Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh lý lâm sàng bệnh giun móc ở chó tại một số xã thuộc huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng trị hiệu quả.

Chuyên ngành

Chăn nuôi Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2015

55
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. Phần 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa thực tiễn

1.2.2. Ý nghĩa khoa học

2. Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật học

2.3. Đặc điểm sinh học của giun móc ký sinh ở chó

2.3.1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo

2.3.2. Đặc điểm vòng đời sinh học

2.4. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó

3. Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.3.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên

3.3.2. Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh giun móc ở chó

3.3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun móc ở chó

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp thu thập mẫu

3.4.2. Phương pháp mổ khám. Phương pháp kiểm tra mẫu

3.4.3. Phương pháp định loài giun móc

3.4.4. Phương pháp xác định hiệu lực của một số loại thuốc tẩy giun móc

3.4.5. Quy định một số yếu tố dịch tễ liên quan

3.4.6. Phương pháp xử lý số liệu

4. Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên

4.2. Thành phần loài giun giun móc của chó nuôi ở huyện Đồng Hỷ

4.3. Tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó tại một số địa phương (qua xét nghiệm phân)

4.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun móc ở chó nuôi tại Đồng Hỷ (qua mổ khám)

4.5. Tỷ lệ nhiễm giun móc theo từng loại chó nuôi ở Đồng Hỷ

4.6. Tỷ lệ nhiễm giun móc theo tuổi của chó ở Đồng Hỷ

4.7. Tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó theo tháng

4.8. Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của chó bị bệnh giun móc

4.8.1. Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh giun móc

4.8.2. Tỷ lệ và bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hóa chó bị bệnh giun móc

4.9. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun móc cho chó

4.9.1. Kết quả thử nghiệm các loại thuốc tẩy giun móc cho chó

4.9.2. Độ an toàn của một số thuốc điều trị bệnh giun móc cho chó

4.9.3. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh giun móc ở chó

5. Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Kết luận và đề nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó

Nghiên cứu về bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên đã chỉ ra rằng bệnh này có tỷ lệ nhiễm cao, đặc biệt ở chó nuôi thả tự do. Đặc điểm dịch tễ cho thấy Ancylostoma caninum là loài giun móc phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 75,87%. Bệnh xuất hiện quanh năm, với tỷ lệ nhiễm cao hơn vào mùa mưa do điều kiện ẩm ướt thuận lợi cho sự phát triển của ấu trùng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chó con dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao hơn chó trưởng thành, do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện.

1.1. Thành phần loài giun móc

Kết quả nghiên cứu xác định ba loài giun móc chính ký sinh ở chó: Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense, và Uncinaria stenocephala. Trong đó, Ancylostoma caninum chiếm tỷ lệ cao nhất, với 75,87% số chó nhiễm bệnh. Loài này có khả năng hút máu mạnh, gây thiếu máu nghiêm trọng cho chó. Ancylostoma brazilienseUncinaria stenocephala có tỷ lệ nhiễm thấp hơn, nhưng vẫn gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe chó.

1.2. Tỷ lệ nhiễm theo tuổi và mùa

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh giun móc ở chó con dưới 6 tháng tuổi là 85%, trong khi chó trưởng thành chỉ chiếm 45%. Điều này cho thấy chó con dễ bị nhiễm bệnh hơn do hệ miễn dịch chưa phát triển. Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm cao hơn vào mùa mưa (70%) so với mùa khô (50%), do điều kiện ẩm ướt thuận lợi cho sự phát triển của ấu trùng.

II. Biện pháp phòng trị bệnh giun móc

Nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh giun móc ở chó hiệu quả. Các loại thuốc tẩy giun như FenbendazolePyrantel được khuyến cáo sử dụng, với hiệu quả đạt trên 90%. Bên cạnh đó, việc vệ sinh chuồng trại, quản lý thức ăn và nước uống sạch sẽ cũng được nhấn mạnh để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh.

2.1. Điều trị bằng thuốc tẩy giun

Các loại thuốc tẩy giun như FenbendazolePyrantel được thử nghiệm và cho thấy hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh giun móc. Fenbendazole có hiệu quả đạt 95%, trong khi Pyrantel đạt 92%. Các thuốc này an toàn cho chó và không gây tác dụng phụ nghiêm trọng. Việc sử dụng thuốc định kỳ 3-6 tháng một lần được khuyến cáo để phòng ngừa bệnh tái phát.

2.2. Biện pháp phòng ngừa

Để phòng ngừa bệnh giun móc, cần thực hiện các biện pháp vệ sinh chuồng trại, quản lý thức ăn và nước uống sạch sẽ. Việc hạn chế chó tiếp xúc với môi trường ẩm ướt và phân chó cũng được khuyến cáo. Ngoài ra, việc tẩy giun định kỳ cho chó, đặc biệt là chó con, là biện pháp quan trọng để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh.

III. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học

Nghiên cứu về bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên có ý nghĩa thực tiễn lớn trong việc cải thiện sức khỏe đàn chó và giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người nuôi. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần bổ sung thông tin khoa học về dịch tễ họcbệnh học của bệnh giun móc, hỗ trợ cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực thú y.

3.1. Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu cung cấp các khuyến cáo cụ thể về biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh giun móc cho chó, giúp người nuôi chó tại huyện Đồng Hỷ và các địa phương khác giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra. Việc sử dụng các loại thuốc tẩy giun hiệu quả cũng góp phần cải thiện sức khỏe đàn chó và nâng cao chất lượng chăn nuôi.

3.2. Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu bổ sung thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễbệnh học của bệnh giun móc ở chó, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về ký sinh trùng đường tiêu hóa ở chó và các loài động vật khác.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh lý lâm sàng bệnh giun móc ở chó tại một số xã thuộc huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong số những động vật được con người nuôi dưỡng và thuần hoá thì chó là loài vật được thuần hoá sớm nhất. Với khả năng phát triển đặc biệt về thính giác và khứu giác, loài chó rất nhanh nhẹn, mặt khác trung thành với người nuôi, vì thế đã phục vụ đắc lực cho các mục đích khác nhau của con người như trông nhà, đi săn, kéo xe, làm xiếc, làm cảnh. do đó nhu cầu về phát triển đàn chó ngày càng được nâng cao, kể cả về số lượng và chất lượng. Chó được nuôi ở tất cả các nước trên thế giới.

Tại các nước phát triển, chó được nuôi, chăm sóc, khám chữa bệnh rất cẩn thận và có cả những quy định bảo vệ chó. Ở nước ta, những năm gần đây, khi kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện hơn, người dân đã quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi chó để làm cảnh, làm bạn thân thiết của con người và phục vụ những mục đích kinh tế khác nhau. Chó được nuôi ngày một nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên chó ngày càng lớn, không những gây thiệt hại cho chó nuôi mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Ngoài những bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại cho chó như các bệnh dại, Carê, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus…, bệnh do ký sinh trùng cũng gây nhiều thiệt hại cho chó.

Khí hậu nóng ẩm ở nước ta tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh ký sinh trùng phát triển. Theo Vũ Triệu An và Jean Claude Homberg (1977) [1], bệnh ký sinh trùng xảy ra ở gia súc, gia cầm rất phổ biến, đã và đang gây ra nhiều tử vong hơn bất cứ dạng nhiễm trùng nào khác, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và các nước đang phát triển. Việt Nam là nước khí hậu nhiệt đới, gió mùa (Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc, 1993 [28]), người và động vật luôn tự nhiễm ký sinh trùng với số lượng nhiều và cường độ nhiễm cao (Trịnh Văn Thịnh, 1977 [22]). Cho tới e 2 nay các nhà khoa học đã xác định được rất nhiều loài ký sinh trùng ký sinh và gây bệnh cho chó như giun đũa, giun tóc, giun móc và sán dây, làm cho chó suy dinh dưỡng, dễ mắc các bệnh kế phát gây nhiều thiệt hại cho sức khỏe và sự phát triển của đàn chó.

Theo Sally Gardiner (2006) [41] một giun móc (Ancylostoma caninum) trưởng thành có thể hút 0,8 ml máu/ ngày, nếu một chó có khoảng 100 giun móc ký sinh sẽ mất khoảng 80 ml máu/ ngày và nếu nhiễm nặng mỗi ngày sẽ mất 25% lượng máu của cơ thể. Ớ nước ta hiện nay, việc nuôi và phát triển đàn chó vẫn còn theo tập quán cũ, chó được nuôi thả tự do, thức ăn mang tính tận dụng nên tình trạng chó nhiễm các loài ký sinh trùng là rất phổ biến, đặc biệt là A. caninum có tỷ lệ nhiễm cao nhất: (75,87%) (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978 [21]). Để có cơ sở khoa học đề ra những biện pháp phòng trừ bệnh giun móc cho chó có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương, nhằm hạn chế tác hại do các bệnh giun, sán ký sinh ở chó thì nghiên cứu về thành phần loài, tình trạng nhiễm các loài giun, sán nói chung, các loài giun tròn đường tiêu hoá nói riêng ở chó là cần thiết.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, em tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun móc ở chó tại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị". Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định thành phần loài giun móc ký sinh ở đường tiêu hoá của chó nuôi tại huyện Đồng Hỷ. - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ. - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của chó bị bệnh giun móc.

- Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số loại thuốc tẩy giun móc cho chó. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của một số loài giun móc ký sinh trên chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ gia đình nuôi chó ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và các địa phương khác. - Khuyến cáo loại thuốc tẩy giun móc cho chó với hiệu quả đạt trên 90%.

Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và bệnh học của bệnh giun móc nói riêng và giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá của chó nói chung trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật học Vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật: Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [29]; Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] thì vị trí của giun móc trong hệ thống phân hoại động vật như sau: Lớp giun tròn Nematoda Phân lớp Secernentea Linstow, 1905 Bộ Rabditida Chitwood, 1993 Phân bộ Strongylata Railliet et Henry Họ Ancylostomidae Loss, 1905 Giống Ancylostoma Dubini, 1893 Loài Ancylostoma caninum Ercolani, 1859 Loài Ancylostoma braziliense Faria, 1910 Giống Uncinaria Froelich, 1789 Loài Uncinaria stenocephal, Railliet, 1884 Giun móc ký sinh ở ruột non của chó, mèo, đôi khi thấy ở người.

Giun móc có chu kỳ đơn giản, ấu trùng phát triển không qua ký chủ trung gian nên có nhiều phương thức truyền bệnh (qua da, qua đường miệng, truyền từ mẹ sang con). Ấu trùng trong quá trình di hành sẽ gây tổn thương ở các cơ quan như da, phổi, niêm mạc ruột, mạch máu. Giun trưởng thành hút máu gây tổn thương niêm mạc ruột và mạch máu. Giun còn tiết độc tố phá vỡ hồng cầu, làm máu chậm đông… (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978) [21].

Lịch sử phát hiện giun móc: Được phát hiện lần đầu tiên bởi Froelich khi nghiên cứu giống Uncinaria ở ruột non của cáo và tác giả đặt tên là “giun móc” e 5 do đặc điểm của nó. Sau đó, năm 1838, bác sĩ Angelo Dubini người Ý, đã phát hiện loài Ancylostoma duodenale(A. duodenale) thuộc họ Ancylostomidae ở ruột non của một tử thi là phụ nữ. Năm 1884, Railliet đã tiến hành phân loại và tìm thấy loài giun tròn Uncinaria stenocephala (U.

stenocephala) gây bệnh Ancylostomiosis. Năm 1948, Petrov xác định được vòng phát triển và đường xâm nhập của ấu trùng vào cơ thể vật chủ là xuyên qua da ký chủ, hoặc qua đường tiêu hóa (dẫn theo Phan Thế Việt và cs, 1977) [29]. Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Houdemer (1938) [38], Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [21], Phan Thế Việt và cs, (1977) [29] thì: Ancylostomiosis là một bệnh phức hợp, có sự tham gia tấn công của nhiều loài giun tròn khác nhau, bao gồm cả Ancylostoma caninum (A. caninum), Ancylostoma braziliense (A.

Đặc điểm sinh học của giun móc ký sinh ở chó 2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17]; Nguyễn Văn Đề và cs (2009) [3] cho biết, ở chó thường có 3 loài giun móc ký sinh và gây bệnh sau: - Loài Ancylostoma caninum: giun nhỏ, màu hồng nhạt hoặc vàng nhạt, đoạn trước cong về phía lưng, túi miệng rất sâu, ở rìa mép phía dưới mặt bụng có 3 đôi răng lớn, cong hình lưỡi câu, đáy túi miệng có một đôi răng hình tam giác. Giun đực dài 9 - 12 mm, túi đuôi phát triển, có gai giao hợp mảnh dài 0,75 - 0,87 mm, đoạn cuối nhọn. Bánh lái gai giao hợp hơi mập, gốc có vành rộng, mút đuôi nhọn.

Con cái dài 10 - 21 mm, âm hộ ở đoạn 1/3 nửa thân sau. Đuôi có gai nhọn, trứng giun hình ô van, dài 0,06 - 0,066 mm, rộng 0,037 - 0,042 mm. Khi vừa theo phân ra ngoài trứng có 8 tế bào. - Loài Ancylostoma braziliense: loài này có kích thước nhỏ hơn loài trên.

Giun đực dài 6 - 7,75 mm, đầu hơi cong về phía mặt bụng, túi đuôi phát triển, hai gai giao hợp bằng nhau, dài 1,05 - 1,3 mm. Giun cái dài 7 - 10 mm, e 6 hai rìa mép bụng đều có 3 đôi răng, một đôi to và hai đôi nhỏ, lỗ sinh dục hơi lồi. Trứng hình ô van, dài 0,075 - 0,095mm, rộng 0,041 - 0,045 mm. - Loài Uncinari stenocephala: màu vàng nhạt, hai đàu hơi nhọn.

Túi miệng rất lớn, mặt bụng của túi miệng có 2 đôi răng hình bán nguyệt xếp đối xứng nhau. Giun đực dài 6 - 11 mm, rộng 0,28 - 0,34 mm, có túi đôi phát triển, hai gai giao hợp bằng nhau 0,65 - 0,75 mm, đầu mút gai rất nhọn. Giun cái dài 9 - 16 mm, chỗ rộng nhất là 0,28 - 0,37 mm, lỗ sinh dục ở 1/3 phía trước cơ thể. Trứng giun hình bầu dục, có kích thước 0,078 - 0,083 mm x 0,052 - 0,059 mm.

Theo Nguyễn Kim Lan (2012) [13], loài Ancylostoma caninum là loài giun móc phổ biến ký sinh và gây ra bệnh cho chó. Đặc điểm vòng đời sinh học Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [26], Phan Thế Việt và cs (1977) [29], Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [15]: toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ khi nó là mầm sinh vật đầu tiên cho đến khi có khả năng sinh sản mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới thì toàn bộ quá trình đó gọi là chu kỳ. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13], cho biết: sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài. Gặp nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, sau một tuần trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng qua hai lần lột xác thành ấu trùng gây nhiễm (có màng bao bọc bên ngoài) dài 0,59 - 0,69 mm, ruột có 30 - 40 tế bào.

Ấu trùng có khả năng di chuyển mạnh, chúng bò lên cỏ, nền chuồng hoặc tường. Ấu trùng gây nhiễm vào chó qua hai con đường: - Qua da (là chủ yếu): sau khi chui vào da, ấu trùng theo máu về tim, phổi. Phần lớn di hành giống giun đũa, chui vào tế bào, theo niêm dịch qua khí quản, tới hầu rồi về ruột. Một số ấu trùng theo máu di hành đến các cơ quan gây nên những điểm xuất huyết sau đó ấu trùng chết đi.

e 7 Trong khi di hành, ấu trùng có thể từ mẹ truyền sang bào thai làm cho con non bị nhiễm trước khi được đẻ ra. - Qua đường tiêu hóa: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa ký chủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình dịch tễ học của bệnh giun móc ở chó, một vấn đề sức khỏe thú y quan trọng. Nghiên cứu không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lây lan của bệnh mà còn đề xuất các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả. Điều này mang lại lợi ích lớn cho các bác sĩ thú y, chủ nuôi chó và những người quan tâm đến sức khỏe động vật, giúp họ có thêm kiến thức để bảo vệ thú cưng của mình.

Nếu bạn muốn mở rộng hiểu biết về các bệnh khác ở chó, hãy tham khảo tài liệu Luận văn tốt nghiệp tình hình nhiễm bệnh viêm ruột do parvovirus ở chó và xây dựng phác đồ điều trị tại phòng khám thú y thái nguyên, nơi nghiên cứu về một bệnh lý phổ biến khác. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu bênh sán dây trên chó tại một số tỉnh ở đồng bằng sông cửu long và biện pháp phòng trị, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các bệnh ký sinh trùng ở chó. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bệnh do demodex canis gây ra trên chó tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị sẽ cung cấp thêm thông tin về một loại bệnh ký sinh trùng khác, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe thú cưng.