CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sốt rét trên thế giới, ở Việt Nam và tại khu vực miền Trung- Tây Nguyên 1. Tình hình sốt rét trên thế giới Năm 1956, Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) phát động chiến dịch “Tiêu diệt sốt rét (TDSR)” trên quy mô toàn cầu có thời hạn 10-12 năm với 4 giai đoạn [40]: Giai đoạn chuẩn bị (2 năm); Giai đoạn tấn công (4 năm), Giai đoạn củng cố (3 năm) và Giai đoạn bảo vệ (nhiều năm) [42]. Đến năm 1966, cuộc họp lần thứ 17 của TCYTTG đã xác định 12 khó khăn trong việc tiến hành chương trình TDSR, trong đó có 9 khó khăn về tổ chức, kinh tế, xã hội và 3 khó khăn về kỹ thuật: muỗi SR kháng hóa chất diệt muỗi (53 loại muỗi kháng DDT); muỗi sốt rét trú ẩn ngoài nhà (tránh thuốc DDT phun trong nhà); Plasmodium falciparum (P.
falciparum) kháng nhóm 4-aminoquinolein. Năm 1979, Đại hội đồng TCYTTG lần thứ 31 ra Nghị quyết chuyển hẳn từ chiến lược TDSR sang chiến lược phòng chống sốt rét (PCSR) [42]. Năm 2009, bệnh SR vẫn lưu hành ở 108 quốc gia, khoảng 225 triệu người mắc và 781 nghìn người tử vong do SR, riêng châu Phi chiếm 91%; Đông Nam Á chiếm 6%. Năm 2010 có 219 triệu trường hợp mắc SR, 660.000 trường hợp tử vong sốt rét (TVSR) trong đó 80% số ca chết chỉ trong 14 quốc gia [36].
Năm 2012, trên thế giới có khoảng 207 triệu trường hợp mắc sốt rét (SR) và ước tính có khoảng 627.000 TVSR, 80% là ở châu Phi. TCYTTG cảnh báo trở ngại này có thể sẽ khiến mục tiêu ở các nước phát triển vào cuối năm 2015 khó thực hiện được. Số ca mắc và tử vong do sốt rét của một số quốc gia Châu Á (2013) TT Quốc gia Số mắc Số tử vong 1 Indonesia 1.256 45 2 Papua new Guinea 1.042 3 15 Triều Tiên 443 2 Năm 2013 số mắc và tử vong vẫn cao với 198 triệu ca mắc SR và 584.000 trường hợp TVSR, trong đó có 453.000 trẻ em dưới 5 tuổi ở châu Phi. Khoảng 90% trường hợp mắc ở châu Phi, 80% số ca mắc SR xảy ra chủ yếu ở 18 quốc gia và 80% ca tử vong xảy ra ở 16 quốc gia.
vivax xảy ra chủ yếu ở 3 quốc gia gồm Ấn Độ, Indonesia và Pakistan chiếm 80%. Gánh nặng SR trên toàn cầu tập trung chủ yếu ở những quốc gia thuộc tiểu vùng Sahara châu Phi. Công gô và Nigeria là hai quốc gia chiếm 39% tổng số ca tử vong trên toàn cầu và 34% số ca mắc trong năm 2013. Các quốc gia châu Á như Indonesia và Papua New Guinea có số mắc trên 1 triệu người; tại Ấn Độ có số TVSR cao nhất trong các nước châu Á với trên 400 người.
Các quốc gia có biên giới với Việt Nam đều 26 có SRLH như Lào, Campuchia, Trung Quốc có số mắc từ trên 4.385 trường hợp [126]. Theo báo cáo của TCYTTG năm 2014 có 97 quốc gia trên thế giới lưu hành sốt rét, ước tính có khoảng 3,2 tỷ người có nguy cơ mắc SR với 1,2 tỷ người có nguy cơ cao mắc SR, có 198 triệu BNSR và 584 ngàn TVSR, các nước thuộc Tiểu vùng sa mạc Sahara, châu Phi chiếm 90% số trường hợp TVSR và TVSR ở trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 78% [127]. Các nước khu vực Tây Thái Bình Dương có 717 triệu người có nguy cơ bị mắc SR trong đó 41 triệu người có nguy cơ mắc SR cao. Sốt rét lây truyền mạnh tại Papua New Guinea, Solomon và Vanuatu và một số quốc gia khác của khu vực, đối tượng mắc SR chủ yếu ở các nhóm dân tộc thiểu số và dân di cư [128].
Hầu hết các trường hợp mắc KSTSR là P. vivax, trong những năm gần đây số trường hợp SR rét do P. knowlesi từ khỉ lan truyền sang người đã làm tăng số lượng mắc sốt rét trong khu vực [112]. Theo số liệu của TCYTTG năm 2014, trong số 406 trường hợp TVSR của khu vực Tây Thái Bình Dương thì các nước Papua New Guinea chiếm 83% và Lào chiếm 73% [129].
Khu vực Đông Nam Á có lây truyền SR do P. falciparum chiếm 61,5% tổng số KSTSR [126]. Hơn nữa, khu vực này có đủ 5 loại KSTSR gây bệnh với sự đa dạng véc tơ SR, biến đổi khí hậu, di dân tự do là những yếu tố góp phần làm cho tình hình SR ở khu vực này thêm phức tạp [130]. Bên cạnh đó, muỗi kháng hóa chất cũng đã phát hiện được ở nhiều nước trong khu vực này, đặc biệt P.
falciparum đã kháng với artemisinin và các dẫn xuất artemisinin phát hiện được ở 4 nước Tiểu vùng sông Mê Kông là Thái Lan, Myanmar, Campuchia và Việt Nam, ngày càng trở nên trầm trọng và có xu hướng gia tăng về phạm vi và mức độ [89], [127]. Năm 2002, tại tỉnh Pailin của Campuchia tỷ lệ BNSR thất bại điều trị với phác đồ artesunate + mefloquin tăng cao (thất bại điều trị muộn thời điểm D28, D42 là 14,3%, KSTSR dương tính ngày D3 là 10%). Năm 2006, TCYTTG đã xác 27 định 2 trường hợp kháng artemisinin tại Tasanh, Campuchia [91]. Tại Thái Lan, giảm hiệu quả điều trị của artesunate + mefloquin xuất hiện muộn hơn và tại vùng biên giới với Campuchia (tỉnh Trat) giảm từ 92,5% năm 1998 xuống 84,6% năm 2002 [94].
Tại vùng biên giới với Myanmar (tỉnh Kanchanaburi) tỷ lệ sạch KSTSR ngày D3 đã giảm từ 100% (2005) xuống còn 80% (2009). Theo kết quả nghiên cứu được tiến hành tại 16 quốc gia thời gian 2002-2010, tỷ lệ điều trị thất bại của phác đồ DHA-PPQ dưới 10% và các nghiên cứu của Ruwanda, Papua New Guinea 9,1-12% (WHO, 2010) [3]. Trước tình hình P. falciparum kháng artemisinin phát triển và lan rộng, TCYTTG và các tổ chức trong khu vực đã có những bước đi cần thiết nhằm ngăn chặn KSTSR kháng thuốc toàn cầu năm 2011 [4].
Tình hình sốt rét ở Việt Nam và khu vực miền Trung-Tây Nguyên 1. Tình hình sốt rét ở Việt Nam Từ năm 1976-1990, Chương trình TDSR chuyển sang thanh toán sốt rét (TTSR) trong cả nước theo loại hình mục tiêu 4 của WHO. Đến những năm đầu thập kỉ 1980, chương trình TTSR bắt đầu gặp một số khó khăn về kĩ thuật và thực hành làm cho tình hình SR gia tăng một cách nhanh chóng. Năm 1991, tình hình SR diễn biến xấu, có hơn 1 triệu ca mắc và 4.
Từ năm 1991, mục tiêu TTSR đã được thay thế bằng mục tiêu PCSR. Artemisinin tỏ ra là lọai thuốc có hiệu quả, được sử dụng rộng rãi trong điều trị SR. Đến năm 1998, trên phạm vi toàn quốc bệnh SR giảm dần từng năm và Việt Nam được xem là nước có nhiều thành công trong chương trình PCSR. Năm 2000, sau 10 năm thực hiện: số người mắc SR giảm 73,1% so với năm 1991 (1.251 ca); TVSR giảm 98,5% so với năm 1991 (4.646 ca), 2 vụ dịch SR (phạm vi thôn, bản), giảm 98,6% so với năm 1991 (144 vụ dịch) [36].
Từ năm 2010, SR là một trong những dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia và sự hỗ trợ của các Dự án đầu tư nước ngoài, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước cùng với sự nỗ lực quyết tâm của ngành Y tế, công tác PCSR ở 28 nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tỷ lệ mắc sốt rét/1.000 dân số đạt 0,62 giảm 81,04%; tỷ lệ TVSR/100.000 dân số đạt 0,02 giảm 83,33 so với năm 2001, chỉ có 1 vụ dịch SR (phạm vi thôn, bản) [37]. Tình hình sốt rét toàn quốc giai đoạn 2011-2014 So sánh TT Chỉ số 2011 2012 2013 2014 2014/2011 1 Số BNSR 45.14 5 Số vụ dịch SR 0 0 0 0 Năm 2014, tình hình SR đã giảm một cách đáng kể, số liệu từ năm 2011- 2014 cho thấy số tỷ lệ mắc BNSR/1.000 dân giảm 40% so với năm 2011 (0,3/0,52), số TVSR giảm 57,1% so với năm 2011 (6/14 trường hợp) [4]. Giai đoạn 2011-2014, số BNSR giảm dần qua các năm từ 45.588 trường hợp năm 2011 xuống còn 27.868 trường hợp năm 2014, giảm 38,87%.
Số TVSR giảm 57,14%, từ 14 trường hợp năm 2011 xuống còn 6 trường hợp năm 2014 [85]. Trong 4 năm 2011-2014 có 45/63 tỉnh, thành phố không có TVSR, không có dịch sốt rét xảy ra. Tuy nhiên SR tại một số tỉnh thuộc khu vực miền Trung- Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ diễn biến phức tạp, đặc biệt là 2 tỉnh Gia Lai và Bình Phước [85]. Tình hình sốt rét ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên Trong giai đoạn 2001-2005, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng công tác PCSR của khu vực miền Trung-Tây Nguyên vẫn đạt được các mục tiêu đề ra.
So sánh với năm 2001, số BNSR năm 2005 giảm 62,47%; số SRAT giảm 73,00%; TVSR giảm 82,89%, tỷ lệ KSTSR/lam giảm 68,74%, đặc biệt không có dịch SR xảy ra [73]. 29 Từ năm 2007-2009 dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tình hình có diễn biến phức tạp, số BNSR có xu hướng tăng cao so với những năm trước đó. Năm 2009 BNSR toàn khu vực tăng 14,61%, trong đó miền Trung tăng 6,18%, Tây Nguyên tăng 26,58%, TVSR là 16 trường hợp tăng 2 ca so với năm 2008 [36]. Tình hình sốt rét ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên 2011-2014.
TT Chỉ số 2011 2012 2013 2014 Tăng/giảm 1 BNSR 16.816 + 12,94 4 Số TVSR 6 7 3 3 - 50,00% 5 Số vụ dịch SR 0 0 0 0 0 Từ năm 2011-2014, số BNSR ở miền Trung-Tây Nguyên giảm dần qua các năm từ 16. Số TVSR giảm 50,00%, từ 6 ca năm 2011 xuống còn 3 ca năm 2014. Theo báo cáo tại Hội nghị đánh giá công tác PCSR năm 2014 của khu vực miền Trung-Tây Nguyên, cho thấy tỷ lệ mắc SR năm giảm 9,52%, số KSTSR/lam tăng 2,75%, 46 ca SRAT tăng 2.22%, 3 ca TVSR không tăng so với cùng kỳ năm 2013 [81], [85]. Tình hình sốt rét ở 2 tỉnh Gia Lai và Khánh Hoà 1.1 Tình hình sốt rét ở tỉnh Gia Lai Gia Lai là tỉnh SR trọng điểm của khu vực miền Trung-Tây Nguyên, số liệu cho thấy từ năm 1991 đến 2011 tình hình SR toàn tỉnh giảm một cách rõ rệt, tuy nhiên từ năm 2012 đến năm 2014 số BNSR và KSTSR luôn duy trì ở mức cao nhất so với cả nước.
Năm 2014, BNSR so với cùng kỳ năm trước tăng 3,63%, tỷ lệ % KST/lam tăng 36,86%. BNSR tập trung chủ yếu ở người lớn và có hoạt động đi rừng, ngủ rẫy và khai thác lâm sản. falciparum có dấu hiệu giảm nhạy với thuốc 30 DHA-PPQ biểu hiện KSTSR (+) ngày D3 là 38,5% (2009) và 23,3% (2012). Người dân tộc thiểu số chiếm trên 80%, chủ yếu là Gia Rai (54%).
Có đến 21,3% dân số ở các vùng SR trọng điểm, trong số đó có 15% là thường xuyên ngủ rẫy [81].