Luận án tiến sĩ về phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy ở Khánh Hòa và Gia Lai (2014-2017)

Luận án tiến sĩ nghiên cứu y tế công cộng nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng chống sốt rét cho người dân, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

174
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình sốt rét trên thế giới, ở Việt Nam và tại khu vực miền Trung-Tây Nguyên

1.1.1. Tình hình sốt rét trên thế giới

1.1.2. Tình hình sốt rét ở Việt Nam và khu vực miền Trung-Tây nguyên

1.1.3. Tình hình sốt rét ở 2 tỉnh Gia Lai và Khánh Hòa

1.1.4. Đặc điểm dịch tễ bệnh sốt rét

1.1.4.1. Tác nhân gây bệnh
1.1.4.2. Khối cảm thụ (con người)
1.1.4.3. Trung gian truyền bệnh sốt rét
1.1.4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lan truyền sốt rét tự nhiên
1.1.4.5. Sự phân bố bệnh sốt rét
1.1.4.6. Mùa truyền bệnh sốt rét

1.1.5. Các nghiên cứu về dịch tễ bệnh sốt rét

1.1.6. Các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét

1.1.6.1. Chiến lược loại trừ sốt rét
1.1.6.2. Điều trị bệnh nhân sốt rét cắt đứt nguồn bệnh
1.1.6.3. Phòng chống trung gian truyền bệnh sốt rét cắt đứt nguồn lây
1.1.6.4. Truyền thông giáo dục phòng chống sốt rét
1.1.6.5. Phòng bệnh bằng vắc xin sốt rét
1.1.6.6. Các nghiên cứu về biện pháp phòng chống sốt rét

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Nội dung nghiên cứu

2.7. Một số thuật ngữ và biến số trong nghiên cứu

2.8. Cách tính của một số chỉ số trong nghiên cứu

2.9. Các kỹ thuật nghiên cứu

2.10. Vật liệu nghiên cứu và công cụ thu thập số liệu

2.11. Xử lý mẫu vật

2.12. Nội dung và chỉ số đánh giá

2.13. Xử lý và phân tích số liệu

2.14. Khống chế sai số

2.15. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm dịch tễ sốt rét và yếu tố liên quan đến mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa và huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, 2014-2015. Tỷ lệ mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy tại địa điểm nghiên cứu

3.2. Một số đặc điểm ký sinh trùng sốt rét tại địa điểm nghiên cứu

3.3. Một số đặc điểm muỗi sốt rét tại địa điểm nghiên cứu

3.4. Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh sốt rét của người dân ngủ rẫy

3.5. Một số yếu tố liên quan đến mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy

3.6. Hiệu quả can thiệp bằng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu kết hợp với truyền thông phòng chống sốt rét cho người ngủ rẫy tại điểm nghiên cứu, 2016-2017. Tỷ lệ bệnh nhân sốt rét, mật độ véc tơ sốt rét trước can thiệp

3.7. Tỷ lệ mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy sau can thiệp

3.8. Mật độ véc tơ sốt rét sau can thiệp

3.9. Hiệu lực diệt tồn lưu của màn 1 đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu

3.10. Hiệu quả truyền thông giáo dục thực hành phòng chống sốt rét

3.11. Sự chấp nhận của cộng đồng đối với màn 1 đỉnh tồn lưu lâu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Một số đặc điểm dịch tễ sốt rét và yếu tố liên quan đến mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa và huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, 2014-2015. Một số đặc điểm dịch tễ sốt rét tại địa điểm nghiên cứu

4.2. Một số yếu tố liên quan đến mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy tại địa điểm nghiên cứu. Hiệu quả can thiệp bằng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu kết hợp với truyền thông phòng chống sốt rét cho người ngủ rẫy tại điểm nghiên cứu, 2016-2017. Tỷ lệ mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy sau can thiệp

4.3. Mật độ véc tơ sốt rét trước và sau can thiệp

4.4. Hiệu lực diệt tồn lưu của màn 1 đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu

4.5. Hiệu quả truyền thông giáo dục nâng cao thực hành phòng chống sốt rét. Sự chấp nhận của cộng đồng với màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu

4.6. Tính khoa học, tính mới và tính thực tiễn của luận án

4.7. Đóng góp mới của luận án

4.8. Ý nghĩa khoa học

4.9. Ý nghĩa thực tiễn

4.10. Một số hạn chế của đề tài luận án

KẾT LUẬN

KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm dịch tễ sốt rét tại Khánh Hòa và Gia Lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng dịch tễ sốt rét tại hai tỉnh Khánh Hòa và Gia Lai có những đặc điểm riêng biệt. Tỷ lệ mắc sốt rét ở người dân ngủ rẫy cao hơn so với khu vực dân cư cố định. Các yếu tố như điều kiện sống, thói quen ngủ rẫy và sự tiếp xúc với véc tơ truyền bệnh đã góp phần làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh. Theo số liệu thu thập, tỷ lệ mắc sốt rét ở huyện Khánh Vĩnh và huyện Krông Pa trong giai đoạn 2014-2015 cho thấy sự gia tăng đáng kể, đặc biệt là ở nhóm dân tộc thiểu số. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng này.

1.1. Tình hình mắc sốt rét

Tình hình mắc sốt rét tại Khánh Hòa và Gia Lai trong giai đoạn 2014-2015 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao, đặc biệt là ở những người có thói quen ngủ rẫy. Các nghiên cứu cho thấy rằng người dân ngủ rẫy có nguy cơ mắc bệnh cao hơn do tiếp xúc trực tiếp với muỗi Anopheles. Sự thiếu hiểu biết về biện pháp phòng chống sốt rét cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến tình trạng này. Việc nâng cao nhận thức và thực hành phòng chống sốt rét trong cộng đồng là rất cần thiết để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh.

1.2. Các yếu tố liên quan đến mắc sốt rét

Nghiên cứu đã xác định một số yếu tố liên quan đến việc mắc sốt rét ở người dân ngủ rẫy, bao gồm điều kiện sống, thói quen sinh hoạt và sự tiếp xúc với véc tơ truyền bệnh. Nguy cơ sốt rét gia tăng khi người dân không sử dụng màn tẩm hóa chất và không có ý thức phòng chống bệnh. Các biện pháp như truyền thông giáo dục và can thiệp bằng màn tẩm hóa chất đã được áp dụng để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh. Kết quả cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp hiệu quả nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

II. Biện pháp phòng chống sốt rét

Các biện pháp phòng chống sốt rét đã được triển khai tại hai tỉnh Khánh Hòa và Gia Lai trong giai đoạn 2016-2017. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu có hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ mắc sốt rét. Biện pháp phòng chống sốt rét này không chỉ giúp bảo vệ người dân khỏi muỗi mà còn nâng cao nhận thức về phòng chống bệnh trong cộng đồng. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc sốt rét giảm đáng kể sau khi áp dụng biện pháp can thiệp này.

2.1. Hiệu quả can thiệp bằng màn tẩm hóa chất

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu có hiệu quả trong việc giảm mật độ véc tơ sốt rét. Tỷ lệ mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy giảm rõ rệt sau khi áp dụng biện pháp này. Việc sử dụng màn tẩm hóa chất không chỉ bảo vệ người dân khỏi muỗi mà còn tạo ra một môi trường sống an toàn hơn. Điều này cho thấy rằng biện pháp y tế này cần được mở rộng và duy trì để đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng.

2.2. Truyền thông giáo dục phòng chống sốt rét

Truyền thông giáo dục là một phần quan trọng trong công tác phòng chống sốt rét. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nâng cao nhận thức của người dân về bệnh sốt rét và các biện pháp phòng chống có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các chương trình truyền thông cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm văn hóa và thói quen sinh hoạt của người dân để đạt hiệu quả cao nhất. Sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phòng chống sốt rét là rất cần thiết để tạo ra sự thay đổi tích cực trong hành vi và thói quen của người dân.

III. Đánh giá hiệu quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã cung cấp những thông tin quý giá về tình hình sốt rét và các biện pháp phòng chống tại Khánh Hòa và Gia Lai. Kết quả cho thấy rằng việc áp dụng các biện pháp can thiệp phù hợp có thể giảm thiểu tỷ lệ mắc sốt rét trong cộng đồng. Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt y tế mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Các biện pháp phòng chống sốt rét cần được duy trì và phát triển hơn nữa để đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đã đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về dịch tễ sốt rét và các yếu tố liên quan đến mắc bệnh. Những phát hiện này có thể được sử dụng làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo và các chương trình can thiệp phòng chống sốt rét trong tương lai. Việc hiểu rõ về tình hình dịch tễ sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định đúng đắn trong công tác phòng chống sốt rét.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong thực tiễn để cải thiện công tác phòng chống sốt rét tại các khu vực có nguy cơ cao. Các biện pháp can thiệp hiệu quả sẽ giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và bảo vệ sức khỏe cho người dân. Sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phòng chống sốt rét là rất cần thiết để tạo ra sự thay đổi tích cực trong hành vi và thói quen của người dân.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ y tế công cộng nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy ở hai huyện của tỉnh khánh hòa và gia lai 2014 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sốt rét trên thế giới, ở Việt Nam và tại khu vực miền Trung- Tây Nguyên 1. Tình hình sốt rét trên thế giới Năm 1956, Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) phát động chiến dịch “Tiêu diệt sốt rét (TDSR)” trên quy mô toàn cầu có thời hạn 10-12 năm với 4 giai đoạn [40]: Giai đoạn chuẩn bị (2 năm); Giai đoạn tấn công (4 năm), Giai đoạn củng cố (3 năm) và Giai đoạn bảo vệ (nhiều năm) [42]. Đến năm 1966, cuộc họp lần thứ 17 của TCYTTG đã xác định 12 khó khăn trong việc tiến hành chương trình TDSR, trong đó có 9 khó khăn về tổ chức, kinh tế, xã hội và 3 khó khăn về kỹ thuật: muỗi SR kháng hóa chất diệt muỗi (53 loại muỗi kháng DDT); muỗi sốt rét trú ẩn ngoài nhà (tránh thuốc DDT phun trong nhà); Plasmodium falciparum (P.

falciparum) kháng nhóm 4-aminoquinolein. Năm 1979, Đại hội đồng TCYTTG lần thứ 31 ra Nghị quyết chuyển hẳn từ chiến lược TDSR sang chiến lược phòng chống sốt rét (PCSR) [42]. Năm 2009, bệnh SR vẫn lưu hành ở 108 quốc gia, khoảng 225 triệu người mắc và 781 nghìn người tử vong do SR, riêng châu Phi chiếm 91%; Đông Nam Á chiếm 6%. Năm 2010 có 219 triệu trường hợp mắc SR, 660.000 trường hợp tử vong sốt rét (TVSR) trong đó 80% số ca chết chỉ trong 14 quốc gia [36].

Năm 2012, trên thế giới có khoảng 207 triệu trường hợp mắc sốt rét (SR) và ước tính có khoảng 627.000 TVSR, 80% là ở châu Phi. TCYTTG cảnh báo trở ngại này có thể sẽ khiến mục tiêu ở các nước phát triển vào cuối năm 2015 khó thực hiện được. Số ca mắc và tử vong do sốt rét của một số quốc gia Châu Á (2013) TT Quốc gia Số mắc Số tử vong 1 Indonesia 1.256 45 2 Papua new Guinea 1.042 3 15 Triều Tiên 443 2 Năm 2013 số mắc và tử vong vẫn cao với 198 triệu ca mắc SR và 584.000 trường hợp TVSR, trong đó có 453.000 trẻ em dưới 5 tuổi ở châu Phi. Khoảng 90% trường hợp mắc ở châu Phi, 80% số ca mắc SR xảy ra chủ yếu ở 18 quốc gia và 80% ca tử vong xảy ra ở 16 quốc gia.

vivax xảy ra chủ yếu ở 3 quốc gia gồm Ấn Độ, Indonesia và Pakistan chiếm 80%. Gánh nặng SR trên toàn cầu tập trung chủ yếu ở những quốc gia thuộc tiểu vùng Sahara châu Phi. Công gô và Nigeria là hai quốc gia chiếm 39% tổng số ca tử vong trên toàn cầu và 34% số ca mắc trong năm 2013. Các quốc gia châu Á như Indonesia và Papua New Guinea có số mắc trên 1 triệu người; tại Ấn Độ có số TVSR cao nhất trong các nước châu Á với trên 400 người.

Các quốc gia có biên giới với Việt Nam đều 26 có SRLH như Lào, Campuchia, Trung Quốc có số mắc từ trên 4.385 trường hợp [126]. Theo báo cáo của TCYTTG năm 2014 có 97 quốc gia trên thế giới lưu hành sốt rét, ước tính có khoảng 3,2 tỷ người có nguy cơ mắc SR với 1,2 tỷ người có nguy cơ cao mắc SR, có 198 triệu BNSR và 584 ngàn TVSR, các nước thuộc Tiểu vùng sa mạc Sahara, châu Phi chiếm 90% số trường hợp TVSR và TVSR ở trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 78% [127]. Các nước khu vực Tây Thái Bình Dương có 717 triệu người có nguy cơ bị mắc SR trong đó 41 triệu người có nguy cơ mắc SR cao. Sốt rét lây truyền mạnh tại Papua New Guinea, Solomon và Vanuatu và một số quốc gia khác của khu vực, đối tượng mắc SR chủ yếu ở các nhóm dân tộc thiểu số và dân di cư [128].

Hầu hết các trường hợp mắc KSTSR là P. vivax, trong những năm gần đây số trường hợp SR rét do P. knowlesi từ khỉ lan truyền sang người đã làm tăng số lượng mắc sốt rét trong khu vực [112]. Theo số liệu của TCYTTG năm 2014, trong số 406 trường hợp TVSR của khu vực Tây Thái Bình Dương thì các nước Papua New Guinea chiếm 83% và Lào chiếm 73% [129].

Khu vực Đông Nam Á có lây truyền SR do P. falciparum chiếm 61,5% tổng số KSTSR [126]. Hơn nữa, khu vực này có đủ 5 loại KSTSR gây bệnh với sự đa dạng véc tơ SR, biến đổi khí hậu, di dân tự do là những yếu tố góp phần làm cho tình hình SR ở khu vực này thêm phức tạp [130]. Bên cạnh đó, muỗi kháng hóa chất cũng đã phát hiện được ở nhiều nước trong khu vực này, đặc biệt P.

falciparum đã kháng với artemisinin và các dẫn xuất artemisinin phát hiện được ở 4 nước Tiểu vùng sông Mê Kông là Thái Lan, Myanmar, Campuchia và Việt Nam, ngày càng trở nên trầm trọng và có xu hướng gia tăng về phạm vi và mức độ [89], [127]. Năm 2002, tại tỉnh Pailin của Campuchia tỷ lệ BNSR thất bại điều trị với phác đồ artesunate + mefloquin tăng cao (thất bại điều trị muộn thời điểm D28, D42 là 14,3%, KSTSR dương tính ngày D3 là 10%). Năm 2006, TCYTTG đã xác 27 định 2 trường hợp kháng artemisinin tại Tasanh, Campuchia [91]. Tại Thái Lan, giảm hiệu quả điều trị của artesunate + mefloquin xuất hiện muộn hơn và tại vùng biên giới với Campuchia (tỉnh Trat) giảm từ 92,5% năm 1998 xuống 84,6% năm 2002 [94].

Tại vùng biên giới với Myanmar (tỉnh Kanchanaburi) tỷ lệ sạch KSTSR ngày D3 đã giảm từ 100% (2005) xuống còn 80% (2009). Theo kết quả nghiên cứu được tiến hành tại 16 quốc gia thời gian 2002-2010, tỷ lệ điều trị thất bại của phác đồ DHA-PPQ dưới 10% và các nghiên cứu của Ruwanda, Papua New Guinea 9,1-12% (WHO, 2010) [3]. Trước tình hình P. falciparum kháng artemisinin phát triển và lan rộng, TCYTTG và các tổ chức trong khu vực đã có những bước đi cần thiết nhằm ngăn chặn KSTSR kháng thuốc toàn cầu năm 2011 [4].

Tình hình sốt rét ở Việt Nam và khu vực miền Trung-Tây Nguyên 1. Tình hình sốt rét ở Việt Nam Từ năm 1976-1990, Chương trình TDSR chuyển sang thanh toán sốt rét (TTSR) trong cả nước theo loại hình mục tiêu 4 của WHO. Đến những năm đầu thập kỉ 1980, chương trình TTSR bắt đầu gặp một số khó khăn về kĩ thuật và thực hành làm cho tình hình SR gia tăng một cách nhanh chóng. Năm 1991, tình hình SR diễn biến xấu, có hơn 1 triệu ca mắc và 4.

Từ năm 1991, mục tiêu TTSR đã được thay thế bằng mục tiêu PCSR. Artemisinin tỏ ra là lọai thuốc có hiệu quả, được sử dụng rộng rãi trong điều trị SR. Đến năm 1998, trên phạm vi toàn quốc bệnh SR giảm dần từng năm và Việt Nam được xem là nước có nhiều thành công trong chương trình PCSR. Năm 2000, sau 10 năm thực hiện: số người mắc SR giảm 73,1% so với năm 1991 (1.251 ca); TVSR giảm 98,5% so với năm 1991 (4.646 ca), 2 vụ dịch SR (phạm vi thôn, bản), giảm 98,6% so với năm 1991 (144 vụ dịch) [36].

Từ năm 2010, SR là một trong những dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia và sự hỗ trợ của các Dự án đầu tư nước ngoài, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước cùng với sự nỗ lực quyết tâm của ngành Y tế, công tác PCSR ở 28 nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tỷ lệ mắc sốt rét/1.000 dân số đạt 0,62 giảm 81,04%; tỷ lệ TVSR/100.000 dân số đạt 0,02 giảm 83,33 so với năm 2001, chỉ có 1 vụ dịch SR (phạm vi thôn, bản) [37]. Tình hình sốt rét toàn quốc giai đoạn 2011-2014 So sánh TT Chỉ số 2011 2012 2013 2014 2014/2011 1 Số BNSR 45.14 5 Số vụ dịch SR 0 0 0 0 Năm 2014, tình hình SR đã giảm một cách đáng kể, số liệu từ năm 2011- 2014 cho thấy số tỷ lệ mắc BNSR/1.000 dân giảm 40% so với năm 2011 (0,3/0,52), số TVSR giảm 57,1% so với năm 2011 (6/14 trường hợp) [4]. Giai đoạn 2011-2014, số BNSR giảm dần qua các năm từ 45.588 trường hợp năm 2011 xuống còn 27.868 trường hợp năm 2014, giảm 38,87%.

Số TVSR giảm 57,14%, từ 14 trường hợp năm 2011 xuống còn 6 trường hợp năm 2014 [85]. Trong 4 năm 2011-2014 có 45/63 tỉnh, thành phố không có TVSR, không có dịch sốt rét xảy ra. Tuy nhiên SR tại một số tỉnh thuộc khu vực miền Trung- Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ diễn biến phức tạp, đặc biệt là 2 tỉnh Gia Lai và Bình Phước [85]. Tình hình sốt rét ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên Trong giai đoạn 2001-2005, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng công tác PCSR của khu vực miền Trung-Tây Nguyên vẫn đạt được các mục tiêu đề ra.

So sánh với năm 2001, số BNSR năm 2005 giảm 62,47%; số SRAT giảm 73,00%; TVSR giảm 82,89%, tỷ lệ KSTSR/lam giảm 68,74%, đặc biệt không có dịch SR xảy ra [73]. 29 Từ năm 2007-2009 dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tình hình có diễn biến phức tạp, số BNSR có xu hướng tăng cao so với những năm trước đó. Năm 2009 BNSR toàn khu vực tăng 14,61%, trong đó miền Trung tăng 6,18%, Tây Nguyên tăng 26,58%, TVSR là 16 trường hợp tăng 2 ca so với năm 2008 [36]. Tình hình sốt rét ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên 2011-2014.

TT Chỉ số 2011 2012 2013 2014 Tăng/giảm 1 BNSR 16.816 + 12,94 4 Số TVSR 6 7 3 3 - 50,00% 5 Số vụ dịch SR 0 0 0 0 0 Từ năm 2011-2014, số BNSR ở miền Trung-Tây Nguyên giảm dần qua các năm từ 16. Số TVSR giảm 50,00%, từ 6 ca năm 2011 xuống còn 3 ca năm 2014. Theo báo cáo tại Hội nghị đánh giá công tác PCSR năm 2014 của khu vực miền Trung-Tây Nguyên, cho thấy tỷ lệ mắc SR năm giảm 9,52%, số KSTSR/lam tăng 2,75%, 46 ca SRAT tăng 2.22%, 3 ca TVSR không tăng so với cùng kỳ năm 2013 [81], [85]. Tình hình sốt rét ở 2 tỉnh Gia Lai và Khánh Hoà 1.1 Tình hình sốt rét ở tỉnh Gia Lai Gia Lai là tỉnh SR trọng điểm của khu vực miền Trung-Tây Nguyên, số liệu cho thấy từ năm 1991 đến 2011 tình hình SR toàn tỉnh giảm một cách rõ rệt, tuy nhiên từ năm 2012 đến năm 2014 số BNSR và KSTSR luôn duy trì ở mức cao nhất so với cả nước.

Năm 2014, BNSR so với cùng kỳ năm trước tăng 3,63%, tỷ lệ % KST/lam tăng 36,86%. BNSR tập trung chủ yếu ở người lớn và có hoạt động đi rừng, ngủ rẫy và khai thác lâm sản. falciparum có dấu hiệu giảm nhạy với thuốc 30 DHA-PPQ biểu hiện KSTSR (+) ngày D3 là 38,5% (2009) và 23,3% (2012). Người dân tộc thiểu số chiếm trên 80%, chủ yếu là Gia Rai (54%).

Có đến 21,3% dân số ở các vùng SR trọng điểm, trong số đó có 15% là thường xuyên ngủ rẫy [81].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu dịch tễ và biện pháp phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy tại Khánh Hòa và Gia Lai (2014-2017)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình dịch tễ sốt rét tại hai tỉnh Khánh Hòa và Gia Lai trong giai đoạn 2014-2017. Nghiên cứu không chỉ phân tích các yếu tố nguy cơ dẫn đến sự lây lan của bệnh mà còn đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả nhằm bảo vệ sức khỏe cho người dân, đặc biệt là những người sống trong khu vực rẫy. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, chuyên gia y tế và cộng đồng, giúp nâng cao nhận thức và cải thiện các chiến lược phòng ngừa bệnh sốt rét.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến dịch tễ học và biện pháp phòng chống bệnh, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét và biện pháp phòng chống tăng cường tại vùng sốt rét có dân di biến động ở Bình Phước và Gia Lai 2016-2017", nơi cung cấp thêm thông tin về các biện pháp phòng chống sốt rét tại khu vực khác. Ngoài ra, bài viết "Chi phí hiệu quả của các biện pháp dự phòng sốt xuất huyết dengue tại tỉnh An Giang" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp phòng ngừa bệnh truyền nhiễm. Cuối cùng, bài viết "Đặc điểm dịch tễ lâm sàng yếu tố nguy cơ mắc tiêu chảy do Clostridium difficile ở người lớn tại Bệnh viện Bạch Mai 2013-2017" sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố nguy cơ trong dịch tễ học, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các bệnh truyền nhiễm hiện nay.