Chương 1 TỔNG QUAN 1. Dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Một vài khái niệm - Hội lồng ngực Hoa kỳ (ATS – 1995): bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính - Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD) là tình trạng bệnh lý của viêm phế quản mạn và/hoặc khí phế thũng có tắc nghẽn lưu lượng khí trong các đường hô hấp. Sự tắc nghẽn này xảy ra từ từ và có khi kèm theo phản ứng phế quản, có thể không hồi phục hoặc hồi phục một phần [96].
Chỉ những trường hợp hen phế quản nặng, có co thắt phế quản không hồi phục mới được xếp vào COPD. - Hội hô hấp Châu Âu (ERS – 1995): COPD là tình trạng bệnh lý có đặc điểm chung là giảm lưu lượng khí thở ra tối đa và sự tháo rỗng khí trong phổi xảy ra chậm. Bệnh tiến triển chậm và không hồi phục mà nguyên nhân thường do sự phối hợp giữa các bệnh lý đường hô hấp như viêm phế quản mạn với khí phế thũng [52]. - Định nghĩa theo GOLD 2017 (Chiến lược toàn cầu về COPD - Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease): COPD là bệnh phổ biến có thể dự phòng và điều trị được, đặc trưng bởi sự hiện diện của triệu chứng hô hấp và giới hạn dòng khí do đường dẫn khí và/hoặc bất thường ở phế nang thường do bởi tiếp xúc với hạt và khí độc hại…[58].
Bệnh biểu hiện bởi sự giới hạn lưu lượng khí, sự giới hạn này không hồi phục hoàn toàn. Sự giới hạn lưu lượng khí thường xảy ra từ từ và phối hợp với một sự đáp ứng viêm bất thường của phổi đối với các hạt độc hay khí. COPD bao gồm viêm phế quản mạn và khí phế thũng và hen phế quản không hồi phục. Chẩn đoán COPD căn cứ vào triệu chứng ho, khạc đờm, khó thở và hay là có tiền sử tiếp xúc với các luan an 4 yếu tố nguy cơ.
Chẩn đoán bệnh được xác định bằng phế dung kế sau khi dùng thuốc giãn phế quản mà FEV1< 80% so với trị số dự đoán phối hợp với FEV1/ FVC < 70% [90]. Dịch tễ học COPD trên thế giới 1. Tỷ lệ mắc Theo Chapman K. Colin R Simpson, Julia Hippisley-Cox và Aziz Sheikh tiến hành nghiên cứu từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 12 năm 2005 cho thấy số lượng người bệnh COPD tăng từ 40.804 người bệnh năm 2005.
Tỷ lệ mắc COPD năm 2001 tăng từ 13,5/1000 lên tới 16.8/1000 năm 2005, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001[50]. Ở các nước châu Á Thái Bình Dương tần suất mắc COPD ước tính từ 6 - 8% dân số [89]. Tỷ lệ mắc COPD ở người trưởng thành Hoa Kỳ từ năm 2007 đến năm 2009 [83] Tỷ lệ mắc COPD ở Hoa Kỳ từ năm 2007 đến năm 2009 tăng cao ở nhóm tuổi từ 45 tuổi trở lên, cao nhất ở nhóm tuổi 75 đến 84 tuổi [83]. Tương tự như vậy, theo các nghiên cứu được tiến hành vào những năm 2013-2014 cũng luan an 5 cho thấy tỷ lệ bị COPD tăng dần từ nhóm 35 đến 85 tuổi, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc COPD cũng tăng theo [77], [81], [101].
Một nghiên cứu về COPD tại 12 nước thuộc vùng Châu Á Thái Bình Dương, với mục đích ước tính tỷ lệ COPD ở những đối tượng từ 30 tuổi trở lên dựa vào mức độ phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ gây bệnh. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc COPD rất khác nhau giữa các nước, trong đó thấp nhất là 3,5% ở Hồng Kong và Singapore, cao nhất ở Việt Nam với tỷ lệ 6,7% [89]. Nghiên cứu của GOLD (2006) tiến hành tại 12 thành phố khác nhau trên thế giới, trên 9.425 đối tượng trên 50 tuổi. Các đối tượng nghiên cứu trả lời bộ câu hỏi để phát hiện các triệu chứng hô hấp mạn tính, tình trạng phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ và tiêu chuẩn chẩn đoán xác định COPD dựa theo tiêu chuẩn của GOLD.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ mắc COPD cao nhất ở Cape Town – Nam Phi với 16,7% và thấp nhất ở Quảng Châu – Trung Quốc với 5,1%, tỉ lệ nam mắc cao nhất ở Cape Town – Nam Phi với 22,2% và thấp nhất ở Reykjavik – Iceland với 8,5% [57]. Theo nghiên cứu của Trung tâm kiểm soát phòng ngừa bệnh tật (CDC) năm 2011 tại ILLINOIS cho thấy tỷ lệ mắc COPD ở người trưởng thành khoảng 6,1% [48]. Các nghiên cứu gần đây về COPD ở Châu Á- Thái Bình Dương cho thấy tỷ lệ COPD chung khoảng 6,2%; dao động từ 4,5% ở Indonesia tới 9,5% ở Đài Loan năm 2012 [70], [72], [102]. Ngoài ra cũng còn một số nghiên cứu về dịch tễ học CPOD hay các nguy cơ của COPD đã được công bố [44], [45], [62].
Tỷ lệ tử vong do COPD Theo WHO trong năm 1990, COPD là nguyên nhân gây tử vong xếp hạng thứ 6 với 2,2 triệu người chết. Tính đến năm 1997 có khoảng 600 triệu người mắc COPD và là nguyên nhân hàng thứ 4. Theo dự đoán của WHO, COPD sẽ gây ra 2,9 triệu người chết mỗi năm và ước tính đến năm 2020 sẽ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 trên toàn thế giới. Tùy từng nước mà tỷ lệ tử luan an 6 vong từ 10-500/100.000 với khoảng 6,0% nam giới và 2-4% nữ giới vì COPD [53], [67], [95], [99].J (2004) trong một báo cáo sức khoẻ thế giới đã ước tính có 2.000 người tử vong do COPD trên toàn thế giới năm 1999, tương ứng với 4,8% tổng số tử vong.
Tỷ lệ tử vong do COPD khoảng 53% ở nam, 47% ở nữ. Một điều đáng chú ý là theo dự báo tỷ lệ tử vong do COPD trên toàn thế giới sẽ tăng lên do sự tiêu thụ thuốc lá tăng. Tỷ lệ tử vong do COPD ở nữ tăng nhanh hơn ở nam do tỷ lệ nữ giới hút thuốc lá đang tăng lên nhanh chóng [53], [61], [84]. Ở Mỹ, tỷ lệ tử vong do COPD tăng đều đặn trong vài thập kỷ qua.
Trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1998, trong khi tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành ở nam giới giảm 59,0%, bệnh đột quỵ giảm 64,0%, các bệnh tim mạch khác giảm 35,0% thì ngược lại tỷ lệ tử vong do COPD tăng gần 163,0% [68]. Trong năm 2000 tỷ lệ tử vong do COPD ở nữ tăng nhiều hơn nam giới cũng như một số nước như Na Uy, Thụy Điển, Niu Di Lân. Theo Mannino và cộng sự tại Mỹ, kết quả cuộc khảo sát mang tầm cỡ quốc gia trên mẫu đại diện ở những người ≥25 tuổi, dựa vào dấu hiệu rối loạn thông khí tắc nghẽn cho thấy tỷ lệ mắc là 8,8% [76], [78], [82]. Theo WHO, năm 2015 có khoảng 56,4 triệu người chết trong đó khoảng 54,0% do 10 nguyên nhân hàng đầu.
COPD gây ra 3,19 triệu ca tử vong vào năm 2015, trong khi đó ung thư phổi (cùng với các chứng ung thư khí quản và phế quản) làm 1,7 triệu ca tử vong, làm cho COPD là nguyên nhân thứ 4 gây tử vong trên toàn cầu năm 2015 [60], [85], [98]. Theo một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy có khoảng 15,5 triệu người trưởng thành Mỹ được chẩn đoán là mắc COPD. Trên thực tế con số này có thể cao hơn nhiều [68]. luan an 7 Hình 1.
Mười nguyên nhân gây tử vong năm 2015 [100] Choate R, Mannino D 2017 đã rà soát tài liệu phân loại, dịch tễ học,triệu chứng lâm sàng và tiên lượng bệnh nhân COPD. Kết quả thấy trong khi hút thuốc vẫn là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với COPD ở phần lớn các nước phát triển, các yếu tố rủi ro khác bao gồm các yếu tố di truyền và phơi nhiễm liên quan tới nghề nghiệp hoặc môi trường vẫn là những yếu tố quan trọng. COPD là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba ở Hoa Kỳ. Năm 2011, 13,7 triệu người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc COPD tại Hoa Kỳ và có đến 12 triệu người trưởng thành có thể bị COPD nhưng không được chẩn đoán.
Năm 2010, ước tính 10,3 triệu lượt khám tại phòng khám bác sĩ và 1,5 triệu lượt bệnh nhân tại phòng cấp cứu là do COPD và ước tính là nguyên nhân thứ hai của số năm sống mất đi hiệu chỉnh do bệnh tật ở người dân Hoa Kỳ. COPD có những chiến lược dự phòng ngừa cấp luan an 8 1, cấp 2, và cấp 3. Việc điều trị COPD đã được cải thiện trong những năm gần đây với các liệu pháp mới cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Tác giả kết luận COPD vẫn là một sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng và thường không được chẩn đoán, đặc biệt là ở giai đoạn sớm của bệnh.
Theo tác giả sự khác biệt về giới: Các bệnh liên quan đến hút thuốc như COPD và ung thư phổi đang tiếp tục gia tăng ở phụ nữ ở Hoa Kỳ, trong khi có xu hướng giảm ở nam giới. Một số bằng chứng hiện tại cho thấy so với nam giới ở mức độ hút thuốc lá tương tự, phụ nữ có thể dễ mắc COPD hơn hay mức độ nghiêm trọng của COPD ở phụ nữ có thể tăng lên. Trong nghiên cứu ở bệnh nhân mắc COPD nhẹ, số phụ nữ cho thấy khả năng đáp ứng đường thở tăng lên nhiều hơn so với nam giới, mặc dù sự khác biệt này được cho là có liên quan đến kích thước đường thở hơn là giới tính. Phụ nữ trưởng thành có nhiều khả năng mắc và tử vong do hen hơn nam giới.
Theo NHANES III, số phụ nữ bị bệnh COPD và hen suyễn được bác sĩ chẩn đoán nhiều hơn nam giới, nam giới và nữ giới có tỷ lệ giảm chức năng phổi tương tự nhau, và tỷ lệ tương tự ở cả nam giới và phụ nữ có chức năng phổi thấp mà không được chẩn đoán bệnh phổi. Bằng chứng hiện tại là không đủ để khẳng định xem phụ nữ hút thuốc có khả năng mắc bệnh COPD hay bị COPD nặng hơn so với nam hay không mặc dù câu hỏi này đang được nghiên cứu bởi nhiều nhóm nghiên cứu [104]. Còn theo báo cáo 2019 về chiến lược toàn cầu về chẩn đoán, quản lý và dự phòng COPD toàn cầu cho thấy ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy tiếp xúc với nhiên liệu chất đốt hiện đại và truyền thống được sử dụng trong quá trình nấu ăn có thể khiến phụ nữ phát triển COPD ở nhiều nước đang phát triển. (Sana et al.
Nghèo đói liên quan đến tắc nghẽn luồng không khí và tình trạng kinh tế xã hội thấp tăng nguy cơ phát triển COPD. (Townend et al. Có bằng chứng cho thấy bệnh nhân HIV có nguy cơ mắc COPD cao hơn so với nhóm đối chứng âm tính với HIV (11 nghiên cứu; tỷ xuất chênh luan an 9 lệch gộp 1,14 (95% CI 1,05,1,25). (Bigna et al.