Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Nguồn nhân lực y tế 1. Khái niệm về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển lao động nói chung và cả hiện tại cũng như tương lai. Nguồn nhân lực phản ánh tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới.
Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”[34]. Nhân lực y tế là thành phần quan trọng trong hệ thống y tế, với các thành phần khác như cung ứng dịch vụ, thông tin kinh tế, các sản phẩm và công nghệ y tế, tài chính và quản trị điều hành. Củng cố nhân lực y tế luôn là hoạt động ưu tiên hàng đầu trong các hoạt động y tế. Số lượng nhân lực: Nói đến NNL của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có bao nhiêu nữa trong tương lai.
Đó là câu hỏi cho việc xác định số lượng NNL. Sự phát triển số lượng NNL dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong và bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động di dân[21]. Chất lượng nguồn nhân lực: Chất lượng nguồn nhân lực gồm 4 yếu tố là: Kỹ năng nghề nghiệp, trình độ đào tạo, thể lực và đạo đức nghề nghiệp. Trong đó đạo đức nghề nghiệp là quan trọng nhất[21].
Cơ cấu nhân lực: Là yếu tố không thể thiếu khi xem xét, đánh giá nguồn nhân lực, cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương tiện khác nhau như: Cơ cấu trình độ chuyên môn, giới tính, độ tuổi…Cơ cấu nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ quyết định nhân lực[21]. Tính chất đặc thù của nghề y Nghề y là một ngành cao quý được xã hội tôn vinh, bởi vì nghề này có nhiệm vụ chữa bệnh cứu người, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe cho nhân dân. Nghề đòi hỏi phải có lòng nhân ái, dám chịu đựng vất vả, hy sinh để cứu người, tôn 5 trọng nhân phẩm và quyền lợi bệnh nhân, thực hiện các nguyên tắc ứng xử có trách nhiệm và không phân biệt đối xử. Quản lý nguồn nhân lực y tế Nhân lực được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công của cơ sở dịch vụ y tế.
Một số cơ sở y tế nói chung, bệnh viện nói riêng có thể có công nghệ, trang thiết bị hiện đại nhưng thiếu lực lượng lao động thì khó có thể tạo ra chất lượng dịch vụ tốt và khó tạo ra sự khác nhau giữa các cơ sở dịch vụ y tế, giữa các bệnh viện. Tuy vậy nếu chỉ chú trọng tới phát triển nhân mà không gắn kết nó với những nguyên tắc và mục tiêu chung của cơ sở y tế thì mọi sự cố gắng nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của người lao động sẽ trở thành lãng phí. Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực Năm 2006, theo WPRO - WHO,“ Quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất. Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc và hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý”[34].
Quản lý nguồn nhân lực bệnh viện Quản lý NNL bệnh viện là thực hiện các khâu hoạch định, tuyển dụng NNL trong bệnh viện theo tiêu chuẩn và nội dung công việc, sắp xếp và giao nhiệm vụ cho từng thành viên, theo dõi, kiểm tra, đánh giá hiệu quả công việc của họ, đảm bảo bệnh viện thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình. Tăng cường đào tạo và phát triển NNL đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bệnh viện, đồng thời phải thực hiện tốt những yêu cầu của người lao động theo đúng chế độ, chính sách của nhà nước. Vai trò của quản lý nhân lực Quản lý nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức, giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển trên thị trường. Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định thành bại của tổ chức.
NNL là một trong những nguồn lực không thể thiếu được của tổ chức nên quản lý nhân lực 6 chính là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức. Mặt khác, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu tổ chức không quản lý tốt NNL, vì suy cho cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi con người[19]. Cách sắp xếp và bố trí nguồn nhân lực tại bệnh viện. Tính toán sắp xếp nhân lực hợp lý cho từng khu vực trong bệnh viện (chuyên môn, đào tạo, quản lý…) là công việc phức tạp.
Do vậy, người quản lý bệnh viện phải nắm chắc những yêu cầu trong khu vực, khoa phòng, công việc trực tiếp, gián tiếp phục vụ người bệnh. Nhiều nước đã có bệnh viện đưa ra những phương pháp tính toán nhân lực khác nhau, tuy nhiên cũng nhằm các mục đích sau: Sử dụng ít lao động; đạt hiệu quả trong công việc; trả tiền cho người lao động hợp lý, thỏa mãn yêu cầu của người bệnh, duy trì lâu dài cơ sở và trang thiết bị bệnh viện. Căn cứ vào tỷ lệ phân phối và mô hình tổ chức bệnh viện để tuyển dụng và bố trí nhân viên làm việc.Tính theo tỷ lệ được phân phối: Căn cứ tỷ lệ chung nhà nước quy định có thể tính ngay được con số chính xác về nhân sự cho bệnh viện. Trên cơ sở đó sẽ phân phối cán bộ y tế cho từng khu vực phù hợp với chức năng của bệnh viện [15].
1: Định mức biên chế cơ sở KCB đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng II theo TTLT số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 5/6/2007[15] TT Đơn vị Làm việc theo giờ Làm việc hành chính theo ca Cơ sở KCB đa khoa, chuyên khoa 1,25 -1,40 1,50 – 1,60 Nhi hạng II Cơ cấu nhân lực Tỷ lệ (%) theo TTLT 08/2007/TTLT-BYT-BNV Cơ cấu bộ phận Tỷ lệ NV bộ phận LS/Tổng số NVYT 60 – 65% Tỷ lệ NV bộ phận CLS và dược/Tổng 22 – 15% số NVYT Tỷ lệ NV bộ phận quản lý/Tổng số 18 – 20% NVYT Cơ cấu chuyên môn Tỷ số BS/chức danh c.môn khác (ĐD, 1/3 – 1/3,5 HS, KTV) Tỷ số DSĐH/BS 1/8 – 1/1,5 Tỷ số DSĐH/DSTH 1/2 – 1/2,5 7 1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế thế giới và tại Việt Nam 1. Thực trạng nguồn nhân lực trên thế giới. Số lượng nhân viên y tế Dựa trên thống kê của các quốc qia, các nguồn thống kê và giám sát lao động, Tổ chức Y tế thế giới WHO (2006) ước tính có khoảng 59,2 triệu nhân viên y tế chính thức được trả lương trên toàn thể.
Những người này đang làm việc cho các cơ sở y tế mà nhiệm vụ chính là cải thiện sức khỏe và những nhân viên y tế trong những cơ sở không phải là y tế (nhân viên y tế công ty, trường học). Người trực tiếp cung cấp dịch vụ chiếm khoảng 2/3 số nguồn nhân lực y tế toàn cầu, 1/3 còn lại là quản lý và nhân viên khác[11]. 2: Nguồn nhân lực y tế thế giới [33] Khu vực Tổng số NVYT Người cung cấp Người quản lý và nhân theo WHO DVYT viên khác Số lượng Mật độ / Số lượng % tổng Số lượng % tổng 1.000 dân số số NLYT NLYT Châu Phi 1.000 25 Đông Đông Nam Á 7.000 23 Bình Dương Châu Âu 16.000 33 Châu Mỹ và Châu Âu là hai khu vực có số lượng NVYT cao hơn cả với số lượng lần lượt là 21. Đây cũng là hai khu vực có tỷ lệ CBYT/1.000 dân cao nhất (24,8 và 18,9).
Trong khi đó Châu Phi và Trung Cận Đông là hai khu vực có số lượng cũng như mật độ CBYT/1.000 dân thấp nhất (2,3 8 và 4,0). Đông Nam Á nằm trong khu vực có mật độ CBYT/1.000 dân ở mức thấp so với thế giới (4,3 so với 9,3) Theo ước tính của WHO có 57/192 quốc gia thiếu hụt NVYT, cần phải có thêm 4,3 triệu NVYT, trong đó có 2,4 triệu bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh để đáp ứng nhu cầu về y tế[33]. 3: Số lượng BS, YT, HS thiếu hụt ước tính theo các vùng của WHO (2006)[33] Theo vùng WHO Số quốc gia Số thiếu hụt NVYT Tổng số Số thiếu Số hiện có Ước tính Tỷ lệ % NVYT thiếu hụt Châu Phi 46 36 590.001 50 Châu Âu 52 0 0 0 0 Trung Cận Đông 21 7 312.031 98 Thái Bình Dương 27 3 27.470 119 Phân bố nhân viên y tế Nhân viên y tế được phân bố không đồng đều giữa các quốc gia. Những quốc gia có nhu cầu tương đối thấp lại có số nhân viên rất cao, trong đó những quốc gia với gánh nặng bệnh tật lớn phải giải quyết vấn đề với nguồn nhân lực ít hơn.
Châu Mỹ, gánh nặng bệnh tật chỉ chiếm 10% tổng số gánh nặng bệnh tật của thế giới, trong khi có đến 37% nguồn nhân lực và 50% chi tiêu y tế toàn cầu. Trái lại, Châu Phi chịu hơn 24% gánh nặng bệnh tật nhưng chỉ tiếp cận với 3% nguồn nhân lực. Phân bổ nguồn lực, chỉ tiêu y tế và gánh nặng bệnh tật theo các vùng của WHO (2006)[33] 9 Trong những khu vực và quốc gia sự tiếp cận đối với NVYT cũng không đồng đều. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt địa lý được nhìn thấy trong mật độ nhân viên y tế.
Ở những nơi có các trường đào tạo NVYT và người dân có khả năng chi trả các dịch vụ y tế luôn luôn thu hút nhiều nguồn nhân lực hơn những vùng không có điều kiện thuận lợi hay những hỗ trợ về tài chính. Như vậy mật độ nhân viên y tế rõ ràng cao nhất ở các thành phố lớn nơi có các trung tâm đào tạo và người dân có thu nhập cao. Trong khi dưới 55% dân số sống ở khu vực thành thị thì có đến 75% là bác sĩ, 60% là điều dưỡng, y tá và 58% nhân viên y tế khác sống ở đó.