Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Chăn nuôi - Thú y của sinh viên Trần Nam Hải (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, thực hiện năm 2014 dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Quang và NCS. Nguyễn Thu Trang) tập trung giải quyết vấn đề dịch tễ học và phòng chống bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa chó và gia súc nhai lại.

Tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phổ Yên nói riêng, phương thức chăn nuôi chó (cả chó cảnh lẫn chó thịt) phát triển nhanh nhưng tập quán thả rông còn phổ biến. Đồng thời, công tác kiểm soát giết mổ gia súc tại các lò mổ tư nhân và hộ gia đình chưa được quản lý chặt chẽ, tạo điều kiện cho các chu kỳ ký sinh trùng hoàn thành và phát tán mầm bệnh ra môi trường. Trong số các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa, bệnh ấu sán cổ nhỏ (Cysticercus tenuicollis) – dạng ấu trùng của loài sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở chó – gây thiệt hại nặng nề cho đàn gia súc thông qua việc phá hủy nhu mô gan, gây viêm phúc mạc, xuất huyết nội quan và làm suy giảm sức đề kháng của vật nuôi.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ tính chất khó chẩn đoán của bệnh trên gia súc sống: ấu trùng cư trú tại màng treo ruột, màng mỡ chài, bề mặt gan và lách nên không thể phát hiện bằng các xét nghiệm phân thông thường. Kỹ thuật chọc dò dịch xoang bụng tiềm ẩn nhiều rủi ro gây tổn thương cơ quan nội tạng. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống các chỉ số dịch tễ học thực địa là cơ sở khoa học duy nhất để xác lập biện pháp khống chế căn bệnh này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  1. Xác định tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở đàn dê nuôi tại huyện Phổ Yên theo các yếu tố: địa bàn phân bố, lứa tuổi, tính biệt và thời gian (các tháng).
  2. Xác định thành phần loài sán dây ký sinh ở chó và mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó với tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê tại địa phương.
  3. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra trên đàn dê phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn dê và đàn chó nuôi ở các lứa tuổi khác nhau; ấu trùng Cysticercus tenuicollis thu thập trên dê và các loài sán dây ký sinh trong đường tiêu hóa của chó.
  • Phạm vi không gian: Thực địa tại 3 xã đại diện của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên gồm xã Tân Phú, xã Tân Hương và xã Trung Thành; phân tích và định loại mẫu vật tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y (Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và Phòng Ký sinh trùng (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình theo dõi, mổ khám, thu thập số liệu và thử nghiệm thuốc thực hiện từ ngày 09/12/2013 đến ngày 31/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở khoa học và phân loại học

Khóa luận xây dựng trên hệ thống phân loại sán dây của Schulz và Gvozdev (1970), phối hợp khóa định loại hình thái của Phan Thế Việt và cộng sự (1977) cùng Nguyễn Thị Kỳ (2003). Vị trí phân loại của các loài sán dây ký sinh ở chó được xác định thuộc ngành Sán dẹp (Plathelminthes), lớp Cestoda, phân lớp Eucestoda, bao gồm hai bộ chính:

  • Bộ Pseudophyllidea (họ Diphyllobothriidae: giống Spirometra với các loài S. erinacei-europaei, S. mansonoides).
  • Bộ Cyclophyllidea (họ Dipylidiidae: loài Dipylidium caninum; họ Taeniidae: các loài Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Echinococcus granulosus, Multiceps multiceps; họ Mesocestoididae: loài Mesocestoides lineatus).

Vòng đời sinh học của Taenia hydatigena diễn ra qua hai ký chủ: Chó là ký chủ cuối cùng mang sán trưởng thành trong ruột non (chiều dài cơ thể đạt 5000 mm, gồm 550–700 đốt, vòi mang 26–44 móc). Đốt sán già rụng ra môi trường giải phóng hàng ngàn trứng. Ký chủ trung gian (dê, cừu, lợn, trâu, bò) nuốt phải trứng lẫn trong cỏ hoặc nước uống; phôi 6 móc nở ra xuyên qua niêm mạc ruột vào tĩnh mạch cửa, di hành tạo rãnh phá hủy nhu mô gan trong khoảng 30 ngày trước khi thoát ra xoang bụng, định vị tại màng treo ruột, màng mỡ chài và phát triển thành nang ấu trùng Cysticercus tenuicollis (kích thước 8–80 x 8–100 mm) chứa đầu sán sau 35–55 ngày.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm

  • Phương pháp lấy mẫu: Áp dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng theo Nguyễn Như Thanh (2001) để thu thập mẫu dê và chó tại 3 xã điều tra.
  • Phương pháp mổ khám dê: Thực hiện mổ khám phi toàn diện trên 203 con dê. Bộc lộ toàn bộ xoang ngực và xoang bụng, kiểm tra kỹ lưỡng bề mặt gan, lách, phổi, màng mỡ chài, màng treo ruột để phát hiện, đếm số lượng bọc nang ấu trùng và cố định mẫu trong cồn 70°.
  • Phương pháp mổ khám và định loài sán dây ở chó: Tiến hành mổ khám phi toàn diện hệ tiêu hóa trên 412 con chó. Thu thập toàn bộ sán dây trong ruột, làm chết tự nhiên trong nước lã, rửa sạch bằng nước cất và bảo quản trong cồn 70°. Quy trình định loại gồm:
    • Làm tiêu bản tạm thời (tiêu bản trong) bằng hỗn hợp glyxerin : axit lactic : nước cất (tỷ lệ thể tích 1:1:1) để quan sát nhanh cấu tạo giác bám và vòng móc trên đầu sán.
    • Làm tiêu bản cố định: Ép mẫu giữa hai lam kính, nhuộm bằng thuốc nhuộm Carmin (10–15 phút), khử nước qua dãy cồn tăng dần (70°, 80°, 96°, 100°), làm trong bằng xylen và bao phủ bằng chất gắn Baume-Canada trước khi soi kính hiển vi quang học.
  • Phương pháp xét nghiệm phân: Dùng phương pháp lắng cặn Benedek (1943) tìm đốt sán trên đĩa Petri đáy đen và phương pháp nổi Fülleborn tìm trứng sán.
  • Phương pháp thử nghiệm hiệu lực thuốc: Lựa chọn 40 con chó nhiễm sán dây nặng tại 2 xã (Tân Phú, Tân Hương), chia lô thử nghiệm điều trị bằng 2 loại hoạt chất: Niclosamid (liều 100 mg/kg thể trọng) và Praziquantel (liều 10 mg/kg thể trọng) qua đường uống. Đánh giá hiệu lực sau 15 ngày dựa trên xét nghiệm phân bằng phương pháp Benedek.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng các công thức thống kê sinh học thú y theo Nguyễn Văn Thiện (2008) và phần mềm Minitab 14.0 để tính toán tỷ lệ %, cường độ nhiễm và phân tích hệ số tương quan.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng chăn nuôi gia súc và kiểm soát dịch bệnh truyền lây tại huyện Phổ Yên. Xác định rõ mục tiêu, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu ký sinh trùng học thú y tại Thái Nguyên và ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng quy trình can thiệp giảm thiểu tổn thất kinh tế cho người chăn nuôi dê.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về hình thái, phân loại học của 8 loài sán dây chó thường gặp ở Việt Nam; mô tả chi tiết cơ chế bệnh sinh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis khi di hành qua nhu mô gan gây viêm gan chấn thương, viêm phúc mạc dính và tràn dịch fibrin; tổng kết các phương pháp chẩn đoán lâm sàng, cận lâm sàng, xét nghiệm miễn dịch học (kháng nguyên 36–66 kDa) và phác đồ điều trị hóa dược (Albendazole, Praziquantel, Niclosamid).

Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa điểm, vật liệu thí nghiệm (hóa chất nhuộm Carmin, máy phân tích máu Osmetech OPTI-CCA, kính hiển vi), quy trình bố trí điều tra mổ khám 203 con dê và 412 con chó; quy chuẩn phân loại lứa tuổi dê thành 4 nhóm (≤6 tháng, >6–12 tháng, >12–24 tháng, >24 tháng); các bước làm tiêu bản hình thái học và thiết kế thử nghiệm thuốc tẩy sán trên 40 con chó tại 2 xã Tân Phú và Tân Hương.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung toàn bộ dữ liệu thực nghiệm gồm 4 nội dung chính:

  1. Đặc điểm dịch tễ nhiễm ấu trùng ở dê: Phân tích tỷ lệ nhiễm chung, sự biến động theo địa bàn 3 xã, theo 4 nhóm tuổi, theo tính biệt và theo tiến trình thời gian 5 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5/2014).
  2. Đặc điểm nhiễm sán dây ở chó: Khảo sát thành phần loài sán dây, xác định tỷ lệ bắt gặp từng loài (Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps), tỷ lệ và cường độ nhiễm Taenia hydatigena ở chó tại 3 xã.
  3. Tương quan dịch tễ: Đánh giá mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê trên từng địa bàn xã.
  4. Biện pháp can thiệp: Đánh giá kết quả thử nghiệm tẩy trừ sán dây trên chó bằng Niclosamid và Praziquantel; đề xuất quy trình kỹ thuật phòng trị tổng hợp tại nông hộ.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Đúc kết các chỉ số khoa học đạt được từ nghiên cứu thực địa; chỉ ra các điểm còn hạn chế do thời gian thực tập ngắn và đề xuất các giải pháp quản lý dịch tễ cho Trạm Thú y huyện Phổ Yên cùng các cơ sở chăn nuôi.


Kết quả và đóng góp

1. Dữ liệu dịch tễ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở đàn dê

Qua mổ khám 203 con dê tại 3 xã thuộc huyện Phổ Yên, tác giả ghi nhận 31 con nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis, đạt tỷ lệ nhiễm chung là 15,27% với cường độ nhiễm dao động từ 1 đến 11 ấu trùng/con.

Tiêu chí phân loại Nhóm khảo sát Số mổ khám (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (ấu trùng/con)
Theo địa phương (xã) Tân Phú 67 11 16,41 1 – 8
Tân Hương 71 13 18,30 1 – 11
Trung Thành 65 7 10,76 1 – 7
Theo lứa tuổi ≤ 6 tháng 23 2 8,69 1 – 4
> 6 – 12 tháng 37 4 10,81 1 – 7
> 12 – 24 tháng 65 10 15,38 1 – 8
> 24 tháng 78 15 19,23 1 – 11
Theo tính biệt Dê đực 94 13 13,82 1 – 8
Dê cái 109 18 16,51 1 – 11
Theo tháng theo dõi Tháng 1 40 5 12,50 1 – 8
Tháng 2 39 5 12,82 1 – 7
Tháng 3 40 6 15,00 1 – 11
Tháng 4 41 7 17,07 1 – 5
Tháng 5 43 8 18,60 1 – 8
Tổng số chung 203 31 15,27 1 – 11

2. Dữ liệu thành phần loài và tình hình nhiễm sán dây ở chó

Mổ khám 412 con chó tại 3 xã đã phát hiện 4 loài sán dây đường tiêu hóa. Tần suất xuất hiện của các loài tại các xã:

  • Dipylidium caninum: xuất hiện ở 3/3 xã (100%).
  • Taenia hydatigena: xuất hiện ở 3/3 xã (100%).
  • Taenia pisiformis: xuất hiện ở 2/3 xã (66,67%).
  • Multiceps multiceps: xuất hiện ở 1/3 xã (33,33%).
Địa bàn xã Số chó mổ khám (con) Số chó nhiễm T. hydatigena (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (sán dây/con)
Tân Phú 145 44 30,34 4 – 30
Tân Hương 152 59 38,81 5 – 35
Trung Thành 115 32 27,82 1 – 27
Tính chung 412 135 32,76 1 – 35

3. Tương quan dịch tễ học và hiệu lực tẩy sán

  • Tương quan: Tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê có sự đồng biến rõ rệt giữa các xã: Xã Tân Hương có tỷ lệ nhiễm cao nhất ở cả chó (38,81%) và dê (18,30%); tiếp đến là xã Tân Phú (chó 30,34%, dê 16,41%); thấp nhất là xã Trung Thành (chó 27,82%, dê 10,76%).
  • Thử nghiệm thuốc tẩy sán trên chó: Triển khai trên 40 con chó chia đều cho 2 loại thuốc (Niclosamid 100 mg/kg thể trọng và Praziquantel 10 mg/kg thể trọng) tại xã Tân Phú và Tân Hương cho thấy cả hai phác đồ đều mang lại hiệu quả tẩy trừ sán dây rõ rệt khi kiểm tra lại phân sau 15 ngày.

4. Giải pháp và đóng góp của đề tài

  • Giải pháp phòng chống đề xuất:
    • Không cho chó ăn nội tạng gia súc sống chứa bọc nước/nang sán; thu gom và tiêu hủy triệt để phủ tạng nhiễm ấu trùng khi giết mổ dê.
    • Định kỳ tẩy sán dây cho đàn chó nuôi bằng Praziquantel hoặc Niclosamid (tối thiểu 2–3 lần/năm).
    • Quản lý phân chó, không thả rông chó tại các bãi chăn thả dê; giữ vệ sinh nguồn thức ăn thô xanh và nguồn nước uống cho dê.
  • Đóng góp mới: Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm đầu tiên có hệ thống về dịch tễ ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên dê và sán dây trên chó tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xác lập cơ sở khoa học để Trạm Thú y huyện triển khai quy trình phòng chống dịch bệnh ký sinh trùng liên loài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Thời gian điều tra thực địa chỉ diễn ra trong 6 tháng (từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014), chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ 12 tháng quanh năm để đánh giá đầy đủ tác động của biến thiên thời tiết các mùa đến sức sống của trứng sán ngoài môi trường.
    • Phạm vi khảo sát tập trung tại 3 xã của huyện Phổ Yên, chưa mở rộng ra các huyện chăn nuôi dê trọng điểm khác thuộc tỉnh Thái Nguyên.
    • Chưa ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học (ELISA tìm kháng nguyên/kháng thể) trên đàn dê sống mà chủ yếu dựa trên mổ khám sau giết mổ.
    • Đánh giá hiệu lực thuốc tẩy sán ở chó sau 15 ngày mới dừng ở xét nghiệm phân bằng phương pháp lắng cặn Benedek, chưa tiến hành mổ khám kiểm tra triệt để toàn bộ đường ruột sau tẩy.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng điều tra dịch tễ học trọn vẹn theo 4 mùa trên quy mô toàn tỉnh Thái Nguyên.
    • Nghiên cứu ứng dụng các bộ kit chẩn đoán miễn dịch học trên mẫu huyết thanh dê sống để phát hiện sớm con vật nhiễm bệnh trước khi đưa vào giết mổ.
    • Thử nghiệm phác đồ điều trị ấu trùng trực tiếp trên dê bị nhiễm bằng các hoạt chất liều cao kết hợp theo dõi tổn thương vi thể gan.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y, Ký sinh trùng học động vật, Bệnh học thú y.
    • Cán bộ kỹ thuật tại Trạm Thú y cấp huyện/thị xã, kiểm sát viên thú y tại các cơ sở giết mổ gia súc tập trung.
    • Kỹ sư chăn nuôi, chủ các trang trại và nông hộ nuôi dê thương phẩm.
  • Nội dung đáng giá để tham khảo:
    • Bản mô tả chi tiết phương pháp làm tiêu bản tạm thời và tiêu bản cố định nhuộm Carmin cho sán dây ký sinh.
    • Bộ số liệu đối chứng về tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis theo lứa tuổi và tính biệt trên đàn dê miền núi phía Bắc.
    • Quy trình phối hợp xử lý dịch tễ học kép giữa vật chủ cuối cùng (chó) và ký chủ trung gian (dê).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê tại huyện Phổ Yên là bao nhiêu?

Qua mổ khám 203 con dê tại 3 xã (Tân Phú, Tân Hương, Trung Thành), tỷ lệ nhiễm chung là 15,27% (31 con nhiễm). Cường độ nhiễm chung dao động từ 1 đến 11 ấu trùng/con. Trong đó, xã Tân Hương có tỷ lệ nhiễm cao nhất (18,30%, cường độ 1–11 ấu trùng/con), tiếp theo là xã Tân Phú (16,41%, cường độ 1–8 ấu trùng/con) và thấp nhất là xã Trung Thành (10,76%, cường độ 1–7 ấu trùng/con).

2. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán ở dê biến động như thế nào theo lứa tuổi và tính biệt?

Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi: dê ≤6 tháng tuổi nhiễm thấp nhất (8,69%), nhóm >6–12 tháng tuổi là 10,81%, nhóm >12–24 tháng tuổi là 15,38%, và nhóm dê già >24 tháng tuổi nhiễm cao nhất (19,23%). Về tính biệt, dê cái có tỷ lệ nhiễm (16,51%) cao hơn dê đực (13,82%), điều này được giải thích do dê cái thường được nuôi thời gian dài hơn để sinh sản, làm tăng thời gian tiếp xúc với mầm bệnh.

3. Nghiên cứu đã phát hiện những loài sán dây nào trên chó tại địa bàn khảo sát?

Mổ khám 412 con chó đã phát hiện 4 loài sán dây đường tiêu hóa gồm: Dipylidium caninum (tỷ lệ gặp 100%), Taenia hydatigena (tỷ lệ gặp 100%), Taenia pisiformis (tỷ lệ gặp 66,67%) và Multiceps multiceps (tỷ lệ gặp 33,33%). Tỷ lệ nhiễm riêng loài Taenia hydatigena ở đàn chó đạt 32,76% (135/412 con) với cường độ 1–35 sán dây/con.

4. Phương pháp thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó được tiến hành với những loại thuốc và liều lượng nào?

Nghiên cứu lựa chọn 40 con chó có cường độ nhiễm sán dây cao tại 2 xã Tân Phú và Tân Hương, thử nghiệm 2 loại thuốc qua đường uống: Niclosamid với liều 100 mg/kg thể trọng và Praziquantel với liều 10 mg/kg thể trọng. Hiệu lực tẩy sán được đánh giá sau 15 ngày thông qua xét nghiệm phân tìm đốt sán bằng phương pháp lắng cặn Benedek.

5. Tại sao việc chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên dê sống lại gặp nhiều khó khăn?

Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở bao gan, màng treo ruột, màng mỡ chài, lách và phổi chứ không cư trú trong lòng ống tiêu hóa, do đó không thể phát hiện trứng hay đốt sán qua xét nghiệm phân. Triệu chứng lâm sàng ở thể mãn tính thường không đặc trưng (gầy yếu, chướng bụng nhẹ), còn phương pháp chọc dò dịch xoang bụng rất khó thực hiện và có nguy cơ gây tổn hại nội quan cho gia súc sống.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Nam Hải đã phản ánh chân thực và chi tiết bức tranh dịch tễ học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên đàn dê và bệnh sán dây Taenia hydatigena trên đàn chó tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu khẳng định sự lưu hành phổ biến của mầm bệnh (15,27% ở dê và 32,76% ở chó) cùng mối tương quan chặt chẽ về phân bố địa lý giữa hai loại vật chủ. Các kết quả thực nghiệm về quy trình định loại ký sinh trùng và phác đồ tẩy sán cho chó bằng Praziquantel, Niclosamid là tài liệu khoa học có giá trị ứng dụng cao cho công tác thú y thực hành tại địa phương.