Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình tăng huyết áp hiện nay 1. Tình hình bệnh tăng huyết áp ở một số nước trên thế giới Tăng huyết áp (THA) trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức cao, đặc biệt các nước phát triển [119]. Tại các nước phát triển, mô hình bệnh tật chuyển đổi từ các bệnh nhiễm trùng sang các bệnh không nhiễm trùng, trong đó có THA.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (Word Health Organization - WHO), THA là khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg. THA là nguyên nhân trung gian gây các bệnh lý tim mạch nguy hiểm (như tai biến mạch máu não - TBMMN và nhồi máu cơ tim) và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong của các bệnh không lây nhiễm và có tới 30% tử vong là do nguyên nhân này [119]. THA là một thách thức đối với y tế công cộng do tỷ lệ của bệnh ngày một gia tăng, nhiều biến chứng về tim mạch nặng nề và bệnh thận đi kèm. Tỷ lệ người trưởng thành bị THA trên toàn thế giới chiếm 26,4% vào năm 2000, tương đương với 972 triệu người mắc bệnh.
Tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng và dự đoán tỷ lệ này sẽ tăng lên đến 60% tương đương với 1,56 tỷ người trưởng thành bị THA trên toàn thế giới vào năm 2025 [86], [117], [118]. Điều tra tại Hoa Kỳ trên đối tượng là người trưởng thành cho thấy tỷ lệ huyết áp (HA) bình thường là 39%, 31% thuộc nhóm tiền THA và 29% là THA [68], [78]. Tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh theo tuổi ở nam là 39% so với nữ 23,1%. Nhưng tỷ lệ THA ở nam chỉ cao hơn ở nữ lứa tuổi trước 45 tuổi.
Ở độ tuổi 45 – 54 tuổi, tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam giới và ở các độ tuổi lớn hơn tỷ lệ THA ở nữ cao hơn nam [68], [78]. THA được coi là nguyên 5 nhân chủ yếu hoặc góp phần chính trong 11,4% các ca tử vong ở Mỹ năm 2003. Trong vòng 10 năm (1993 - 2003), tỷ lệ tử vong do THA tăng 29,3%, số ca tử vong tăng 56,1%. THA giai đoạn II trở lên (HA 160/95 mmHg) làm tăng nguy cơ đột quỵ thêm 4 lần so với người có HA bình thường [68], [78].
THA cũng tăng nguy cơ phát triển suy tim ứ huyết 2 - 3 lần. Năm 1999 - 2000 có tới 37,5 triệu lượt bệnh nhân phải đi khám vì THA tại Mỹ. Ước tính chi phí trực tiếp và gián tiếp cho THA năm 2003 đã lên tới 65,3 tỷ USD [68], [78]. Theo thống kê của Tổ chức y tế Thế giới năm 2005, tỷ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch chiếm đến 30% trong tổng số các bệnh không lây nhiễm [113].
Tỷ lệ mắc tăng huyết áp thay đổi ở các quốc gia như Indonesia 6-15%, Malaysia 10-11%, Hà Lan là 37%, Pháp là 10-24%, Hoa Kỳ là 24%. Tỷ lệ THA ở người cao tuổi (NCT) rất cao. Nhiều nghiên cứu ở châu Âu và Mỹ đã chỉ ra rằng tỷ lệ THA ở người cao tuổi trong khoảng 53% - 72% [67]. Theo Sarah Yoon thì tỷ lệ người cao tuổi bị THA ở Mỹ vào khoảng 64% vào năm 2008 và từ năm 1999-2008, tỷ lệ này có tăng nhẹ từ khoảng 62% đến 64% [120].
Theo một nghiên cứu ở Maracaibo, Venezuela thì tỷ lệ bệnh nhân THA ở NCT chiếm 61,2%, trong đó nam giới có tỷ lệ THA cao hơn nữ giới (67,4% so với 55,8%) [103]. Theo nghiên cứu của Shyamal Kumar Das nghiên cứu tại vùng thành thị của Ấn Độ cho thấy, tỷ lệ đối tượng từ 60-69 bị tiền THA là 48,8%, bị THA giai đoạn I là 48,2% và THA giai đoạn II là 41%, trong khi đó thì đối với đối tượng từ 70 tuổi trở lên thì tỷ lệ bị tiền THA là 49,5%, THA giai đoạn I là 36,7%, THA giai đoạn II là 43,1%. Đồng thời nhóm đối tượng từ 60-69 tuổi và trên 70 tuổi có nguy cơ bị THA giai đoạn I cao gấp 5,22 lần và 3,07 lần so với nhóm đối tượng dưới 20 tuổi. Tỷ lệ bị THA giai đoạn II ở 2 nhóm đối tượng này cao gấp 13,7 lần và 15,6 lần so 6 với nhóm đối tượng dưới 20 tuổi [74].
Tỷ lệ người cao tuổi bị THA tại Mỹ vào năm 1999-2000 là 64,2%, vào năm 2001-2002 là 65,7% và vào năm 2003-2004 là 66,3% [96]. Trong một nghiên cứu khác về THA tại Ấn Độ và Bangladesh cho thấy tỷ lệ người có thái độ tốt về việc cần thiết đánh giá tình trạng huyết áp của mình thường xuyên chỉ đạt 44,7% và tỷ lệ thực hiện kiểm soát HA tốt chỉ chiếm 25,6% [82]. Hay theo nghiên cứu của Prencipe M (2000) tại Italia thì trong số người bị THA chỉ có 65,6% bệnh nhân nhận thức được tình trạng THA của mình, 59,5% bệnh nhân được điều trị và chỉ có 10,5% bệnh nhân có kiểm soát huyết áp [100]. Tình hình bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam Theo thống kê, bệnh tim - mạch là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong tại các bệnh viện.
Trong các bệnh tim mạch, tăng huyết áp là bệnh phổ biến nhất và gia tăng nhanh nhất. Các số liệu điều tra dịch tễ về THA cho thấy, tình hình mắc bệnh này đang gia tăng mạnh mẽ [4], [10]. Theo thống kê của Đặng Văn Chung năm 1960, tỷ lệ THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là 1%, hơn 30 năm sau (1992) theo điều tra trên toàn quốc của Trần Đỗ Trinh và cộng sự thì tỷ lệ này đã 11,7%, tăng lên hơn 11 lần. Mười năm sau (2002), điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố nguy cơ tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam ở người dân từ 25 tuổi trở lên, tỷ lệ THA đã tăng đến 16,3%.
Tỷ lệ THA ở vùng thành thị là 22,7% cao hơn nhiều so với vùng nông thôn 12,3% [30]. Tại 8 tỉnh, thành phố: tỷ lệ THA từ 25 tuổi trở lên là 25,1%, nghĩa là cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người bị THA (theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam) [9], [28]. Như vậy, với dân số theo tổng điều tra 2009 khoảng 86 triệu người [54], Việt Nam ước tính có khoảng gần 7 triệu người bị THA, nếu không có các biện pháp dự phòng và quản lý hữu hiệu thì đến năm 2025 sẽ có khoảng 10 triệu người bị THA [8]. 7 Năm 2002, theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam, tỷ lệ THA là 23,2%; theo số liệu điều tra y tế quốc gia năm 2001 - 2002 của Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới từ 16 tuổi trở lên là 15,1% và nữ giới là 13,5% [5].
Điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam về tần suất THA và các yếu tố nguy cơ tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2001 - 2002 (trên 5.012 người) cho thấy tần suất THA ở người trưởng thành là 16,5%; trong đó THA độ 1, độ 2, độ 3 lần lượt là 10,2%; 4,2% và 1,9%. Tỷ lệ được điều trị thuốc hạ áp chỉ chiếm 11,5%, trong số đó kiểm soát HA tốt (đưa HA về bình thường) chỉ chiếm 19,1% [5]. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi cao, giới nam, chỉ số khối cơ thể tăng, béo bụng, chỉ số vòng bụng/vòng mông tăng, rối loạn đường máu, rối loạn mỡ máu, uống nhiều rượu, tiền sử gia đình huyết thống trực hệ có người THA [92], [101], [114], [115]. Yếu tố liên quan mạnh nhất đến THA là tuổi và mức độ béo phì [40], [81], [89].
Tỷ lệ người dân hiểu biết đúng tất cả các yếu tố nguy cơ chỉ chiếm 23% (18,8% nông thôn so với 29,5% ở thành thị), trong khi hiểu biết sai về các yếu tố nguy cơ chiếm hơn 1/3 dân số (44,1% ở nông thôn so với 27,1% ở thành thị) [26]. Theo điều tra mới nhất của Nguyễn Thị Hoàn ở Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, cho thấy tỷ lệ THA ở NCT dân tộc Tày rất cao chiếm tỷ lệ 33,3% [23]. Kết quả điều tra năm 2002 cũng cho thấy, trong số người THA thì tỷ lệ được điều trị còn rất thấp (11,7%). Trong số bệnh nhân được điều trị, chỉ có 19,1% số bệnh nhân được điều trị tốt [29].
THA có ở cả thành thị và nông thôn, cả người nghèo và người có kinh tế khá. Một trong những biến chứng nguy hiểm nhất của THA là đột quỵ, biến chứng này có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề như mất ý thức, liệt nửa người…[119]. Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về THA ở người cao tuổi. Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng tỷ lệ THA ở NCT là cao và có xu hướng tăng lên theo từng năm.
Theo Nguyễn Thanh Ngọc khi nghiên cứu tỷ lệ THA của người cao tuổi ở phường Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội cho kết quả là 8 37,6%; trong đó tỷ lệ THA ở nam giới là 48,5% và ở nữ giới là 32,4% [40]. Trong nghiên cứu ở Huế cho thấy tỷ lệ người cao tuổi bị THA tại xã Hương Xuân, huyện Hương Trà là 38,9% [24] và tại xã Hương Vân, huyện Hương Trà là 40,53% [32] và mức độ THA ở người cao tuổi theo các giai đoạn có xu hướng: Mức độ nặng dần thì tỷ lệ mắc cũng giảm dần: như tỷ lệ THA độ I là 39,25%; THA độ II là 35,51% và THA độ III là 25,24% [39]. Nghiên cứu tại tỉnh Long An, tỷ lệ người cao tuổi bị THA chiếm 52,5%; nhưng trong số những bệnh nhân này thì số NCT có điều trị THA chiếm 76,6% và số người cao tuổi kiểm soát tốt huyết áp chỉ chiếm có 10,6% [25]. Chính vì khả năng kiểm soát huyết áp tại cộng đồng chưa tốt nên tỷ lệ NCT phải nhập viện vào khoa nội tim mạch vì biến chứng TBMMN do THA chiếm tới 60,7%, còn do THA đơn thuần chỉ chiếm 13%, do tác dụng phụ của thuốc: 0,7% và nguyên nhân khác: 25,6% [15].
Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Kim Kế ở Hưng Yên cho thấy: Tỷ lệ THA ở người cao tuổi trung bình tại thị xã Hưng Yên là 28,2%, trong đó tỷ lệ THA ở nam giới là 29,7%, nữ giới là 26,9%, tỷ lệ THA tăng dần theo tuổi: nhóm tuổi 60-69 tuổi là 21,3%, nhóm tuổi 70-79 tuổi là 29,6% và nhóm tuổi trên 80 tuổi là 44,9%; Tỷ lệ THA ở người cao tuổi cư trú tại các phường của thị xã Hưng Yên (31,1%) cao hơn so với các xã (25,3%); Tỷ lệ THA giai đoạn I là 15,5%, THA giai đoạn II là 12,7%, tiền THA là 17,2% [27].