CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về nhiễm khuẩn bệnh viện 1. Định nghĩa nhiễm khuẩn bệnh viện Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là nhiễm khuẩn mà người bệnh mắc phải trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế [5, 9]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “NKBV là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện.
NKBV thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện”.Thời gian xuất hiện NKBV được thể hiện dưới dạng sơ đồ sau đây [46, 57]. Thời gian nằm viện 48 giờ t Vào viện Ra viện NKBV Sơ đồ 0.1: Thời gian xuất hiện NKBV Tất cả người bệnh khi đến khám điều trị tại bệnh viện đều có thể mắc NKBV. Người có nguy cơ mắc NKBV cao thường gặp ở trẻ em, người lớn tuổi, mắc bệnh mạn tính, phải nằm viện kéo dài, nhân viên y tế (NVYT) không tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn khi thực hiện các hoạt động chăm sóc và điều trị [5, 9]. Chu trình nhiễm khuẩn bệnh viện Vi sinh vật (VSV) lây truyền cho người bệnh qua người bệnh, từ NVYT qua người bệnh, từ môi trường.
Đây là một quy trình khép kín [5]. Sơ đồ chu trình NKBV [5] Các tác nhân gây bệnh thường là các mầm bệnh như: VSV, virut, ký sinh trùng Các tác nhân này nằm trong nguồn chứa: là các vật chủ trung gian, là môi trường sống và sinh sản. Nguồn chứa có thể là con người, là vật dụng xung quanh, là người bệnh, .Mầm bệnh di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Truyền bệnh qua hai con đường: trực tiếp và gián tiếp.
Tùy thuộc vào tuổi, giới và tình trạng người bệnh, môi trường sống và sức đề kháng mà khả năng lây nhiễm khác nhau [4, 5]. Các đường lây truyền NKBV gồm: qua tiếp xúc, lây truyền qua giọt bắn và lây truyền qua không khí. Trong đó đường lây truyền nhiều nhất là đường tiếp xúc gồm trực tiếp và gián tiếp [4, 5]. Qua tiếp xúc: Khi tiến hành chăm sóc, thăm khám; Lây truyền giữa người bệnh với người bệnh; Lây nhiễm do tiếp xúc giữa cơ thể với vật đã nhiễm mầm bệnh: như các dụng cụ chăm sóc, máy móc y tế,.
bàn tay NVYT bẩn chứa VSV gây bệnh. Khi NVYT thực hiện chăm sóc không an toàn sẽ làm lây nhiễm [4, 5]. Qua giọt bắn: Khi ho, hắt hơi sẽ làm bắn ra những giọt có kích thước rất nhỏ chứa VSV gây bệnh. Nếu tiếp xúc khoảng cách dưới một mét, có thể bị nhiễm bệnh nếu không sử dụng các biện pháp bảo vệ.
Đây là con đường phát tán nguy hiểm nhất vì khó kiểm soát, người dân phải có ý thức kiểm soát thì mới hạn chế được lây lan. Qua không khí: lao, sởi, thủy đậu và cúm A là những nhóm bệnh lây qua đường này. Khi ho, hắt hơi và khi thực hiện những can thiệp vào đường thở như hút đờm nhớt, thở máy, can thiệp nội soi, làm bắn ra những giọt li ti có kích thước rất nhỏ chứa VSV 5 gây bệnh. Những hạt này bay lơ lửng trong không khí, càng nhẹ khi khô, bay rất xa.
Nếu chẳng may hít vào có thể nhiễm bệnh [4, 5]. Tác nhân gây bệnh, nguồn lây nhiễm và các nhiễm khuẩn thường gặp ở bệnh viện 1. Tác nhân gây bệnh Tác nhân gây bệnh là căn nguyên gây nhiễm khuẩn, gồm các tất cả VSV có trong bệnh viện. Tính đề kháng của vi khuẩn trong bệnh viện là rất cao.
Khi xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh thì thường là rất khó điều trị. Tụ cầu vàng là vi khuẩn thường rất hay gặp hiện nay, rất khó điều trị vì kháng thuốc. NKBV do vi rút thường gặp ở bệnh nhi, rất dễ gây thành dịch. Nguồn gây NKBV có thể khác nhau: nội sinh và ngoại sinh [4, 5].
Nguồn lây nhiễm khuẩn ở bệnh viện Vi khuẩn truyền qua nhiều nguồn trong bệnh viên. Các nguồn truyền bệnh như nấm, vi khuẩn hoặc các loại virut và kí sinh trùng có thể gặp khắp mọi nơi trong môi trường. NVYT, người bệnh và người nhà, khách đến thăm và làm việc đều có thể là nguồn chứa tác nhân gây bệnh. Người bệnh tuổi cao, mắc các bệnh điều trị kéo dài, trẻ sơ sinh thiếu tháng, các can thiệp y tế trên người bệnh là các yếu tố gây nên tình trạng mắc nhiễm khuẩn bệnh viện [4, 5].
Nhiễm khuẩn thường gặp ở bệnh viện Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy NKBV thường liên quan đến khoa Hồi sức tích cực (HSTC), hay gặp là nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH), nhiễm khuẩn huyết (NKH), nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) và nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM). Các nhiễm khuẩn này thường chiếm tỷ lệ cao hơn các nhiễm khuẩn khác tại bệnh viện và thường tập trung tại các bệnh viện có quy mô lớn [5, 8]. - Viêm phổi bệnh viện: Đây là loại thường gặp trong NKBV với tỷ lệ mắc cao. Tác nhân đa dạng: vi khuẩn, nấm, vi rút.
Người bệnh nặng có thở máy thường có tỷ lệ mắc rất cao. - NKVM: Nhiều nguyên nhân làm cho nguy cơ NKVM gia tăng. Thông khí phòng mổ cũng là một trong những nguyên nhân, thao tác vô trùng tuyệt đối của Bác sĩ và điều dưỡng. Ngoài ra NKVM chịu ảnh hưởng nhiều quá trình khác diễn ra trước trong và sau 6 mổ.
- NKTN: phần lớn liên quan đến đặt ống sonde tiểu để dẫn lưu bàng quang. - NKH: thường do có can thiệp như đặt cathete tĩnh mạch trung tâm (TMTT). - Nhiễm khuẩn vết bỏng: thường do sự kết hợp giữa bề mặt da bị tổn thương và các dụng cụ hỗ trợ trong quá trình điều trị làm thuận lợi cho NKBV. Ngoài ra, còn có các loại nhiễm khuẩn ở các vị trí khác như: Da, dạ dày - ruột, mắt, kết mạc,.
Nguyên tắc phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng NKBV phòng ngừa được bằng các chương trình kiểm soát đặc biệt. Xây dựng một chương trình kiểm soát NKBV giúp hạn chế bớt những lây nhiễm chéo trong bệnh viện. Để phòng ngừa ta phải thực hiện các biện pháp nhằm giảm các ổ chứa, chống lây nhiễm chéo giữa các nguồn [4, 6]. Thiết kế, sắp xếp đồ dùng trong bệnh viện Nguyên tắc sắp xếp trong bệnh viện phải riêng biệt, thiết kế phải phù hợp để tránh tình trạng dễ ẩn trú của mần bệnh và dễ phát tán rộng rãi.
Phòng bệnh phải thoáng mát, sạch, thông thoáng khí, khô ráo, tránh bụi bẩn. Bề mặt dễ vệ sinh, hạn chế bụi bẩn tích tụ. Phòng mổ thiết kế hệ thống lọc khí theo quy định để giảm lây lan vi khuẩn. Các đệm và gối của người bệnh phải đảm bảo được bọc kỹ, không thấm nước [4, 6].
Vệ sinh bề mặt Nhằm giảm số lượng vi khuẩn và giảm sự phát tán trong môi trường bệnh viện. Biện pháp thực hiện là lau ướt với chất tẩy rửa, làm khô theo quy trình. Các dụng cụ, tải lau phải xử lý đúng quy định [4, 6]. Khử khuẩn và tiệt khuẩn Dụng cụ dùng lại cần được xử lý thích hợp.
Tùy thuộc vào tính chất và tiếp xúc của dụng cụ với người bệnh mà sử dụng các phương pháp xử lý khác nhau, đảm bảo tính an toàn. Dụng cụ cần được tập trung để xử lý, bảo quản tốt cho đến lúc cấp phát [4, 6]. Vệ sinh cơ bản cho nhân viên y tế. Vệ sinh tay là một biện pháp quan trọng để khống chế NKBV.
Vệ sinh tay theo 5 thời điểm được TCYTTG khuyến cáo. Phương tiện sát khuẩn tay, nước, xà bông, khăn sạch phải có sẵn ở khu vực phòng bệnh, trên xe tiêm. Ngoài ra, trang phục theo đúng quy định và tóc gọn gàng, móng tay được cắt ngắn sẽ làm giảm sự lây nhiễm khuẩn chéo, không được đeo đồ trang sức làm cản trở hoặc rửa tay không đảm bảo [4, 6]. Cách ly bệnh nhân Cho người bệnh nằm phòng cách ly, hạn chế người thăm và nhân viên chăm sóc, NVYT chăm sóc khu vực cách ly phải mang các dụng cụ bảo hộ đầy đủ.
Ngoài ra, phải tuân thủ cách ly người bệnh theo đúng quy định. Cần phải biết được mọi tiếp xúc với người bệnh đều có nguy cơ gây NKBV [4, 6]. Quản lý chất thải Chất thải phải được phân loại ngay từ nơi phát sinh đúng quy định. Việc phân loại chất thải phải được tập huấn và thực hiện tốt.
Thu gom chất thải vào các túi thùng bao bì mẫu mã và màu sắc riêng biệt. Chất thải giải phẩu và chất thải sắc nhọn cần đặc biệt quan tâm. Chất thải được vận chuyển bằng xe chuyên dụng. Trên đường đi không được làm rơi, vãi chất thải, nếu rơi vãi phải xử lý theo quy trình.
Bệnh viện cần bố trí giờ vận chuyển và lối đi vận chuyển phù hợp, tránh các giờ cao điểm và khu vực đông người qua lại. Cần bố trí khu lưu giữ riêng biệt. Thời gian lưu giữ không quá 48 giờ, nếu bảo quản lạnh có thể đến 72 giờ [3, 4, 6]. Các kỹ thuật vô khuẩn Bệnh viện cần ban hành các quy trình kỹ thuật cụ thể cho từng loại thủ thuật, kỹ thuật đảm bảo công tác vô trùng tuyệt đối.
NVYT cần phải làm đúng, và có thái độ tích cực trong khi thực hành đảm bảo không lây nhiễm cho người bệnh [ 6 ]. Giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện Giám sát NKBV là hoạt động cần thiết trong bệnh viện hiện nay. Bệnh viện cần phải xây dựng kế hoạch giám sát, thu thập dữ liệu, phân tích, dữ liệu phải được lưu giữ liên tục. Kết quả giám sát phải được phản hồi hiệu quả và thông báo kết quả cho lãnh đạo 8 đơn vị, cơ quan được giám sát, hội đồng quản lý chất lượng, hội đồng KSNK.
Đó là biện pháp hết sức quan trọng trong phòng ngừa KSNK [8]. Cơ sở y tế cần thiết lập và hoàn thiện hệ thống giám sát sao cho phù hợp với nhân lực và đặc điểm của đơn vị. Xem đây là một nội dung quan trọng trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện. Cơ sở dữ liệu giám sát NKBV đóng vai trò quan trọng trong đánh giá chất lượng các dịch vụ của cơ sở y tế, nhằm giúp đưa ra các chương trình kế hoạch cải thiện để KSNK tốt hơn [8].
Sự đề kháng của vi khuẩn và xu hướng sử dụng kháng sinh hiện nay 1. Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Tình trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam đã ở mức độ cao và đáng lo ngại. Có hai loại đề kháng là: đề kháng giả và đề kháng thật. Xu hướng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Hiện nay, tình hình kháng thuốc ngày càng gia tăng.
Cần có giải pháp cấp thiết để giảm tình trạng này.