Nghiên cứu tình hình và kết quả điều trị lao phổi tái phát tại Cần Thơ (2014-2017)

Chuyên khảo phân tích Luận án nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả điều trị can thiệp lao phổi tái phát tại thành phố, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu

2017

140
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Bệnh lao phổi tái phát là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng tại Cần Thơ trong giai đoạn 2014-2017. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh lao vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do bệnh truyền nhiễm. Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân lao phổi tái phát chiếm 8,3% tổng số bệnh nhân lao. Điều này cho thấy sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả điều trị lao phổi tái phát. Các chính sách và chiến lược như DOTS đã được triển khai nhưng vẫn chưa đủ để kiểm soát tình hình. Tình hình lao phổi tái phát tại Cần Thơ cần được nghiên cứu sâu hơn để tìm ra các yếu tố liên quan và cải thiện kết quả điều trị.

1.1. Tình Hình Lao Phổi Tái Phát

Tình hình lao phổi tái phát tại Cần Thơ trong giai đoạn 2014-2017 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tái phát cao. Nghiên cứu cho thấy rằng lao phổi tái phát có liên quan đến nhiều yếu tố như tình trạng sức khỏe, điều kiện sống và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế. Tỷ lệ kháng thuốc cũng là một vấn đề đáng lo ngại, với tỷ lệ kháng thuốc chung từ 66,5% đến 85,9%. Điều này làm cho việc điều trị trở nên khó khăn hơn và cần có các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn.

1.2. Đánh Giá Kết Quả Điều Trị

Đánh giá kết quả điều trị lao phổi tái phát tại Cần Thơ cho thấy nhiều bệnh nhân không đạt được kết quả điều trị mong muốn. Các phương pháp điều trị hiện tại cần được cải thiện để tăng tỷ lệ khỏi bệnh. Việc áp dụng các phác đồ điều trị mới và cải thiện chăm sóc bệnh nhân là cần thiết. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc theo dõi và đánh giá thường xuyên là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị.

II. Tổng Quan Tài Liệu

Tổng quan tài liệu về bệnh lao phổi tái phát cho thấy đây là một vấn đề sức khỏe toàn cầu. Theo WHO, bệnh lao là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Tại Việt Nam, tình hình bệnh lao phổi tái phát đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở các khu vực có tỷ lệ nhiễm HIV cao. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng lao phổi tái phát có thể do tái hoạt động nội sinh hoặc tái nhiễm ngoại lai. Việc hiểu rõ về cơ chế gây bệnh và các yếu tố nguy cơ là rất quan trọng để phát triển các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả.

2.1. Định Nghĩa và Phân Loại Bệnh Lao

Bệnh lao được định nghĩa là tình trạng nhiễm vi khuẩn lao trong cơ thể. Lao phổi tái phát là sự tái phát của bệnh sau khi đã điều trị khỏi. Việc phân loại bệnh lao theo các tiêu chí cụ thể giúp xác định phương pháp điều trị phù hợp. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng lao phổi tái phát có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả kháng thuốc và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

2.2. Tình Hình Bệnh Lao Tại Việt Nam

Tình hình bệnh lao tại Việt Nam vẫn còn nghiêm trọng, với tỷ lệ mắc bệnh cao. Theo thống kê, Việt Nam đứng thứ 16 trong số các quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao. Tỷ lệ lao phổi tái phát cũng đang gia tăng, đặc biệt là ở các khu vực có tỷ lệ nhiễm HIV cao. Các biện pháp phòng ngừa và điều trị cần được cải thiện để giảm thiểu gánh nặng bệnh lao tại Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về bệnh lao 1. Định nghĩa Nhiễm lao là tình trạng có vi khuẩn lao trong cơ thể nhưng không sinh trưởng được do sự tác động của hệ thống miễn dịch, vi khuẩn tồn tại trong cơ thể nhưng không hoạt động và có thể hoạt động sau này khi sức đề kháng của cơ thể suy giảm. Người nhiễm lao không có biểu hiện lâm sàng của bệnh lao.

Do số lượng vi khuẩn lao còn ít, nên có thể phát hiện tình trạng nhiễm lao thông qua các xét nghiệm miễn dịch học như phản ứng test da, hoặc xét nghiệm IGRA (xét nghiệm trên cơ sở giải phóng interferon gamma của tế bào miễn dịch đặc hiệu) [8], [46]. Bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên. Vi khuẩn lao có thể gây tổn thương ở tất cả các cơ quan trong cơ thể, trong đó phổi là nơi thường mắc nhất (chiếm 80 – 85%). Lao phổi là bệnh lao tổn thương ở phổi - phế quản, bao gồm lao cấp tính như lao kê, phế quản-phế viêm lao và các dạng tiến triển mạn tính.

Có thể tổn thương lao phổi riêng rẽ hoặc phối hợp với lao các cơ quan ngoài phổi [8]. Lao kháng thuốc: vi khuẩn lao có thể kháng một hoặc nhiều thuốc kháng lao, nhưng không đồng thời kháng cả Rifampicin và Isoniazid. Lao đa kháng thuốc (Multi drug Resistance - MDR) được định nghĩa là vi khuẩn lao kháng đồng thời với ít nhất hai thuốc chống lao là Isoniazid và Rifampicin [8], [15]. Kháng thuốc tiên phát: là tình trạng kháng thuốc ở bệnh nhân chưa từng điều trị thuốc kháng lao, do lây nhiễm vi khuẩn từ người bệnh bị lao kháng thuốc.

4 Kháng thuốc mắc phải: là tình trạng kháng thuốc ở bệnh nhân đã điều trị lao, nhưng do điều trị không đúng, có thể do bệnh nhân hoặc do thầy thuốc. Kháng thuốc ban đầu: là tình trạng kháng thuốc ở bệnh nhân chưa dùng thuốc lao bao giờ (nhưng không xác định được chắc chắn). Như vậy loại kháng thuốc này gồm cả kháng thuốc tiên phát và mắc phải [8], [11]. Chẩn đoán bệnh lao phổi 1.

Tác nhân gây bệnh Tác nhân là vi khuẩn lao người, Mycobacterium tuberculosis hominis. Ở Việt Nam, dòng vi khuẩn phổ biến nhất là dòng Bắc Kinh, 55,4% [52]. Vi khuẩn lao là loài ưa khí, sinh sản chậm, khoảng 20 giờ một lần phân chia. Trong điều kiện thiếu oxy như trong các nốt vôi hoá, cục xơ hoá, cục bã đậu rắn chắc vi khuẩn lao vẫn tồn tại ở trạng thái không hoạt động trong khá nhiều năm.

Vi khuẩn lao có hình que, kích thước dài 2 - 4 µm, rộng 0,3 - 1,5 µm, đứng riêng lẻ hoặc xếp thành hình chữ N, Y, V hoặc thành dãy phân nhánh như cành cây. Vi khuẩn lao không di động, không sinh bào tử, khó bắt màu các thuốc nhuộm thông thường do có lớp sáp ở thành tế bào. Vi khuẩn lao có sức đề kháng cao với điều kiện khô hanh và các yếu tố lý hóa. Có thể tồn tại 3 đến 4 tháng nơi tối ẩm.

Trong đàm chúng tồn tại được nhiều tuần. Dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp thì sau 30 phút vi khuẩn lao sẽ bị tiêu diệt. Dưới ánh sáng của tia cực tím chỉ tồn tại được 2 đến 3 phút. Ở nhiệt độ 42oC vi khuẩn lao ngừng phát triển, ở nhiệt độ 80oC vi khuẩn lao chết sau 10 phút [8], [46].

Chẩn đoán bệnh * Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng toàn thân 5 - Mệt mỏi: đầu tiên là mệt mỏi về tinh thần, sau đó cả thể xác, không giảm khi nghỉ ngơi, tăng nhiều vào buổi chiều, kéo dài. - Gầy sút: đôi khi không có kèm biếng ăn. - Sốt: sốt nhẹ, không đều, tăng lên khi làm việc, giảm khi nghỉ ngơi, ít được người bệnh chú ý. Cảm giác sốt rõ nhất vào buổi chiều.

- Ở phụ nữ có thể gây rối loạn kinh nguyệt. Ở trẻ em có thể khiến trẻ học hành kém chất lượng hơn. Tất cả các triệu chứng trên có thể rõ hoặc có thể mơ hồ. Điều này có lẽ do liên quan đến sự sinh sản chậm của vi khuẩn lao.

Triệu chứng cơ năng - Ho: đầu tiên là ho khan, thường nhiều vào buổi sáng, nhưng không cố định giờ giấc, về sau ho có đàm. Triệu chứng này dễ lầm lẫn với viêm phế quản. - Khạc đàm: lúc đầu là đàm nhầy, về sau là mủ, lúc đầu thường vào buổi sáng, về sau không cố định giờ giấc, đây cũng là triệu chứng lầm lẫn với nguyên nhân do thuốc lá. - Đau ngực: không hằng định, sẽ rõ ràng nếu tổn thương nằm gần màng phổi.

Triệu chứng thực thể - Khám lâm sàng không tìm được các triệu chứng đặc trưng của bệnh lao phổi và, nếu không phát hiện được triệu chứng gì cũng không loại trừ được bệnh lao. Mục đích của thăm khám lâm sàng để đánh giá một cách chính xác mức độ tiến triển, tổn thương tổng quát của cơ quan hô hấp, phát hiện các tổn thương kèm theo ở cơ quan khác ngoài phổi của bệnh lao. - Tại phổi: giai đoạn sớm, triệu chứng rất nghèo nàn. Các triệu chứng tại phổi sẽ rõ ràng hơn khi bệnh đã muộn.

+ Ran nổ, thổi ống + Hội chứng đông đặc co rút hoặc không co rút. 6 + Hội chứng hang…[8], [46]. * Cận lâm sàng Nhuộm soi đàm trực tiếp tìm AFB: tất cả những người có triệu chứng nghi lao phải được xét nghiệm đàm phát hiện lao phổi. Để thuận lợi cho người bệnh có thể chẩn đoán được trong ngày đến khám bệnh, xét nghiệm 2 mẫu đàm tại chỗ cần được áp dụng thay cho xét nghiệm 3 mẫu đàm như trước đây.

Mẫu đàm tại chỗ cần được hướng dẫn cẩn thận để người bệnh lấy đúng cách, thời điểm lấy mẫu 1 và mẫu 2 phải cách nhau ít nhất là 2 giờ [9]. Xét nghiệm Xpert MTB/RIF để chẩn đoán bệnh lao và lao kháng Rifampicin cho kết quả sau khoảng 2 giờ với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Các trường hợp AFB(+) cần được làm xét nghiệm Xpert MTB/RIF để biết tình trạng kháng thuốc Rifampicin trước khi cho phác đồ thuốc chống lao hàng một [5], [12]. Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao: nuôi cấy trên môi trường đặc thường cho kết quả dương tính sau 3-4 tuần.

Nuôi cấy trong môi trường lỏng (MGIT - BACTEC) cho kết quả dương tính sau 2 tuần. Các trường hợp phát hiện tại các bệnh viện tuyến tỉnh nên được khuyến khích xét nghiệm nuôi cấy khi có điều kiện [5], [9]. X quang ngực thường quy: hình ảnh trên phim x quang gợi ý lao phổi tiến triển là thâm nhiễm, nốt, hang, có thể 1 bên hoặc 2 bên. Ở người có kèm nhiễm HIV, hình ảnh trên x quang ngực ít có dạng hang, hay gặp tổn thương tổ chức kẽ ở vùng đáy phổi [8], [11].

X quang ngực có giá trị sàng lọc cao với độ nhạy trên 90% với các trường hợp lao phổi AFB(+). Cần tăng cường sử dụng x quang ngực tại các cơ sở y tế cho các trường hợp có triệu chứng hô hấp để sàng lọc lao phổi. Tuy nhiên cần lưu ý độ đặc hiệu không cao, nên không khẳng định chẩn đoán lao phổi chỉ bằng 1 phim x quang ngực. X quang ngực còn được chỉ định để đánh giá sự đáp ứng 7 với điều trị thử bằng kháng sinh thông thường trước khi chẩn đoán lao phổi không có bằng chứng vi khuẩn và để đánh giá kết quả điều trị lao ở thời điểm 2 tháng và 8 tháng [12].

* Chẩn đoán xác định Chẩn đoán xác định lao phổi khi có tổn thương trên x quang ngực nghi lao và một trong 2 tiêu chuẩn sau: - Có bằng chứng về sự có mặt của vi khuẩn lao trong bệnh phẩm như đàm, dịch phế quản, dịch dạ dày và các bệnh phẩm khác. - Khi có các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng nhưng không xác định được vi khuẩn lao, chẩn đoán lao vẫn có thể xác định sàng bởi thầy thuốc được đào tạo chuyên khoa lao quyết định, bằng sự tổng hợp các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm [12]. Dịch tễ học bệnh lao 1. Tình hình bệnh lao trên thế giới Bệnh lao là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới.

Theo ước tính của WHO, năm 2017 có khoảng 10,4 triệu ca mắc lao mới và có khoảng 1,6 triệu người tử vong do lao. Trong đó có 87% số bệnh nhân và 99% bệnh nhân tử vong do lao thuộc các nước có thu nhập vừa và thấp, 90% bệnh nhân là người trưởng thành (độ tuổi từ trên 15 tuổi). Bên cạnh đó, tỷ lệ kháng thuốc ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Gánh nặng toàn cầu do bệnh lao chủ yếu ở Đông Nam Á, Đông Thái Bình Dương, và Châu Phi.

Gần hai phần ba số ca mắc bệnh lao trên thế giới tập trung ở 8 quốc gia: Ấn Độ (27%), Trung Quốc (9%), Indonesia (8%), Philippines (6%), Pakistan (5%), Nigeria (4%), Bangladesh (4%) và Nam Phi (3%) [95]. Về mặt địa lý, hầu hết những bệnh nhân lao được phát hiện trong năm 2019 là ở các khu vực Nam Á (44%), Châu Phi (25%), Tây Thái Bình Dương (18%) và với tỷ lệ nhỏ hơn như ở Đông Địa Trung Hải (8,2%), Châu Mỹ (2,9%), 8 Châu Âu (2,5%). Tám quốc gia chiếm 2/3 tổng số toàn cầu: Ấn Độ (26%), Indonesia (8,5%), Trung Quốc (8,4%), Philippines (6,0%), Pakistan (5,7%), Nigeria (4,4%), Bangladesh (3,6%) và Nam Phi (3,6) [100]. Tỷ lệ hiện mắc lao/100.000 dân trên thế giới năm 2019 (Nguồn: WHO: Global Tuberculosis Report 2020) [100].

Năm 2019, trên thế giới có 54 quốc gia có tỷ lệ mắc lao thấp (<10 ca/100.000 dân), chủ yếu ở Khu vực Châu Mỹ và Châu Âu và một số quốc gia ở Đông Địa Trung Hải, Tây Thái Bình Dương. Các quốc gia này quản lý tốt điều trị và dự phòng lao và hướng đến mục tiêu loại trừ bệnh lao [99]. Đến nay, xu hướng dịch tễ bệnh lao trên toàn cầu đang có chiều hướng giảm với tỷ lệ mới mắc giảm trong khoảng thời gian dài, và có tốc độ khoảng 1,5%/năm [92]. Các quốc gia trên thế giới có số ca hiện mắc lao >100.

Phân bố theo địa lý của các trường hợp MDR / RR-TB cho thấy gần 50% các trường hợp là ở Ấn Độ (27%), Trung Quốc (14%) và Liên bang Nga (8%). Năm 2019, ước tính có khoảng 182.000) ca tử vong do MDR / RR-TB [99]. Các quốc gia có số ca lao đa kháng, lao kháng Rifampicin >1. Nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh lao đang giảm, nhưng không đủ nhanh để đạt đến mốc vào năm 2020 là 20% trong giai đoạn 2015-2020.

Mức giảm tích lũy từ năm 2015 đến năm 2019 là 9% (từ 142 đến 130 trường hợp mới trên 100.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tình hình và kết quả điều trị lao phổi tái phát tại Cần Thơ (2014-2017)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình và hiệu quả điều trị bệnh lao phổi tái phát trong giai đoạn từ 2014 đến 2017 tại Cần Thơ. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá các phương pháp điều trị hiện tại mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, từ đó đưa ra những khuyến nghị quan trọng cho việc cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân lao phổi. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức quản lý và điều trị bệnh lao phổi, cũng như những thách thức mà ngành y tế đang phải đối mặt.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023", nơi nghiên cứu nhu cầu tư vấn thuốc cho bệnh nhân, một yếu tố quan trọng trong việc điều trị bệnh. Bên cạnh đó, bài viết "Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode" cũng có thể cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị hiện đại trong lĩnh vực y học. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và điều trị bệnh lý. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề y tế hiện nay.