Đặt vấn đề Virus là tác nhân gây bệnh phổ biến trên người cùng với vi khuẩn và nấm trong nhóm các tác nhân vi sinh vật[7]. Càng ngày, người ta ngày càng phát hiện ra nhiều loại bệnh do virus nguy hiểm như AIDS, SARS, viêm não Nhật Bản, dại, quai bị, sốt Ebola, sởi… Tùy từng loại virus mà có cách lây nhiễm và gây tác hại khác nhau (ví dụ như lây qua đường tình dục: AIDS, viêm gan B; lây qua đường hô hấp: Cúm A, cúm B, SARS,…). Thế giới từng phải đối mặt với những đại dịch lớn do virus gây ra và có sức lây lan khủng khiếp, với con số tử vong có thể lên đến hàng triệu người trong một đợt dịch (dịch MERS năm 2012: tính đến ngày 7/6/2012 có 1.179 người nhiễm trong đó 442 người tử vong[24]; dịch Ebola năm 2014 WHO xác nhận gần 7.000 trường hợp tử vong vì virus này[23]; cúm H1N1 năm 2009, lan nhanh tại 214 quốc gia và khiến 18.0000 người thiệt mạng trên tổng số 575.000 ca nhiễm bệnh[7]; dịch SARS năm 2002 phát hiện trường hợp đầu tiên tại Hồng Kông sau đó dịch lây lan sang 37 quốc gia thông qua đường hàng không, khoảng 8000 ca nhiễm và 800 ca tử vong; đại dịch HIV/AIDS khiến 1,5 triệu người tử vong trong số 35 triệu người nhiễm bệnh. Đặc biệt, chủng virus mới SARS-CoV-2 (COVID- 19) gây hội chứng hô hấp cấp tính bùng phát vào tháng 12 năm 2019 ở thành phố Vũ Hán và bắt đầu lây lan nhanh chóng sau đó, là một đại dịch toàn cầu, theo WHO tính đến 12:54PM ngày 21 tháng 6 năm 2020 có 8.008 trường hợp xác nhận nhiễm COVID-19, 461.715 trường hợp tử vong trên toàn cầu[26].
Đặc điểm chung của các bệnh do virus kí sinh gây ra trên người là lây lan nhanh, dễ bùng phát thời gian ngắn, biểu biện bệnh không rõ ràng trong thời kì đầu, một số có khả năng biến chủng lớn, gây chết trong thời gian ngắn gây rất nhiều khó khăn trong chẩn đoán và điều trị và kiểm soát dịch tễ học[7]. Mặc dù virus gây bệnh cho người và động vật được nghiên cứu khá kỹ nhưng hiện nay chưa có phương pháp điều trị hiệu quả như AIDS, SARS, cúm A[5]; phương pháp điều trị chủ yếu là các biện pháp hỗ trợ đề kháng của của cơ thể chống lại virus gây bệnh và ngày càng Luan van 2 có nhiều loại virus mới nguy hiểm xuất hiện. Do vậy, việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh trong thời gian ngắn, hiểu biết về tình hình dịch tễ học từ đó đề xuất các biện pháp điều trị, phòng chống các bệnh do virus gây ra là rất quan trọng nhằm bảo đảm điều trị trúng đích và cải thiện tử vong bệnh nhân. Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên” 1.
Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1.Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu này nhằm khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp của bệnh nhân tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài Thu mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh do virus thường gặp (virus cúm A, cúm B, HCV, HBV và HIV) từ các khoa chuyên môn tại Bệnh viện viện Trung Ương Thái Nguyên. - Xác định các virus gây bệnh từ mẫu bệnh phẩm bằng phương pháp test nhanh. - Khảo sát tình hình tình hình nhiễm các virus của bệnh nhân.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về các virus gây bệnh thường gặp ở bệnh nhân và các biện pháp điều trị, phòng chống bệnh hiêu quả. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Kết quả của đề tài góp phần vào quá trình chẩn đoán các bệnh do các virus thường gặp gây ra, cung cấp các thông tin cần thiết về dịch tễ học góp phần hỗ bác sĩ lựa chọn phương pháp và thuốc phù hợp để điều trị đạt hiệu quả tối ưu cho bệnh do virus. Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan chung đối tượng nghiên cứu 2. Khái niệm virus Virus là tác nhân sinh học không có cấu tạo tế bào mang các nucleic acid, chi có thể nhân lên trong các tế bào chủ và sử dụng bộ máy trao đổi chất và ribosome của tế bào để tổng hợp nên các bộ phận cấu thành sau đó lắp ráp các bộ phận này tạo thành các hạt virus gọi là các virion mang bộ gene virus và có thể nhiễm vào các tế bào chủ khác [7]. Virus có thể lây nhiễm tất cả các dạng sống, từ động vật thực vật đến vi sinh vật, bao gồm cả vi khuẩn và vi khuẩn cổ. Virus được tìm thấy trong hầu hết các hệ sinh thái trên Trái đất và là loại thực thể sinh học nhiều nhất [7].000 loại virus đã được mô tả một cách chi tiết trong hàng triệu loại virus tồn tại trên Trái đât [7].
Khi không tồn tại trong tế bào bị lây nhiễm hoặc trong quá trình lây nhiễm một tế bào, virus tồn tại dưới dạng các hạt độc lập hoặc virion bao gồm: các vật liệu di truyền (DNA hoặc RNA mã hóa cấu trúc của protein; một protein áo, các capsid bao quanh và bảo vệ vật liệu di truyền, trong một số trường hợp có vỏ ngoài lipid). Hình dạng của virus đa dạng (xoắn ốc, chữ nhật đơn giản, hình khối, lập phương,… Hầu hết các loại virus không quan sát được bằng kinh hiển vi quang học, kích thước khoảng một phần tram so với hầu hết các vi khuẩn [7]. Lịch sử và nguồn gốc Virus được tìm thấy ở bất cứ nơi nào có sự sống và có lẽ đã tồn tại kể từ khi các tế bào sống phát triển đầu tiên. Nguồn gốc của virus không rõ ràng vì chúng không tạo thành hóa thạch, vì vậy các kĩ thuật phân tử đã được sử dụng để sánh DNA hoặc RNA của virus là một phương tiện hữu ích để điều tra cách chúng phát sinh.
Ngoài ra vật liệu di truyền của virus đôi khi có thể tích hợp vào dòng mầm của sinh vật chủ, nhờ đó chúng có thể được truyền theo chiều dọc cho con cái của vật chủ trong nhiều thế hệ. Các giả thiết về nguồn gốc của virus: Luan van 4 Giả thuyết hồi quy: virus có thể đã từng là những tế bào nhỏ kí sinh trên các tế bào lớn hơn. Theo thời gian các gene không được yêu cầu bởi kí sinh trùng của chúng đã biến mất. Đây được gọi là giả thuyết thoái hóa hoặc giả thuyết giảm.
Giả thuyết nguồn gốc tế bào: một số virus có thể đã tiến hóa từ các DNA hoặc RNA “thoát” khỏi gene của một vi sinh vật lớn hơn. DNA thoát ra có thể đến từ các plasmid hoặc transpose của tế bào Giả thuyết đồng tiến hóa: đây cùng là giả thuyết đầu tiên về virus và cho rằng virus có thể đã tiến hóa từ các phân tử phức tạp của protein và axit nucleic cùng lức với các tế bào xuất hiện lần đầu trên Trái Đất và đã phụ thuộc vào sự sống của tế bào trong hàng tỉ năm. Viroid là các phân tử RNA không được phân loại là virus vì chúng thiếu lớp vỏ protein. Chúng có những đặc điểm chung cho một số loại virus và thường được gọi là tác nhân phụ.
Viroid là mầm bệnh quan trọng của thực vật. Chúng không mã hóa protein những tương tác với tế bào chủ và sự dụng bộ máy tế bào chủ để sao chép. Đặc điểm Đặc điểm chung của virus [7]: - Virus rất nhỏ bé, kích thước chỉ trong khoảng 20nm đến 200nm (nhỏ hơn vi khuẩn hàng ngàn lần). - Không có cấu tạo tế bào, không có màng kép lipid bao bọc.
- Có đời sống kí sinh bắt buộc. - Vật chất di truyền là một trong hai loại: DNA hoặc RNA mà không có cả hai. - Không có hệ giải mã và dịch mã. - Không tăng kích thước - Không tự di chuyển.
- Không có khả năng tự phát triển và phân chia. - Không bất hoạt hoàn toàn khi ở ngoài vật chủ. Cấu trúc Virus có cấu trúc đơn giản, không có cấu tạo tế bào, chỉ gồm axit nucleic được bao bọc bởi một lớp vỏ protein bảo vệ gọi là capsid. Lớp vỏ này được tạo thành từ những tiểu đơn vị protein giống hệt nhau gọi là capsome.
Một số virus có một vỏ Luan van 5 bọc bằng lipid có xuất xứ từ màng tế bào vật chủ. Vỏ capsid được cấu tạo từ protein được dịch mã từ bộ gene của virus và là cơ sở để phân biệt về mặt hình thái học. Các tiểu đơn vị protein do virus mã hóa sẽ tự láp ráp để tạo nên vỏ capsid.Những virus phức tạp còn mã hóa những protein trợ giúp cho quá trình xây dựng capsid của chúng. Những protein kết hợp với axit nucleic gọi là nucleoprotein, sự kết hợp củ những protein ở capsid với axit nucleic gọi là nucleocapsid.
Nhìn chung, có 4 loại hình thái virus: - Xoắn ốc: Những virus này được tạo thành từ một loại capsomer duy nhất xếp chồng lên quanh một trục trung tâm để tạo nên cấu trúc xoắn ốc, có thể có một khoang trung tâm hoặc là một ống rỗng.Virion dạng hình que hay sợi, chúng có thể ngắn và rất cứng, hoặc dài và rất linh hoạt. Vật liệu di truyền nhìn chung là RNA sợi đơn (ssRNA) hoặc DNA sợi đơn (ssDNA), và được gắn chặt với chuỗi xoắn protein. Nói chung, độ dài của vỏ capsid xoắn ốc có liên quan tới độ dài của axít nucleic bên trong nó và đường kính phụ thuộc vào kích thước và cách sắp xếp các capsomer. Virus khảm thuốc lá là một ví dụ của virus dạng xoắn ốc.
- Khối hai mươi mặt đều: Hầu hết virus động vật đều có dạng khối hai mươi mặt đều hoặc gần hình cầu với hai mươi mặt đều đối xứng. Một khối hai mươi mặt đều bình thường là cách tối ưu để tạo nên một vỏ khép kín từ những tiểu đơn vị giống y như nhau. Tối thiểu có 12 capsomer cấu tạo từ 5 tiểu phần giống hệt nhau. Nhiều virus, ví dụ rotavirus, có nhiều hơn 12 capsomer và xuất hiện dưới dạng hình cầu nhưng vẫn giữ tính đối xứng.
Capsomer tại mỗi đỉnh được bao quanh bởi 5 capsomer khác gọi là penton. Capsomer trên những mặt hình tam giác thì được bao quanh bởi 6 và gọi là hexon. Hexon về bản chất thường phẳng và penton, cấu trúc tạo nên 12 đỉnh, lại thường cong. Cùng một protein cũng có thể là tiểu đơn vị của cả penton và hexon, hoặc chúng có thể được cấu tạo bởi những protein khác nhau.