Đặt vấn đề Trong số những động vật được con người nuôi dưỡng và thuần hoá thì chó là loài vật được thuần hoá sớm nhất. Với khả năng phát triển đặc biệt về thính giác và khứu giác, loài chó rất nhanh nhẹn, mặt khác trung thành với người nuôi, vì thế đã phục vụ đắc lực cho các mục đích khác nhau của con người như trông nhà, đi săn, kéo xe, làm xiếc, làm cảnh. do đó nhu cầu về phát triển đàn chó ngày càng được nâng cao, kể cả về số lượng và chất lượng. Chó được nuôi ở tất cả các nước trên thế giới.
Tại các nước phát triển, chó được nuôi, chăm sóc, khám chữa bệnh rất cẩn thận và có cả những quy định bảo vệ chó. Ở nước ta, những năm gần đây, khi kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện hơn, người dân đã quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi chó để làm cảnh, làm bạn thân thiết của con người và phục vụ những mục đích kinh tế khác nhau. Chó được nuôi ngày một nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên chó ngày càng lớn, không những gây thiệt hại cho chó nuôi mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Ngoài những bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại cho chó như các bệnh dại, Carê, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus…, bệnh do ký sinh trùng cũng gây nhiều thiệt hại cho chó.
Khí hậu nóng ẩm ở nước ta tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh ký sinh trùng phát triển. Theo Vũ Triệu An và Jean Claude Homberg (1977) [1], bệnh ký sinh trùng xảy ra ở gia súc, gia cầm rất phổ biến, đã và đang gây ra nhiều tử vong hơn bất cứ dạng nhiễm trùng nào khác, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và các nước đang phát triển. Việt Nam là nước khí hậu nhiệt đới, gió mùa (Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc, 1993 [28]), người và động vật luôn tự nhiễm ký sinh trùng với số lượng nhiều và cường độ nhiễm cao (Trịnh Văn Thịnh, 1977 [22]). Cho tới e 2 nay các nhà khoa học đã xác định được rất nhiều loài ký sinh trùng ký sinh và gây bệnh cho chó như giun đũa, giun tóc, giun móc và sán dây, làm cho chó suy dinh dưỡng, dễ mắc các bệnh kế phát gây nhiều thiệt hại cho sức khỏe và sự phát triển của đàn chó.
Theo Sally Gardiner (2006) [41] một giun móc (Ancylostoma caninum) trưởng thành có thể hút 0,8 ml máu/ ngày, nếu một chó có khoảng 100 giun móc ký sinh sẽ mất khoảng 80 ml máu/ ngày và nếu nhiễm nặng mỗi ngày sẽ mất 25% lượng máu của cơ thể. Ớ nước ta hiện nay, việc nuôi và phát triển đàn chó vẫn còn theo tập quán cũ, chó được nuôi thả tự do, thức ăn mang tính tận dụng nên tình trạng chó nhiễm các loài ký sinh trùng là rất phổ biến, đặc biệt là A. caninum có tỷ lệ nhiễm cao nhất: (75,87%) (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978 [21]). Để có cơ sở khoa học đề ra những biện pháp phòng trừ bệnh giun móc cho chó có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương, nhằm hạn chế tác hại do các bệnh giun, sán ký sinh ở chó thì nghiên cứu về thành phần loài, tình trạng nhiễm các loài giun, sán nói chung, các loài giun tròn đường tiêu hoá nói riêng ở chó là cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, em tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun móc ở chó tại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị". Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định thành phần loài giun móc ký sinh ở đường tiêu hoá của chó nuôi tại huyện Đồng Hỷ. - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ. - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của chó bị bệnh giun móc.
- Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số loại thuốc tẩy giun móc cho chó. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của một số loài giun móc ký sinh trên chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ gia đình nuôi chó ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và các địa phương khác. - Khuyến cáo loại thuốc tẩy giun móc cho chó với hiệu quả đạt trên 90%.
Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và bệnh học của bệnh giun móc nói riêng và giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá của chó nói chung trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật học Vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật: Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [29]; Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] thì vị trí của giun móc trong hệ thống phân hoại động vật như sau: Lớp giun tròn Nematoda Phân lớp Secernentea Linstow, 1905 Bộ Rabditida Chitwood, 1993 Phân bộ Strongylata Railliet et Henry Họ Ancylostomidae Loss, 1905 Giống Ancylostoma Dubini, 1893 Loài Ancylostoma caninum Ercolani, 1859 Loài Ancylostoma braziliense Faria, 1910 Giống Uncinaria Froelich, 1789 Loài Uncinaria stenocephal, Railliet, 1884 Giun móc ký sinh ở ruột non của chó, mèo, đôi khi thấy ở người.
Giun móc có chu kỳ đơn giản, ấu trùng phát triển không qua ký chủ trung gian nên có nhiều phương thức truyền bệnh (qua da, qua đường miệng, truyền từ mẹ sang con). Ấu trùng trong quá trình di hành sẽ gây tổn thương ở các cơ quan như da, phổi, niêm mạc ruột, mạch máu. Giun trưởng thành hút máu gây tổn thương niêm mạc ruột và mạch máu. Giun còn tiết độc tố phá vỡ hồng cầu, làm máu chậm đông… (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978) [21].
Lịch sử phát hiện giun móc: Được phát hiện lần đầu tiên bởi Froelich khi nghiên cứu giống Uncinaria ở ruột non của cáo và tác giả đặt tên là “giun móc” e 5 do đặc điểm của nó. Sau đó, năm 1838, bác sĩ Angelo Dubini người Ý, đã phát hiện loài Ancylostoma duodenale(A. duodenale) thuộc họ Ancylostomidae ở ruột non của một tử thi là phụ nữ. Năm 1884, Railliet đã tiến hành phân loại và tìm thấy loài giun tròn Uncinaria stenocephala (U.
stenocephala) gây bệnh Ancylostomiosis. Năm 1948, Petrov xác định được vòng phát triển và đường xâm nhập của ấu trùng vào cơ thể vật chủ là xuyên qua da ký chủ, hoặc qua đường tiêu hóa (dẫn theo Phan Thế Việt và cs, 1977) [29]. Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Houdemer (1938) [38], Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [21], Phan Thế Việt và cs, (1977) [29] thì: Ancylostomiosis là một bệnh phức hợp, có sự tham gia tấn công của nhiều loài giun tròn khác nhau, bao gồm cả Ancylostoma caninum (A. caninum), Ancylostoma braziliense (A.
Đặc điểm sinh học của giun móc ký sinh ở chó 2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17]; Nguyễn Văn Đề và cs (2009) [3] cho biết, ở chó thường có 3 loài giun móc ký sinh và gây bệnh sau: - Loài Ancylostoma caninum: giun nhỏ, màu hồng nhạt hoặc vàng nhạt, đoạn trước cong về phía lưng, túi miệng rất sâu, ở rìa mép phía dưới mặt bụng có 3 đôi răng lớn, cong hình lưỡi câu, đáy túi miệng có một đôi răng hình tam giác. Giun đực dài 9 - 12 mm, túi đuôi phát triển, có gai giao hợp mảnh dài 0,75 - 0,87 mm, đoạn cuối nhọn. Bánh lái gai giao hợp hơi mập, gốc có vành rộng, mút đuôi nhọn.
Con cái dài 10 - 21 mm, âm hộ ở đoạn 1/3 nửa thân sau. Đuôi có gai nhọn, trứng giun hình ô van, dài 0,06 - 0,066 mm, rộng 0,037 - 0,042 mm. Khi vừa theo phân ra ngoài trứng có 8 tế bào. - Loài Ancylostoma braziliense: loài này có kích thước nhỏ hơn loài trên.
Giun đực dài 6 - 7,75 mm, đầu hơi cong về phía mặt bụng, túi đuôi phát triển, hai gai giao hợp bằng nhau, dài 1,05 - 1,3 mm. Giun cái dài 7 - 10 mm, e 6 hai rìa mép bụng đều có 3 đôi răng, một đôi to và hai đôi nhỏ, lỗ sinh dục hơi lồi. Trứng hình ô van, dài 0,075 - 0,095mm, rộng 0,041 - 0,045 mm. - Loài Uncinari stenocephala: màu vàng nhạt, hai đàu hơi nhọn.
Túi miệng rất lớn, mặt bụng của túi miệng có 2 đôi răng hình bán nguyệt xếp đối xứng nhau. Giun đực dài 6 - 11 mm, rộng 0,28 - 0,34 mm, có túi đôi phát triển, hai gai giao hợp bằng nhau 0,65 - 0,75 mm, đầu mút gai rất nhọn. Giun cái dài 9 - 16 mm, chỗ rộng nhất là 0,28 - 0,37 mm, lỗ sinh dục ở 1/3 phía trước cơ thể. Trứng giun hình bầu dục, có kích thước 0,078 - 0,083 mm x 0,052 - 0,059 mm.
Theo Nguyễn Kim Lan (2012) [13], loài Ancylostoma caninum là loài giun móc phổ biến ký sinh và gây ra bệnh cho chó. Đặc điểm vòng đời sinh học Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [26], Phan Thế Việt và cs (1977) [29], Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [15]: toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ khi nó là mầm sinh vật đầu tiên cho đến khi có khả năng sinh sản mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới thì toàn bộ quá trình đó gọi là chu kỳ. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13], cho biết: sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài. Gặp nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, sau một tuần trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng qua hai lần lột xác thành ấu trùng gây nhiễm (có màng bao bọc bên ngoài) dài 0,59 - 0,69 mm, ruột có 30 - 40 tế bào.
Ấu trùng có khả năng di chuyển mạnh, chúng bò lên cỏ, nền chuồng hoặc tường. Ấu trùng gây nhiễm vào chó qua hai con đường: - Qua da (là chủ yếu): sau khi chui vào da, ấu trùng theo máu về tim, phổi. Phần lớn di hành giống giun đũa, chui vào tế bào, theo niêm dịch qua khí quản, tới hầu rồi về ruột. Một số ấu trùng theo máu di hành đến các cơ quan gây nên những điểm xuất huyết sau đó ấu trùng chết đi.
e 7 Trong khi di hành, ấu trùng có thể từ mẹ truyền sang bào thai làm cho con non bị nhiễm trước khi được đẻ ra. - Qua đường tiêu hóa: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa ký chủ.