morocco, Algeria, Tunisia, Libya, Ai Cập, Sudan, Eritrea và Ethiopia, mà còn ở khu vực phía bắc của Mali, Burkina Faso, Niger, Nigeria, Chad, Somalia, Kenya. Ngày nay, phân bố địa lý của bệnh liên tục từ khu vực phía bắc của châu Phi, qua Trung Đông đến khu vực Đông Nam Á.

Bệnh phổ biến ở trâu, bò và ngựa các nước nhiệt đới ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ (Haridy F. Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng đã được phát hiện thấy phổ biến ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau như miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển (Phạm Sỹ Lăng và cs. Mùa phát bệnh có liên quan chặt chẽ với mùa côn trùng hoạt động, thường vào khoảng từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm (Phan Địch Lân và cs. Đặc điểm gây bệnh của T.

evansi Khi ruồi, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào gia súc, tiên mao trùng xâm nhập vào da, tạo nên các vết viêm trên mặt da. Độc tố của tiên mao trùng tác động tới bộ máy tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá, làm con vật ỉa chảy. Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh. Khi sống trong huyết tương vật chủ, tiên mao trùng sử dụng protein huyết tương, làm giảm áp lực keo trong máu, nước sẽ từ máu thẩm thấu qua thành mạch quản vào gian bào của tổ chức gây hiện tượng thủy thũng.

Ngoài ra, khi tiên mao trùng sinh sản nhiều trong máu có thể làm tắc các mạch máu nhỏ và các mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thuỷ thũng chất keo vàng dưới da. Sau khi xâm nhập vào máu ký chủ, tiên mao trùng sinh sản theo cấp số nhân. Số lượng tiên mao trùng nhiều thì lượng độc tố cũng tăng lên, tác động vào trung khu điều hòa nhiệt làm cho con vật sốt. Khi động vật sốt cao là lúc trong máu có nhiều tiên mao trùng phát triển.

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2008) [22], trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu như: sốt cao và gián đoạn, có biểu hiện rối loạn thần kinh, thủy thũng dưới da, gầy yếu, suy nhược, thiếu máu, viêm kết mạc và giác mạc mắt. Một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng màu vàng, sau c 7 chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy. Các đợt ỉa chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng.

Trâu, bò bị bệnh mạn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được. Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết. Triệu chứng viêm giác mạc và kết mạc mắt thấy ở hầu hết trâu, bò mắc bệnh: mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng, đỏ ngầu. Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng như cùi nhãn kéo che kín giác mạc.

Con vật mắc bệnh tiên mao trùng khi chết gầy xơ xác, mổ khám thấy có những biến đổi bệnh tích đại thể rõ rệt ở hệ tuần hoàn và hô hấp: tim nhão, xoang bao tim tích nước vàng; phổi sung huyết và tụ máu từng đám; gan sưng to, nhạt màu; lách sưng, mềm nhũn và nhạt màu; hạch lâm ba sưng và tụ máu trong hạch; cơ nhão, màu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước; xoang ngực và xoang bụng tích dịch màu vàng nhạt. Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Việc chẩn đoán bệnh tiên mao trùng tương đối khó khăn vì căn bệnh có khi có ở mạch máu ngoại vi, có khi không. Do đó, cần phải chẩn đoán bằng nhiều phương pháp khác nhau: * Phương pháp chẩn đoán lâm sàng Biểu hiện lâm sàng của bệnh tiên mao trùng không phải lúc nào cũng phát hiện được. Chính vì vậy, việc chẩn đoán qua triệu chứng lâm sàng ở trâu, bò có độ chính xác không cao.

Vì vậy, ngoài chẩn đoán qua các triệu chứng lâm sàng, cần phải tiến hành các phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm để có kết quả chẩn đoán chính xác. * Phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm Việc phát hiện tiên mao trùng được thực hiện trên các mẫu máu, có thể xét nghiệm các mẫu máu này bằng hình thức soi tươi, cố định, nhuộm giemsa và một số phương pháp huyết thanh học khác (Desquesnes M. Cụ thể như sau: - Phương pháp phát hiện tiên mao trùng Để phát hiện tiên mao trùng, có thể áp dụng phương pháp soi tươi máu (Direct smear); phương pháp nhuộm giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky); phương pháp tập trung tiên mao trùng. c 8 - Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng dụng nhiều trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng.

Ở phương pháp này, người ta tiêm truyền máu của động vật cần chẩn đoán cho động vật thí nghiệm (thường dùng chuột nhắt trắng). Sau đó, hàng ngày kiểm tra máu của động vật đã được tiêm truyền để phát hiện tiên mao trùng. Nếu trong máu động vật này có tiên mao trùng thì kết luận động vật cần chẩn đoán bị nhiễm bệnh và ngược lại. Theo Lê Ngọc Mỹ (1994) [26], phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là phương pháp chẩn đoán chính xác, nhưng nhược điểm của phương pháp này là khi cần chẩn đoán nhanh, với số lượng mẫu nhiều trong khoảng thời gian ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng được.

- Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sản sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại tiên mao trùng. Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ: Phản ứng ngưng kết trên bản nhựa (CATT/T. evansi: Card Agglutination Test for Trypanosomiasis) Đây là phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng thể trên bản nhựa, được dùng để phát hiện kháng thể trong máu động vật nhiễm bệnh. Phương pháp CATT có ưu điểm cho kết quả nhanh chóng, dễ thực hiện, đặc biệt có thể áp dụng trong điều kiện thực địa thiếu các dụng cụ chẩn đoán chuyên biệt.

Nguyên lý của phương pháp: kháng nguyên tiên mao trùng đã được nhuộm màu sẽ kết hợp với kháng thể có trong huyết thanh của động vật nhiễm bệnh, tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh, đó là phản ứng dương tính. Nếu động vật không nhiễm bệnh, trong máu không có kháng thể đặc hiệu, phản ứng kết hợp kháng nguyên - kháng thể không xảy ra và không có các đám kết tủa, đó là phản ứng âm tính. c 9 Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slide Agglutination Test) Phương pháp ngưng kết trên phiến kính là phản ứng giữa kháng nguyên tiên mao trùng sống có sẵn, với kháng thể có trong huyết thanh của động vật nghi nhiễm. Phương pháp này đơn giản, dễ tiến hành và có thể áp dụng trên diện rộng.

Tuy nhiên phải thường xuyên lưu giữ giống tiên mao trùng để có tiên mao trùng sống thực hiện phản ứng này. Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test) Phương pháp LATEX được dùng để phát hiện kháng thể có trong huyết thanh của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng. Nguyên lý: Đây là phản ứng dùng kháng nguyên gắn hạt latex, khi gặp kháng thể đặc hiệu, kháng nguyên và kháng thể sẽ kết hợp với nhau thành đám lớn mà mắt thường có thể quan sát được. Khi cho kháng nguyên trộn với kháng thể đặc hiệu tương ứng, phản ứng ngưng kết sẽ xảy ra.

Kháng nguyên và kháng thể kết hợp với nhau qua cầu nối kháng thể đặc hiệu. Do mỗi cầu nối với kháng nguyên dưới hình thức mạng lưới nhiều chiều, tạo nên những đám ngưng kết biểu hiện bằng những đám lấm tấm hoặc lổn nhổn như những hạt cát hoặc những cụm bông lơ lửng. Nhờ có hạt latex gắn vào kháng nguyên, hiện tượng ngưng kết này trở nên dễ dàng quan sát hơn. Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect Fluorescent Antibody Test) Trong nhiều trường hợp, để phát hiện phức hợp kháng nguyên - kháng thể, cần phải sử dụng một số kỹ thuật miễn dịch mới nhìn thấy được.

Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT dùng kháng kháng thể đã được nhuộm chất phát huỳnh quang để phát hiện kháng nguyên cần chẩn đoán. Trong phương pháp này có ba thành phần tham gia là kháng nguyên cần chẩn đoán, kháng thể đặc hiệu và kháng kháng thể đã gắn chất phát huỳnh quang. Do đó, phương pháp này còn được gọi là phương pháp hai lớp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm và chế tạo kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở trâu tại Tuyên Quang là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc xác định tỷ lệ nhiễm bệnh tiên mao trùng (trypanosomiasis) ở trâu tại tỉnh Tuyên Quang, đồng thời phát triển một bộ kit chẩn đoán hiệu quả. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp dữ liệu về tình hình dịch tễ của bệnh mà còn đóng góp vào việc cải thiện phương pháp chẩn đoán, giúp kiểm soát và phòng ngừa bệnh tốt hơn. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ thú y và những người quan tâm đến sức khỏe động vật.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh truyền nhiễm ở động vật, bạn có thể tham khảo Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trên trâu bò của huyện yên sơn tỉnh tuyên quang ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu bò để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, một nghiên cứu liên quan đến bệnh sán lá gan ở trâu bò tại cùng khu vực. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do ấu trùng cysticercus cellulosae gây ra ở lợn bệnh gạo lợn tại tỉnh sơn la cung cấp thêm góc nhìn về các bệnh ký sinh trùng ở gia súc. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu phát triển các kỹ thuật mới ứng dụng để phát hiện vi khuẩn burkholderia pseudomallei trong các mẫu bệnh phẩm lâm sàng và ngoài môi trường là một tài liệu chuyên sâu về kỹ thuật chẩn đoán vi khuẩn, có thể bổ sung kiến thức về phương pháp chẩn đoán bệnh.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.