Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y tế công cộng của tác giả Hồ Đắc Thoàn với đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy ở hai huyện của tỉnh Khánh Hòa và Gia Lai (2014-2017)" được thực hiện tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương vào năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thúy Hoa và PGS. Nguyễn Văn Chương.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Khu vực miền Trung - Tây Nguyên là địa bàn có tình hình sốt rét phức tạp nhất tại Việt Nam: trên 70% dân số sống trong vùng nguy cơ sốt rét, hàng năm số bệnh nhân sốt rét và ký sinh trùng sốt rét chiếm gần 75%, số ca sốt rét ác tính và tử vong do sốt rét chiếm trên 80% so với cả nước. Trong đó, tỉnh Gia Lai và tỉnh Khánh Hòa là hai trọng điểm sốt rét của khu vực. Ca bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm dân cư di biến động, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số canh tác nương rẫy và có tập quán ngủ rẫy tại các vùng sốt rét lưu hành nặng.

Đặc thù nhà rẫy của người dân nằm rải rác trên núi cao nơi có mật độ véc tơ truyền bệnh cao; cấu trúc nhà rẫy nhỏ, vách thưa, đơn giản, bên trong có bếp nấu ăn thường đốt lửa ban đêm nên không đủ diện tích để treo các loại màn chữ nhật thông thường. Bên cạnh đó, người dân chưa có ý thức tự phòng bệnh, không đến cơ sở y tế khám khi bị sốt, dẫn đến không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Ngoài ra, ký sinh trùng Plasmodium falciparum đã xuất hiện dấu hiệu giảm nhạy và kháng với thuốc điều trị phối hợp chứa dẫn xuất artemisinin (ACTs). Các biện pháp phòng chống véc tơ truyền thống như phun hóa chất tồn lưu và tẩm màn chỉ phát huy hiệu quả ở khu dân cư cố định (thôn, bản, làng), để lại khoảng trống can thiệp lớn đối với nhóm dân cư ngủ rẫy.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Đặc điểm dịch tễ bệnh sốt rét ở khu vực nhà rẫy có gì khác với ở khu dân cư sống trong vùng sốt rét lưu hành?
  2. Yếu tố nào liên quan đến vấn đề mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy?
  3. Biện pháp phòng chống sốt rét nào là hiệu quả nhất cho đối tượng ngủ rẫy?

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ sốt rét và yếu tố liên quan đến mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa và huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, 2014-2015.
  2. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy tại điểm nghiên cứu, 2016-2017.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Người dân có tập quán ngủ rẫy, nhà rẫy, ký sinh trùng sốt rét (Plasmodium), trung gian truyền bệnh muỗi Anopheles, cùng các can thiệp phòng chống sốt rét (màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu và truyền thông giáo dục sức khỏe).
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại 4 xã thuộc huyện Khánh Vĩnh (tỉnh Khánh Hòa) và huyện Krông Pa (tỉnh Gia Lai).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2014 - 2017 (trong đó giai đoạn 2014-2015 điều tra mô tả dịch tễ học và côn trùng học; giai đoạn 2016-2017 triển khai và đánh giá can thiệp).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước được điểm lại trong văn bản

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung chính:

  • Lịch sử và chiến lược phòng chống sốt rét toàn cầu: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phát động chiến dịch "Tiêu diệt sốt rét" năm 1956; năm 1966 xác định 12 khó khăn lớn (gồm muỗi kháng hóa chất DDT, muỗi trú ẩn ngoài nhà, P. falciparum kháng nhóm 4-aminoquinolein); năm 1979 chuyển sang chiến lược "Phòng chống sốt rét"; năm 2007 ban hành chiến lược "Loại trừ sốt rét" với 4 giai đoạn căn cứ vào tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét.
  • Tình hình sốt rét tại Việt Nam và khu vực miền Trung - Tây Nguyên: Đánh giá diễn biến qua các mốc lịch sử từ giai đoạn 1976-1990 chuyển sang thanh toán sốt rét; vụ dịch lớn năm 1991 với hơn 1 triệu ca mắc và 4.646 ca tử vong; giai đoạn 2011-2014 ghi nhận bệnh nhân sốt rét giảm từ 45.588 ca xuống 27.868 ca và tử vong giảm còn 6 ca trên toàn quốc. Tại Gia Lai, tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét còn dương tính ngày D3 với DHA-PPQ ghi nhận 38,5% (năm 2009) và 23,3% (năm 2012); tại Sơn Thái (Khánh Vĩnh, Khánh Hòa) ghi nhận tỷ lệ D3 dương tính là 20%.
  • Nghiên cứu về ký sinh trùng sốt rét và nhóm dân di biến động: Alphonse Laveran phát hiện ký sinh trùng sốt rét năm 1880. Tại Việt Nam ghi nhận đủ 5 loài (P. falciparum, P. vivax, P. malariae, P. ovale, và P. knowlesi phát hiện năm 2007 tại Ninh Thuận). Các nghiên cứu dịch tễ trên nhóm dân di biến động gồm: Nguyễn Tân và Nguyễn Văn Chương (1999 tại Cư Jut, Krông Năng, Krông Bông - Đắk Lắk); Lê Xuân Hùng và Trần Đình Đạo (2003 tại Ea Súp - Đắk Lắk); Hồ Văn Hoàng (2003 tại Đắk Nông); Nguyễn Duy Sơn (2011 tại Vĩnh Linh - Quảng Trị).
  • Nghiên cứu thành phần loài Anopheles, sinh thái và véc tơ truyền bệnh: Mathis Legar (1910), Borel (1926), Stojanovich và Scott (1966), Nguyễn Thượng Hiền (1968), Nguyễn Đức Mạnh (1988), Trương Văn Có (1996), Lê Khánh Thuận (2002), Hồ Đình Trung (2005) xác định 64 loài Anopheles tại Việt Nam. Vai trò véc tơ và tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng được chứng minh qua các nghiên cứu của Vũ Thị Phan (1975), Nguyễn Đức Mạnh, Trần Đức Hinh, Lê Đình Công (2001), Nguyễn Tuyên Quang (1996, 2005), Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam (MCNV tại Khánh Phú, Khánh Hòa), Nguyễn Xuân Quang (2004, 2014) và Hồ Đắc Thoàn (2011).
  • Nghiên cứu về mùa truyền bệnh và phân vùng dịch tễ sốt rét: Đánh giá quy luật truyền bệnh theo mùa của Lê Khánh Thuận, Trương Văn Có, Nguyễn Tuyên Quang, Hồ Văn Hoàng (2013-2014). Các phương pháp phân vùng dịch tễ của Gill (1938), Lysenko và Semashko (1968, 1983), Đặng Văn Ngữ và Lysenko (1956-1958), Vũ Thị Phan (sau 1975), Lê Khánh Thuận (2003), Nguyễn Mạnh Hùng (2009) và phân vùng 5 vùng dịch tễ của Trần Thanh Dương và cộng sự (2014).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các nghiên cứu trước đã mô tả đặc điểm dịch tễ và thành phần véc tơ tại miền Trung - Tây Nguyên, nhưng các can thiệp bảo vệ cá nhân hiện hành chưa giải quyết được rào cản không gian và tập quán sinh hoạt tại lán rẫy. Luận án tập trung giải quyết khoảng trống: xác định cụ thể các chỉ số dịch tễ, côn trùng học tại nhà rẫy so với khu dân cư, đồng thời thử nghiệm mô hình can thiệp kết hợp màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu (LLINs) và truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp với người dân ngủ rẫy.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng mô hình lý thuyết lan truyền bệnh sốt rét theo Bruce-Chwatt (1993), xác định sự lan truyền bệnh là quá trình tương tác chặt chẽ giữa 3 yếu tố cốt lõi:

  1. Tác nhân gây bệnh: Ký sinh trùng Plasmodium (với chu kỳ sinh sản vô tính ở người gồm giai đoạn tiền hồng cầu trong gan và giai đoạn hồng cầu; giai đoạn sinh sản hữu tính trong muỗi Anopheles).
  2. Trung gian truyền bệnh: Muỗi Anopheles (phân loại véc tơ chính gồm An. dirus, An. minimus, An. epiroticus; véc tơ phụ gồm An. maculatus, An. aconitus, An. jeyporiensis, An. subpictus, An. sinensis, An. vagus...).
  3. Khối cảm thụ: Con người (đặc điểm miễn dịch, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp đi rừng, làm rẫy). Quá trình này chịu sự tác động trực tiếp của môi trường tự nhiên (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, sinh cảnh) và môi trường xã hội (tập quán du canh du cư, ngủ rẫy, không nằm màn, di biến động dân cư).
          [Tác nhân gây bệnh: KST Plasmodium]
           (Muỗi Anopheles)       (Dân ngủ rẫy/di biến động)

Thiết kế nghiên cứu và phương pháp thực tế

Luận án kết hợp hai phương pháp nghiên cứu dịch tễ học định lượng:

  • Giai đoạn 1 (2014-2015): Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc nhằm xác định các chỉ số dịch tễ sốt rét, thành phần loài, mật độ véc tơ và các yếu tố liên quan đến mắc sốt rét ở người ngủ rẫy qua 4 đợt điều tra.
  • Giai đoạn 2 (2016-2017): Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, so sánh trước và sau can thiệp giữa nhóm can thiệp (sử dụng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu kết hợp truyền thông) và nhóm đối chứng (áp dụng biện pháp phòng chống sốt rét thường quy).
Nội dung Nhóm Can thiệp (02 xã) Nhóm Đối chứng (02 xã)
Biện pháp véc tơ Cấp và hướng dẫn sử dụng màn 1 đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu (LLINs) cho người ngủ rẫy Duy trì biện pháp phòng chống véc tơ thường quy của chương trình
Truyền thông Truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp, nâng cao thực hành phòng chống sốt rét Hoạt động truyền thông thông thường của địa phương
Giám sát, đánh giá Theo dõi ca bệnh, mật độ muỗi, hiệu lực tồn lưu hóa chất, độ nhạy cảm véc tơ, sự chấp nhận Giám sát ca bệnh và mật độ muỗi song song

Kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu

  • Kỹ thuật dịch tễ học: Phỏng vấn bộ câu hỏi cấu trúc đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành (KAP); lấy lam máu nhuộm Giemsa soi kính hiển vi quang học tìm thể tư dưỡng, phân liệt và giao bào của ký sinh trùng sốt rét.
  • Kỹ thuật côn trùng học:
    • Bắt muỗi bằng phương pháp mồi người trong rẫy (MNTR) và mồi người ngoài rẫy (MNNR) theo các khung giờ đêm (tính chỉ số con/người/đêm hoặc con/giờ/người).
    • Thu thập muỗi bằng bẫy đèn trong nhà rẫy (BĐTR) và ngoài nhà rẫy (BĐNR) (tính chỉ số con/đèn/đêm).
    • Mổ muỗi tìm thoa trùng ở tuyến nước bọt và nang trùng ở dạ dày; thực hiện kỹ thuật hấp thụ miễn dịch liên kết enzym (ELISA) để xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét trên muỗi.
    • Thử nghiệm độ nhạy cảm của véc tơ với hóa chất diệt bằng giấy thử chuẩn WHO tẩm Alpha-cypermethrine 30 mg/m².
    • Thử nghiệm sinh học hình nón (cone bioassay) đánh giá hiệu lực diệt tồn lưu và độ bền rửa trôi qua số lần giặt của màn một đỉnh.
  • Xử lý số liệu: Sử dụng các phần mềm thống kê y học chuyên dụng; tính toán các tỷ lệ %, tỷ suất mắc, độ lệch chuẩn (ĐLC), chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ / HQCT), kiểm định thống kê so sánh sự khác biệt trước - sau và giữa hai nhóm can thiệp - đối chứng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật 4 nội dung lớn:

  1. Tình hình sốt rét trên thế giới (gánh nặng tại châu Phi, khu vực Tây Thái Bình Dương, Đông Nam Á và diễn biến ký sinh trùng kháng thuốc artemisinin tại Tiểu vùng sông Mê Kông); tình hình sốt rét tại Việt Nam, khu vực miền Trung - Tây Nguyên và thực trạng tại 2 tỉnh Gia Lai, Khánh Hòa giai đoạn 2011-2014.
  2. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét: Tác nhân gây bệnh (chu kỳ sinh học của Plasmodium trong cơ thể người và muỗi), trung gian truyền bệnh (hệ thống phân loại 64 loài Anopheles tại Việt Nam, đặc điểm các véc tơ chính An. dirus, An. minimus, An. epiroticus), khối cảm thụ, các yếu tố tự nhiên và môi trường xã hội tác động đến lan truyền bệnh, quy luật phân bố địa lý và mùa truyền bệnh.
  3. Tổng quan các công trình nghiên cứu dịch tễ học sốt rét, thành phần loài muỗi, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng qua giác mổ và kỹ thuật ELISA, mùa truyền bệnh và các nghiên cứu phân vùng dịch tễ sốt rét.
  4. Các biện pháp phòng chống và chiến lược loại trừ sốt rét: Chiến lược của WHO, Chiến lược quốc gia phòng chống và loại trừ sốt rét ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 định hướng 2030; phác đồ điều trị cắt đứt nguồn bệnh (phác đồ ưu tiên ACTs, thuốc thay thế, cấp thuốc tự điều trị); các biện pháp phòng chống trung gian truyền bệnh (vật lý, sinh học, hóa học gồm phun tồn lưu tường vách và tẩm màn diệt muỗi).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc (2014-2015) và nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng trước - sau (2016-2017) tại 4 xã thuộc huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) và Krông Pa (Gia Lai).
  • Định nghĩa biến số, khái niệm, công thức tính toán các chỉ số dịch tễ (tỷ lệ mắc bệnh nhân sốt rét, tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét, mật độ giao bào), chỉ số côn trùng học (mật độ muỗi thu thập qua MNTR, MNNR, BĐTR, BĐNR, tỷ lệ muỗi nhiễm thoa trùng/ELISA dương tính) và chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ).
  • Quy chuẩn hóa công cụ thu thập số liệu, vật liệu nghiên cứu (màn một đỉnh LLINs, bẫy đèn CDC, hóa chất thử nghiệm), quy trình xử lý mẫu lam máu, kỹ thuật thử nghiệm sinh học muỗi theo hướng dẫn của WHO/WHOPES.
  • Các biện pháp khống chế sai số trong điều tra thực địa, phân tích thống kê và tuân thủ các quy chuẩn đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu được trình bày qua hai phần chính tương ứng với hai mục tiêu:

1. Đặc điểm dịch tễ và yếu tố liên quan đến mắc sốt rét của người ngủ rẫy (2014-2015)

  • Chỉ số mắc sốt rét và ký sinh trùng: Tỷ lệ mắc sốt rét tại Khánh Vĩnh và Krông Pa được theo dõi qua 4 đợt điều tra; phân tích chi tiết tỷ lệ mắc theo nhóm tuổi, giới tính và thành phần dân tộc. Cơ cấu ký sinh trùng sốt rét xác định chủ yếu là P. falciparum và P. vivax, kèm theo tỷ lệ người mang giao bào và tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng có biểu hiện sốt lâm sàng.
  • Đặc điểm côn trùng học và véc tơ truyền bệnh:
    • Xác định thành phần loài Anopheles tại hai huyện nghiên cứu; trong đó hai véc tơ truyền bệnh chính chiếm ưu thế là An. dirus và An. minimus.
    • Biến động mật độ véc tơ qua các thời điểm điều tra (tháng 10/2014, tháng 6/2015, tháng 9/2015, tháng 12/2015) theo các phương pháp mồi người và bẫy đèn trong/ngoài nhà rẫy.
    • Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét của véc tơ xác định qua mổ muỗi và xét nghiệm ELISA.
  • Kiến thức, thực hành và yếu tố liên quan:
    • Tỷ lệ hiểu biết đúng về nguyên nhân, đường lây truyền, triệu chứng, cách phát hiện, điều trị và phòng bệnh của người dân ngủ rẫy còn hạn chế.
    • Tỷ lệ thực hành ngủ màn tại rẫy thấp.
    • Phân tích mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mắc sốt rét với các yếu tố: giới tính nam, độ tuổi lao động, dân tộc thiểu số, tần suất ngủ rẫy thường xuyên và hành vi không ngủ màn khi ở rẫy.

2. Hiệu quả can thiệp bằng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu kết hợp truyền thông (2016-2017)

  • Tỷ lệ mắc sốt rét và mật độ véc tơ sau can thiệp: So sánh tỷ lệ bệnh nhân sốt rét và mật độ véc tơ tại điểm can thiệp so với điểm đối chứng qua các đợt theo dõi cùng kỳ (tháng 5, tháng 7, tháng 9 năm 2016 và 2017). Tỷ lệ mắc bệnh nhân sốt rét và mật độ muỗi ở nhóm can thiệp giảm rõ rệt so với nhóm đối chứng.
  • Hiệu lực diệt tồn lưu của màn: Kết quả thử nghiệm sinh học khẳng định màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu duy trì hiệu lực diệt muỗi cao và giữ được tác dụng diệt sau nhiều lần giặt; véc tơ An. dirus tại địa bàn nghiên cứu vẫn nhạy cảm với giấy thử Alpha-cypermethrine 30 mg/m².
  • Chuyển biến thực hành và sự chấp nhận của cộng đồng: Tỷ lệ người dân ngủ màn tại rẫy và tỷ lệ đến cơ sở y tế khi bị sốt ở nhóm can thiệp tăng lên rõ rệt; đa số người dân chấp nhận sử dụng màn một đỉnh vì kích thước nhỏ gọn, dễ giăng trong không gian chật hẹp của nhà rẫy và ghi nhận rất ít tác dụng phụ.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả bàn luận sâu sắc về các phát hiện thực địa:

  • Phân tích cơ chế khiến vùng nhà rẫy duy trì sự lan truyền sốt rét dai dẳng: sự tiếp xúc mật thiết giữa người làm rẫy với các véc tơ có tập tính hoạt động mạnh ngoài rừng (An. dirus, An. minimus), kết hợp với cấu trúc lán rẫy tạm bợ và thói quen sinh hoạt ban đêm.
  • Luận giải các yếu tố nguy cơ dịch tễ học và xã hội học tác động đến khả năng nhiễm bệnh của người ngủ rẫy.
  • Phân tích tính phù hợp và cơ chế tác động kép của can thiệp: màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu đóng vai trò rào cản vật lý và diệt véc tơ hiệu quả trong không gian lán rẫy, kết hợp truyền thông thay đổi hành vi giúp nâng cao tính tuân thủ của người dân.
  • Khẳng định tính khoa học, tính mới, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và chỉ ra một số hạn chế khách quan trong quá trình triển khai thực địa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  • Cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học và côn trùng học toàn diện về ổ lưu hành sốt rét tại khu vực nhà rẫy ở hai huyện trọng điểm (Khánh Vĩnh - Khánh Hòa và Krông Pa - Gia Lai) trong giai đoạn 2014-2017.
  • Chứng minh bằng chứng thực địa về sự hiện diện, mật độ và tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét của các véc tơ chính (An. dirus, An. minimus) tại không gian nhà rẫy, khẳng định nhà rẫy là mắt xích lan truyền bệnh quan trọng duy trì dịch tễ sốt rét tại miền Trung - Tây Nguyên.
  • Xác định rõ các yếu tố nguy cơ cá nhân và hành vi liên quan chặt chẽ đến khả năng mắc bệnh của người ngủ rẫy.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá thành công hiệu quả của giải pháp can thiệp kết hợp: sử dụng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu (LLINs) phù hợp với cấu trúc lán rẫy, kết hợp với các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp.
  • Mô hình can thiệp giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh nhân sốt rét, giảm mật độ tiếp xúc của véc tơ truyền bệnh, nâng cao tỷ lệ nằm màn khi đi rẫy và được cộng đồng dân tộc thiểu số chấp nhận sử dụng cao.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Đưa mô hình can thiệp bằng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu vào hướng dẫn kỹ thuật và chính sách can thiệp thường quy của Chương trình Quốc gia phòng chống và loại trừ sốt rét cho các nhóm dân di biến động, người đi rừng, ngủ rẫy tại vùng sốt rét lưu hành nặng.
  2. Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe với nội dung và hình thức phù hợp với trình độ, ngôn ngữ và tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã vùng cao.
  3. Duy trì hệ thống giám sát dịch tễ, giám sát sự nhạy cảm của véc tơ với hóa chất diệt muỗi và theo dõi hiệu lực điều trị của các phác đồ thuốc ACTs tại các địa bàn trọng điểm miền Trung - Tây Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Nghiên cứu chỉ tiến hành tại 4 xã thuộc 2 huyện (Khánh Vĩnh - Khánh Hòa và Krông Pa - Gia Lai), đại diện cho vùng sinh thái rừng núi miền Trung và Tây Nguyên, nên việc nhân rộng cần xem xét các yếu tố đặc thù của từng vùng sinh thái khác.
  • Thời gian theo dõi hiệu quả can thiệp thực địa tập trung trong giai đoạn 2016-2017; cần tiếp tục theo dõi độ bền cơ học và hiệu lực diệt tồn lưu lâu dài của màn qua nhiều năm sử dụng thực tế tại điều kiện nương rẫy khắc nghiệt.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng đánh giá hiệu quả can thiệp của màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu kết hợp với các biện pháp bảo vệ cá nhân khác (như võng màn, kem xua muỗi) trên các nhóm đối tượng đi rừng sâu, khai thác lâm sản lưu động.
  • Tiếp tục nghiên cứu theo dõi cơ chế kháng hóa chất của véc tơ và giám sát tình trạng ký sinh trùng P. falciparum kháng thuốc sốt rét tại các vùng can thiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Y tế công cộng, Dịch tễ học, Ký sinh trùng và Côn trùng Y học: tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, kỹ thuật điều tra côn trùng (mồi người, bẫy đèn), mổ muỗi và xét nghiệm ELISA.
  • Các nhà quản lý và hoạch định chính sách y tế: tham khảo số liệu thực chứng để xây dựng chính sách can thiệp đặc thù cho nhóm dân di biến động, đóng góp vào mục tiêu của Chiến lược quốc gia loại trừ bệnh sốt rét.
  • Cán bộ y tế dự phòng tuyến tỉnh, huyện, xã tại các khu vực miền Trung, Tây Nguyên và các vùng sốt rét lưu hành: ứng dụng trực tiếp quy trình cấp phát, hướng dẫn sử dụng màn một đỉnh và triển khai truyền thông phòng chống sốt rét tại địa bàn nương rẫy.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao các biện pháp phòng chống sốt rét truyền thống trước đây ít hiệu quả với người ngủ rẫy?

Các biện pháp truyền thống như phun tồn lưu tường vách và cấp màn chữ nhật thông thường chỉ phù hợp và phát huy tác dụng ở nhà ở cố định trong thôn, bản. Nhà rẫy có cấu trúc vách thưa hoặc không vách, diện tích nhỏ, thường đốt lửa sưởi/nấu ăn ban đêm nên không thể phun hóa chất tường vách và không đủ chỗ treo màn chữ nhật, khiến người ngủ rẫy không được bảo vệ trước mật độ véc tơ cao ở môi trường nương rẫy.

2. Hai véc tơ truyền bệnh sốt rét chính được ghi nhận tại địa bàn nghiên cứu là gì?

Hai loài véc tơ truyền bệnh chính chiếm ưu thế tại huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) và huyện Krông Pa (Gia Lai) là Anopheles dirus (véc tơ chính ở vùng rừng núi từ 20 độ vĩ Bắc trở vào Nam) và Anopheles minimus (véc tơ chính phân bố ở khu vực rừng núi toàn quốc).

3. Những yếu tố nào liên quan trực tiếp đến nguy cơ mắc sốt rét ở người dân ngủ rẫy?

Phân tích dịch tễ học trong luận án chỉ ra các yếu tố liên quan gồm: giới tính nam, độ tuổi lao động, thành phần dân tộc thiểu số, tần suất ngủ rẫy thường xuyên, hành vi không nằm màn khi ngủ tại rẫy, cùng với việc thiếu kiến thức đúng về đường lây truyền và cách phòng bệnh sốt rét.

4. Giải pháp can thiệp chính được luận án thử nghiệm và đánh giá là gì?

Luận án đã thử nghiệm giải pháp can thiệp kết hợp: cấp phát và hướng dẫn sử dụng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu (LLINs) – loại màn có cấu trúc chóp nhọn phù hợp với không gian nhỏ hẹp của lán rẫy – kết hợp với các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao thực hành nằm màn và khám chữa bệnh kịp thời khi bị sốt.

5. Kết quả can thiệp đã mang lại những thay đổi cụ thể nào tại các xã nghiên cứu?

Tại các xã can thiệp, tỷ lệ bệnh nhân sốt rét và mật độ véc tơ truyền bệnh tiếp xúc người giảm đáng kể so với nhóm đối chứng; tỷ lệ người dân thực hành nằm màn khi ngủ rẫy và đến trạm y tế khi có sốt tăng cao; màn một đỉnh được người dân tiếp nhận sử dụng thuận tiện và không ghi nhận tác dụng phụ đáng kể.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y tế công cộng của tác giả Hồ Đắc Thoàn đã phân tích toàn diện các đặc điểm dịch tễ học, côn trùng học và các yếu tố liên quan đến mắc sốt rét ở nhóm dân cư có tập quán ngủ rẫy tại hai huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) và Krông Pa (Gia Lai) giai đoạn 2014-2015. Công trình đã khẳng định vai trò lan truyền bệnh của các véc tơ chính tại khu vực nhà rẫy và xác định các rào cản hành vi trong phòng chống bệnh của đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả thử nghiệm can thiệp giai đoạn 2016-2017 chứng minh việc kết hợp màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu với truyền thông giáo dục sức khỏe là giải pháp kỹ thuật có hiệu quả cao, phù hợp với điều kiện sinh hoạt thực tế và mang lại giá trị thực tiễn quan trọng cho công tác phòng chống và loại trừ sốt rét tại Việt Nam.