Tổng quan nghiên cứu

Bệnh lở mồm long móng là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hàng đầu ở động vật móng guốc chẵn, được Tổ chức Thú y Thế giới xếp ở vị trí số 1 trong Bảng danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Tại tỉnh Quảng Ninh, trong giai đoạn từ tháng 1/2018 đến tháng 6/2020, tổng đàn trâu bò duy trì từ 66.395 đến 72.481 con và đàn lợn dao động từ 228.841 đến 430.982 con. Do đặc thù địa bàn là đầu mối giao thương và trung chuyển hàng hóa quốc tế giáp ranh với Trung Quốc, nguy cơ phát tán và bùng phát dịch bệnh qua hoạt động vận chuyển động vật luôn ở mức rất cao. Vấn đề cốt lõi đặt ra là phải theo dõi sát sao quy luật lưu hành dịch tễ và đánh giá chính xác hiệu lực của biện pháp tiêm phòng bằng vaccine.

Mục tiêu cụ thể của luận văn thạc sĩ là phân tích diễn biến dịch bệnh trên đàn trâu, bò, lợn tại 14 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh; xác định đặc tính mùa vụ, tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết; định type virus gây bệnh và đánh giá đáp ứng miễn dịch của đàn gia súc sau khi tiêm vaccine Aftopor. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 8/2019 đến tháng 8/2020, xử lý dữ liệu dịch tễ học trong 30 tháng liên tiếp. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở khoa học vững chắc giúp cơ quan chuyên môn nâng cao tỷ lệ bảo hộ của đàn vật nuôi đạt trên 80%, giảm thiểu tổn thất kinh tế cho hơn 30 hộ chăn nuôi tại các điểm nóng có dịch và đề xuất giải pháp kiểm soát an toàn sinh học hiệu quả cho toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết dịch tễ học thú y học truyền nhiễm và cơ chế sinh bệnh học phân tử của virus gây bệnh lở mồm long móng thuộc họ Picornaviridae, chi Aphthovirus. Virus có kích thước siêu nhỏ từ 20 đến 28 nm với bộ gen ARN sợi đơn dương dài khoảng 8,4 kilobase. Trên thế giới ghi nhận 7 serotype chính gồm A, O, C, SAT 1, SAT 2, SAT 3 và Asia 1 với hơn 60 phân type khác nhau. Tại Việt Nam, 3 serotype đã xuất hiện là A, O và Asia 1, trong đó serotype O là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất. Khung lý thuyết tập trung vào 4 khái niệm then chốt: tính đa dạng kháng nguyên của cấu trúc capsid (VP1, VP2, VP3, VP4), cơ chế lây truyền qua đường hô hấp và tiêu hóa, trạng thái động vật mang trùng kéo dài trên 28 ngày, và nguyên lý miễn dịch học dịch thể bảo hộ bằng kháng thể trung hòa. Đặc biệt, protein VP1 giữ vai trò quyết định trong việc kích thích cơ thể sản sinh kháng thể đặc hiệu và xác định quan hệ phả hệ phân tử của các biến chủng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp dịch tễ học hồi cứu từ cơ sở dữ liệu của Cục Thống kê và Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Quảng Ninh với phương pháp điều tra cắt ngang có thực nghiệm phân tích phòng thí nghiệm. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 165 mẫu bệnh phẩm biểu mô thu thập từ các cá thể gia súc phát bệnh lâm sàng và hơn 300 mẫu huyết thanh thu thập từ đàn trâu, bò, lợn nái tại các huyện trọng điểm như Ba Chẽ, Bình Liêu, Đông Triều. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo vùng sinh thái và lịch sử tiêm phòng được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao.

Phương pháp phân tích RT-PCR theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8400-1:2010 được lựa chọn để định type virus vì cho độ nhạy và độ đặc hiệu tối ưu trong vòng 24 giờ. Kỹ thuật Liquid Phase Blocking ELISA (LPB-ELISA) ở độ pha loãng 1/64 cùng bộ kít ELISA FMD-3ABC do Thụy Sĩ sản xuất được sử dụng để định lượng hiệu giá kháng thể và phân biệt kháng thể do tiêm phòng vaccine với kháng thể do nhiễm virus thực địa. Dữ liệu dịch tễ được xử lý thống kê bằng phần mềm chuyên dụng trong khoảng thời gian từ tháng 8/2019 đến tháng 8/2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, dịch lở mồm long móng xảy ra cục bộ tại 5 trên 14 địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh (huyện Ba Chẽ, huyện Bình Liêu, thị xã Đông Triều, huyện Hoành Bồ và thành phố Uông Bí), ghi nhận 9 xã có dịch trên trâu bò và 6 xã có dịch trên lợn trong giai đoạn từ tháng 1/2018 đến tháng 6/2020.

Thứ hai, tỷ lệ mắc bệnh trên đàn trâu bò ở mức thấp nhưng tăng nhẹ: năm 2018 là 0,00% (0 con); năm 2019 là 0,19% (146 con) với tỷ lệ chết 1,37% (2 con); nửa đầu năm 2020 là 0,24% (159 con) với tỷ lệ chết 1,26% (2 con). Ngược lại, trên đàn lợn, tỷ lệ chết và tiêu hủy rất nghiêm trọng: năm 2018 có 105 con mắc bệnh (0,02%) với 45 con chết và tiêu hủy (42,86%); năm 2019 có 229 con mắc bệnh (0,10%) với 207 con chết và tiêu hủy, chiếm tỷ lệ lên tới 90,39%.

Thứ ba, dịch bệnh thể hiện tính mùa vụ rõ rệt trên đàn trâu bò: tỷ lệ mắc cao nhất vào mùa Thu chiếm 47,87% (146 con), tiếp đến là mùa Xuân chiếm 30,82% (94 con), mùa Đông chiếm 21,31% (65 con) và hoàn toàn không ghi nhận ca bệnh nào trong mùa Hè (0,00%).

Thứ tư, 100% mẫu bệnh phẩm xét nghiệm đều cho kết quả dương tính với virus serotype O. Vaccine Aftopor nhũ dầu đơn giá type O được tiêm phòng tạo đáp ứng miễn dịch cao với tỷ lệ mẫu đạt hiệu giá bảo hộ trên 80% sau 30 và 60 ngày tiêm.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ chết giữa trâu bò (dưới 1,4%) và lợn (lên tới 90,39%) phản ánh rõ cơ chế bệnh học: lợn non mắc bệnh thường bị biến chứng viêm cơ tim cấp tính dẫn đến tử vong nhanh chóng, kết hợp với chính sách tiêu hủy bắt buộc toàn bộ ổ dịch lợn để dập dịch triệt để. Dữ liệu này có thể được trình bày một cách trực quan thông qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết giữa các nhóm vật nuôi, giúp các nhà quản lý nhận diện mức độ thiệt hại kinh tế nghiêm trọng trên đàn lợn.

Quy luật bùng phát tập trung vào mùa Thu và vụ Đông - Xuân giải thích bởi điều kiện thời tiết ẩm ướt, nhiệt độ thay đổi đột ngột làm suy giảm sức đề kháng của vật nuôi, đồng thời tạo môi trường lý tưởng cho virus tồn tại và phát tán qua luồng không khí. So sánh với các nghiên cứu giai đoạn 2010 - 2012 tại Quảng Ninh khi tỷ lệ mắc ở trâu bò từng lên tới 3,93% và tỷ lệ chết là 8,03%, các chỉ số trong giai đoạn 2018 - 2020 đã giảm mạnh. Sự cải thiện này khẳng định vai trò quyết định của chương trình tiêm phòng vaccine định kỳ và công tác kiểm dịch chặt chẽ tại các xã biên giới huyện Bình Liêu và Ba Chẽ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tổ chức tiêm phòng bắt buộc vaccine Aftopor đơn giá type O cho tối thiểu 85% tổng đàn trâu, bò, lợn nái trên toàn địa bàn, chia làm 2 đợt chính vào tháng 3 - 4 và tháng 9 - 10 hàng năm trước khi bước vào mùa dịch cao điểm, do Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Quảng Ninh chủ trì điều hành.

Thứ hai, thiết lập quy trình kiểm soát vận chuyển động vật nghiêm ngặt tại 100% các trạm kiểm dịch đầu mối và đường mòn biên giới, đặc biệt tại khu vực thành phố Móng Cái và huyện Hải Hà, nhằm ngăn chặn triệt để nguồn virus ngoại lai xâm nhập, giao lực lượng quản lý thị trường phối hợp thú y cơ sở thực hiện liên tục từ năm 2021 đến 2025.

Thứ ba, duy trì chương trình giám sát huyết thanh học chủ động định kỳ 6 tháng một lần bằng phương pháp LPB-ELISA và RT-PCR với quy mô tối thiểu 200 mẫu/năm nhằm đánh giá độ dài kháng thể bảo hộ và phát hiện sớm các biến chủng mới, do Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương phối hợp thực hiện.

Thứ tư, áp dụng chế độ tiêu độc khử trùng chuồng trại bằng vôi bột hoặc hóa chất sát trùng định kỳ 1 đến 2 lần/tuần tại 100% các hộ chăn nuôi thuộc vùng nguy cơ cao như Bình Liêu, Ba Chẽ, Đông Triều, do Ủy ban nhân dân cấp xã đôn đốc các hộ gia đình thực hiện thường xuyên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý và cán bộ thú y địa phương: Sử dụng số liệu dịch tễ chi tiết tại 14 huyện thị và tỷ lệ mắc bệnh 0,24% trên trâu bò để xây dựng bản đồ cảnh báo dịch tễ, phân bổ dự toán ngân sách mua vaccine phòng dịch hàng năm một cách chuẩn xác.

Các chủ trang trại và hộ chăn nuôi gia súc: Tham khảo quy luật phát bệnh theo mùa (tập trung 47,87% vào mùa Thu) và lịch tiêm phòng 2 lần/năm để chủ động vệ sinh chuồng trại, hạn chế rủi ro thất thoát đàn vật nuôi do dịch bệnh.

Các nhà khoa học và giảng viên chuyên ngành Thú y: Khai thác quy trình chẩn đoán RT-PCR kết hợp LPB-ELISA ở nồng độ pha loãng 1/64 làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về bệnh truyền nhiễm móng guốc chẵn tại Việt Nam.

Học viên cao học và sinh viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Tiếp cận phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa điều tra hồi cứu diện rộng trên hơn 70.000 con gia súc với thực nghiệm cận lâm sàng chuẩn mực để làm tiền đề phát triển các đề tài luận văn liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Type virus lở mồm long móng nào đang lưu hành chủ yếu tại tỉnh Quảng Ninh? Toàn bộ các mẫu bệnh phẩm biểu mô thu thập từ các ổ dịch trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn nghiên cứu qua kiểm tra RT-PCR đều thuộc serotype O. Kết quả này là căn cứ khoa học để tỉnh tiếp tục sử dụng vaccine đơn giá type O nhằm đạt hiệu quả bảo hộ cao nhất.

Thời điểm nào trong năm đàn gia súc có nguy cơ mắc bệnh cao nhất? Thống kê từ 305 con trâu bò mắc bệnh cho thấy dịch bệnh tập trung cao nhất vào mùa Thu chiếm 47,87% và mùa Xuân chiếm 30,82%, trong khi mùa Hè đạt 0,00%. Các hộ chăn nuôi cần chủ động hoàn tất tiêm phòng trước tháng 9 và tháng 2 hàng năm.

Tại sao tỷ lệ chết do bệnh trên đàn lợn lại cao hơn rất nhiều so với trâu bò? Tỷ lệ lợn chết và tiêu hủy lên tới 90,39% năm 2019 trong khi ở trâu bò chỉ là 1,37%. Nguyên nhân do virus gây tổn thương cơ tim cấp tính ở lợn non và quy định thú y bắt buộc tiêu hủy toàn đàn lợn nhiễm bệnh để ngăn chặn phát tán mầm bệnh.

Vaccine Aftopor duy trì hiệu lực bảo hộ cho đàn gia súc trong thời gian bao lâu? Kết quả kiểm tra kháng thể sau tiêm phòng cho thấy vaccine Aftopor tạo đáp ứng miễn dịch bảo hộ trên 80% sau 30 ngày và duy trì hiệu giá kháng thể bảo hộ vững chắc trong khoảng 4 đến 6 tháng trước khi suy giảm, do đó cần tiêm nhắc lại 2 đợt mỗi năm.

Những huyện nào tại Quảng Ninh cần ưu tiên giám sát dịch bệnh nghiêm ngặt nhất? Huyện Bình Liêu (6 xã có dịch) và huyện Ba Chẽ (3 xã có dịch) là hai địa phương ghi nhận dịch bùng phát phức tạp nhất trong giai đoạn 2019 - 2020. Đây là các địa bàn trọng điểm cần tập trung nguồn lực tiêm phòng bao vây và giám sát vận chuyển.

Kết luận

  • Dịch lở mồm long móng tại Quảng Ninh từ tháng 1/2018 đến tháng 6/2020 xảy ra cục bộ tại 5/14 địa phương với tổng số 305 trâu bò và 334 lợn mắc bệnh.
  • Virus gây bệnh được định danh duy nhất là serotype O, không phát hiện sự lưu hành của các serotype A hay Asia 1 tại thực địa.
  • Dịch bệnh mang tính mùa vụ rõ rệt, phát sinh chủ yếu vào mùa Thu (47,87%) và mùa Xuân (30,82%), không xảy ra vào mùa Hè.
  • Tỷ lệ chết và tiêu hủy trên đàn lợn ở mức rất cao (lên đến 90,39%), trong khi tỷ lệ chết ở trâu bò duy trì dưới mức 1,37%.
  • Vaccine Aftopor nhũ dầu đơn giá type O đem lại tỷ lệ đáp ứng miễn dịch bảo hộ trên 80%, khẳng định tính phù hợp tuyệt đối với chủng virus thực địa.

Luận văn đã cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học thực chứng hoàn chỉnh và chứng minh hiệu lực thực tế của vaccine Aftopor tại tỉnh Quảng Ninh. Trong giai đoạn 2021 - 2025, ngành thú y cần tiếp tục mở rộng chương trình giám sát biến chủng định kỳ 6 tháng một lần trên toàn tỉnh. Các cơ quan chức năng và người chăn nuôi cần thực hiện nghiêm túc lịch tiêm phòng 2 đợt/năm và quy trình an toàn sinh học để bảo vệ bền vững ngành chăn nuôi địa phương.