Nghiên Cứu Bệnh Gạo Lợn Do Ấu Trùng Cysticercus Cellulosae Tại Huyện Mường Ảng, Tỉnh Điện Biên

Luận văn nghiên cứu bệnh gạo lợn do ấu trùng cysticercus cellulosae tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp phòng ngừa hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

68
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa khoa học

1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.2. Đặc điểm khí hậu

2.1.3. Đặc điểm về thuỷ văn

2.1.4. Địa hình và đất đai

2.1.5. Đặc điểm về môi trường và thiên tai

2.1.6. Điều kiện kinh tế, xã hội

2.1.7. Dân số

2.2. Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở trong ba năm gần đây

2.3. Cơ sở khoa học của đề tài

2.3.1. Đặc điểm sinh học của sán dây Taenia solium ký sinh ở người và ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh ở lợn

2.3.1.1. Vị trí của sán dây Taenia solium trong hệ thống phân loại động vật học
2.3.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây Taenia solium và ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh ở lợn
2.3.1.2.1. Đặc điểm, hình thái, cấu tạo của sán dây Taenia solium
2.3.1.2.2. Hình thái trứng sán dây
2.3.1.2.3. Sức đề kháng của sán dây Taenia solium
2.3.1.2.4. Đặc điểm, hình thái, cấu tạo của ấu trùng Cysticercus cellulosae
2.3.1.2.5. Sức đề kháng của ấu trùng Cysticercus cellulosae

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu

3.2. Vật liệu nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.3.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra tại một số xã của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

3.3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra trên lợn

3.3.3. Nghiên cứu bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae trên lợn

3.4. Phương pháp xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra ở lợn tại một số xã của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

4.2. Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn tại một số xã

4.3. Nghiên cứu các yếu tố nhiễm sán dây Taenia solium ở người tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

4.4. Nghiên cứu bệnh ấu trùng Cysticercus cellulosae ở lợn

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bệnh gạo lợn

Bệnh gạo lợn, hay còn gọi là bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae, là một bệnh truyền nhiễm giữa người và động vật. Bệnh này do ấu trùng ký sinh trong cơ của lợn, gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi. Theo nghiên cứu của Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), ấu trùng Cysticercus cellulosae có hình dạng giống như hạt gạo, với kích thước từ 5 đến 10 mm. Khi lợn mắc bệnh, thịt lợn không thể sử dụng làm thực phẩm, dẫn đến thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Hơn nữa, người tiêu thụ thịt lợn chưa nấu chín có nguy cơ mắc bệnh sán dây Taenia solium. Việc phát hiện bệnh gạo lợn rất khó khăn do triệu chứng không điển hình, và không thể tìm thấy ấu trùng qua xét nghiệm phân. Điều này làm cho việc phòng ngừa và điều trị bệnh trở nên cấp thiết.

1.1. Tình hình bệnh gạo lợn tại Mường Ảng

Tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, tình hình bệnh gạo lợn đang gia tăng do phương thức chăn nuôi thả rông. Nhiều hộ gia đình vẫn chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh, dẫn đến việc lợn dễ dàng tiếp xúc với trứng sán dây. Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012), tỷ lệ mắc bệnh gạo lợn ở miền núi cao hơn so với đồng bằng. Việc nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh gạo lợn tại Mường Ảng là cần thiết để có biện pháp phòng trị hiệu quả. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho người chăn nuôi, giúp họ nhận biết và phòng ngừa bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra.

II. Đặc điểm sinh học của Cysticercus cellulosae

Đặc điểm sinh học của ấu trùng Cysticercus cellulosae rất quan trọng trong việc hiểu rõ về bệnh gạo lợn. Ấu trùng có hình dạng bọc màu trắng, chứa dịch trong suốt, với kích thước từ 5 đến 10 mm. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan (2015), ấu trùng này có cấu tạo giống như đầu sán trưởng thành. Sức đề kháng của ấu trùng rất cao, có thể tồn tại trong thịt lợn chưa nấu chín. Điều này làm cho việc tiêu diệt ấu trùng trở nên khó khăn. Các biện pháp điều trị hiện tại chưa hiệu quả trong việc tiêu diệt ấu trùng trong cơ thể lợn. Việc hiểu rõ về đặc điểm sinh học của Cysticercus cellulosae sẽ giúp các nhà nghiên cứu và người chăn nuôi có những biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả hơn.

2.1. Cấu tạo và hình thái của ấu trùng

Ấu trùng Cysticercus cellulosae có cấu tạo đặc biệt với một đầu sán và 4 giác bám. Theo nghiên cứu của Phan Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001), ấu trùng có thể tồn tại lâu dài trong cơ thể lợn, và khi người tiêu thụ thịt lợn chưa nấu chín, ấu trùng có thể phát triển thành sán trưởng thành trong ruột người. Điều này cho thấy sự nguy hiểm của bệnh gạo lợn không chỉ đối với lợn mà còn đối với sức khỏe con người. Việc nghiên cứu cấu tạo và hình thái của ấu trùng sẽ giúp nâng cao nhận thức về bệnh và các biện pháp phòng ngừa cần thiết.

III. Tình hình nghiên cứu bệnh gạo lợn

Tình hình nghiên cứu về bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae đã được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam, đặc biệt là ở huyện Mường Ảng, nghiên cứu còn hạn chế. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của bệnh. Việc nghiên cứu tình hình nhiễm sán dây Taenia solium ở người cũng rất quan trọng, vì bệnh gạo lợn có thể dẫn đến nhiễm sán dây ở người. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin cần thiết để xây dựng các biện pháp phòng trị hiệu quả, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

3.1. Nghiên cứu trong nước và quốc tế

Nghiên cứu về bệnh gạo lợn đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, tuy nhiên, tại Việt Nam, thông tin còn thiếu. Các nghiên cứu trong nước cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh ở lợn cao, đặc biệt ở các vùng miền núi. Việc nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh ở người cũng cần được chú trọng, vì bệnh gạo lợn có thể lây truyền sang người qua việc tiêu thụ thịt lợn chưa nấu chín. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao nhận thức của người dân về bệnh và các biện pháp phòng ngừa cần thiết.

02/03/2025
Luận văn nghiên cứu bệnh do ấu trùng cysticercus cellulosaegây ra ở lợn bệnh gạo lợn tại huyện mường ảng tỉnh điện biên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Bệnh gạo lợn là một bệnh truyền lây giữa người và động vật. Bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh ở cơ của lợn gây ra. Đây là ấu trùng của sán dây Taenia solium trưởng thành, sán dây này ký sinh ở ruột non của người. Khi lợn mắc bệnh gạo thì thịt lợn không thể sử dụng làm thực phẩm cho con người, gây tổn thất cho ngành chăn nuôi.

Người ăn thịt lợn gạo chưa nấu chín sẽ bị bệnh sán dây Taenia solium. Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [5]: ấu trùng Cysticercus cellulosae là một bọc màu trắng, trong có nước trong suốt, dài 8 - 10 mm, có khi chỉ 5 mm, giống hình hạt gạo. Trên màng bên trong dính một đầu sán màu trắng, cấu tạo giống đầu sán dây trưởng thành. Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [6]: lợn ở miền núi mắc bệnh gạo cao hơn ở đồng bằng, vì ở miền núi thường nuôi lợn thả rông.Một số vùng, người có tập quán ăn thịt lợn sống hoặc chưa nấu chín.

Đó là nguyên nhân làm cho lợn dễ mắc bệnh gạo và người cũng dễ mắc bệnh sán dây. Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra rất khó phát hiện, việc chẩn đoán bệnh trên con vật sống rất khó khăn do triệu chứng bệnh không điển hình. Đặc biệt, không thể tìm thấy ấu trùng bằng cách xét nghiệm phân do ấu trùng ký sinh trong cơ của lợn. Trong những năm gần đây, lợn được nuôi phổ biến ở nhiều tỉnh thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Điện Biên.

Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình vẫn nuôi lợn theo phương thức thả rông, đồng thời một số hộ gia đình vẫn chưa có nhà tiêu. Vì vậy, khi người phóng uế ra môi trường thì đốt và trứng sán dây phát tán, lợn nuôi thả rông dễăn phải trứng sán dây và dễ mắc bệnh gạo. n 2 Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra là vấn đề cần thiết, từ đó có biện pháp phòng trị để hạn chế tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở lợn, từ đó góp phần phòng chống bệnh sán dây và bệnh gạo ở người. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosaegây ra ở lợn (bệnh gạo lợn) tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên”.

Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Nghiên cứu tình hình mắc bệnh gạo lợn tại một số xã của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên để xây dựng biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh. - Tình hình nhiễm sán dây Taenia solium ở người. - Nghiên cứu bệnh gạo ở lợn.

Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosaegây ra trên lợn tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, có một số đóng góp mới cho khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học đểngười chăn nuôi nhận biết về bệnh để cóbiện pháp phòng bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosaegây ra, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên lợn và người. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.

Điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 2. Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lí Huyện Mường Ảng được thành lập theoNghị định 135/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ, trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích và dân số của huyện Tuần Giáo cũ và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 4 năm 2007.Huyện nằm ở phía Đông tỉnh Điện Biên, trung tâm huyện là thị trấn Mường Ảng có vị trí địa lý 210 30' vĩ độ Bắc; 1030 15' kinh Đông. Địa giới hành chính của huyện được xác định như sau: - Phía Bắc giáp huyện Tuần Giáo và huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên. - Phía Nam giáp tỉnh Sơn La và huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên.

- Phía Đông giáp huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên. - Phía Tây giáp huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên. - Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện: 44. Đặc điểm khí hậu Khí hậu của huyện mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của khí hậu vùng núi Tây Bắc Việt Nam, đó là khí hậu nhiệt đới, có hai mùa rõ rệt: -Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

-Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 tới tháng 10. -Nhiệt độ trung bình đạt khoảng 21 - 23oC. -Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm đạt khoảng 86 - 90%. Điều kiện khí hậu ở Mường Ảng thích hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi, đây là một trong những điều kiện thuận lợi để huyện có thể đẩy mạnh phát triển sản xuất đa dạng các loại sản phẩm hàng hoá.

n 4 Đặc điểm về thuỷ văn Là một huyện có hệ thống sông và suối tương đối ít và khá đơn giản. Trên toàn huyện không có sông lớn. Hệ thống suối của Mường Ảng chủ yếu bao gồm 4 con suối chính đó là: Suối Nậm Lạn, Nậm Lịch, Nậm Cô và Nậm Ẳng. Hệ thống suối của Mường Ảng có đặc điểm đều bắt nguồn từ các đỉnh núi cao, có độ dốc lớn, do vậy về mùa mưa thường dễ gây lũ đột ngột.

Địa hình và đất đai Địa hình Mường Ảng bị chia cắt phức tạp, hình thành bởi các dãy núi cao, sườn dốc, phần lớn các đỉnh núi có độ dốc cao từ 1.600m so với mặt nước biển. Nằm xen với các dãy núi đá vôi là những thung lũng hẹp, khá bằng phẳng phân bổ dọc theo các sông, suối trên địa bàn. - Tổng diện tích (ha): 44. - Đất nông nghiệp (ha): 11.

- Đất Lâm nghiệp (ha): 30. - Đất chưa khai thác (ha): 91. Đặc điểm về môi trường và thiên tai Hiện nay môi trường của Mường Ảng đã và đang bị xâm hại, diện tích rừng bị suy giảm trong một thời gian dài, hiện tượng sói mòn, sạt lở đất đaithường xảy ra vào mùa mưa, gây thiệt hại lớn đến sản xuất và cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện. Là một huyện vùng cao của khu vực Tây Bắc, Mường Ảng cũng như nhiều huyện khác thường xuyên chịu ảnh hưởng của hiện tượng dông,mưa đá, sươngmuối.

Điều kiện kinh tế, xã hội Huyện Mường Ảng là một trong 62 huyện nghèo theo nghị quết 30A của Chính Phủ. n 5 Toàn huyện có 9 xã và 1 thị trấn, trong đó: có 8 xã vùng III hưởng chính sách 135,01 xã vùng II (có 4 bản được hưởng chính sách 135) và 01 xã vùng I. Tỷ lệ đói nghèo: 56,33%. Dân số của toàn huyện là: 45.095 người (tính đến 31/6/2016), trong đó: Dân tộc Thái: 78,1%; Mông: 11,8%; Kinh: 8,43%; dân tộc khác: 1,67%.

Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động là: 29,822 người. Nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.Trình độ dân trí thấp và không đồng đều giữa các vùng.Cơ sở vật chất trang thiết bị còn nhiều thiếu thốn và chưa được đầu tư đồng bộ,100% số xã cơ sở hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn.Đa số đường giao thông đi từ trung tâm huyện đến xã đa số chỉ đi được vào mùa khô. Toàn huyện có 2 xã chưa có điện lưới quốc gia đó là: xã Mường Lạn và xã Lậm Lịch. Dân số Dân số trung bình của huyện năm 2016 là 45,095 người, trong đó dân số nông thôn có 40,586 người chiếm 90% tổng dân số của huyện.

Mật độ dân số đạt 101 người/km2, phân bố không đều ở các xã trong huyện. Phần lớn dân số tập trung đông ở các xã nằm ven trục quốc lộ 279 và các tuyến đường liên xã như: Búng Lao, Ẳng Tở, Ẳng Nưa, Ẳng Cang, Thị trấn Mường Ảng. Trong thời gian qua Mường Ảng đã thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, tỷ lệ tăng tự nhiên đã đạt mức 1,78% ở năm 2016. Là huyện mới thành lập nên số lượng dân cư ở các vùng chưa được ổn định, đặc biệt ở khu vực thị trấn Mường Ảng.

Hiện nay, tỷ lệ dân số thành thị của huyện chiếm một tỷ lệ thấp (gần 10%) so với tổng số dân của toàn huyện.Đây là chỉ tiêu phản ánh trình độ đô thị hoá của huyện còn khiêm tốn trong thời gian qua. Trên cơ sở phát triển qui mô dân số ở từng giai đoạn, huyện cần có kế hoạch bố trí dân cư theo hướng tập trung có gắn với việc bố trí phát triển đô thị cùng các trung tâm thị trấn, thị tứ và các vùng sản xuất hàng hóa tập n 6 trung.Đối với khu vực thị trấn Mường Ảng, đây là trung tâm đầu não của huyện, hiện nay đã được qui hoạch khá chi tiết, do vậy cần được triển khai và giám sát việc thực hiện theo qui hoạch một cách nghiêm túc ngay từ bây giờ đối với tất cả các lĩnh vực như: bố trí tổ chức không gian lãnh thổ, bố trí các điểm dân cư, các cơ sở sản xuất, các cơ quan hành chính, khu vui chơi giải trí… dự báo đến năm 2025 qui mô dân số ở đây sẽ đạt khoảng 12,000 - 13,000 người. Đối với các khu vực: thị tứ Búng Lao, khu vực Ngối Cáy cần phải có qui hoạch phát triển cụ thể ở từng thời kỳ để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và tạo sự ổn định về đời sống cho ngườidân.3 Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở trong ba năm gần đây Phát huy lợi thế về đất đai, nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp, những năm qua huyện Mường Ảng khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi gia súc theo hướng hàng hóa, từng bước đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính giúp nhiều hộ dân thoát nghèo bền vững. Huyện đã đẩy mạnh tuyên truyền vận động nhân dân phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng trang trại, gia trại, nhân rộng những mô hình chăn nuôi tiêu biểu (vườn - ao - chuồng, vườn - ao - chuồng - rừng).

Cùng với đó huyện cũng thực hiện hiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi theo hình thức trang trại tập chung; hỗ trợ tiêm phòng vắc xin, chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm; hỗ trợ bạt cho các hộ nghèo che chắn chuồng trại; hỗ trợ cho hộ dân có gia súc bị chết rét, dịch bệnh… đến nay, toàn huyện có 7.668 con gia cầm. Với những chính sách phù hợp, bước đầu đã làm thay đổi tư duy, tập quán sản xuất từ hình thức chăn nuôi tự do, nhỏ lẻ của người dân địa phương sang chăn nuôi tập chung theo hướng sản xuất hàng hóa. Nhiệm kỳ 2015 - 2020, huyện Mường Ảng phấn đấu tốc độ tăng trưởng đàn gia súc 4 - 5% năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus Cellulosae tại huyện Mường Ảng, Điện Biên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự xuất hiện và tác động của bệnh gạo lợn, một vấn đề nghiêm trọng trong chăn nuôi lợn tại khu vực này. Nghiên cứu không chỉ phân tích nguyên nhân gây bệnh mà còn đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giúp người chăn nuôi nâng cao nhận thức và cải thiện sức khỏe đàn lợn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các bệnh liên quan đến động vật và các biện pháp xử lý, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trên trâu bò của huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, nơi nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu bò để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do ấu trùng cysticercus cellulosae gây ra ở lợn bệnh gạo lợn tại tỉnh Sơn La cũng sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết về bệnh gạo lợn, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai quan tâm đến sức khỏe động vật và các biện pháp quản lý bệnh tật trong chăn nuôi.