ĐẶT VẤN ĐỀ Truyền thông giáo dục sức khỏe là quá trình thực hiện bao gồm các chiến lược thông tin, giáo dục và truyền thông khác nhau tác động tới cá nhân, nhóm và cộng đồng nhằm tăng cường hiểu biết, nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ, kĩ năng và thúc đẩy thực hiện hành vi có lợi cho khỏe, phù hợp với đối tượng tại nơi sống, sinh hoạt, học tập và làm việc của họ (1). Vì thế, truyền thông giáo dục sức khỏe đã được Tổ chức y tế Thế giới xác định là một nội dung quan trọng trong các nội dung về chăm sóc sức khỏe ban đầu (2). Có rất nhiều dữ liệu nghiên cứu về lợi ích của truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh và nhóm chăm sóc sức khỏe. Thông qua truyền thông giáo dục sức khỏe người bệnh có thể cải thiện sức khỏe của họ bằng việc tham gia vào việc chăm sóc, tuân thủ điều trị và tự quản lý sức khỏe của mình (3, 4).
Truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một hoạt động quan trọng trong chăm sóc sức khỏe người bệnh toàn diện tại bệnh viện. Điều này đã được thể hiện trong thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ y tế ban hành về “hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viê ̣n”. Theo đó, hoạt động tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh trong thời kỳ nằm điều trị tại bệnh viện là nhiệm vụ được xếp ưu tiên số 1 trong 12 nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh (5). Ngày 18 tháng 11 năm 2016, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 6858/QĐ-BYT về Bộ tiêu chí chất lượng Bệnh viện Việt Nam, tiêu chí C6.2 có quy định về hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe trong bệnh viện (6).
Truyền thông giáo dục sức khỏe luôn là 1 vấn đề cần thiết tham gia vào hoạt động điều trị cho bệnh nhân. Sự hiểu biết của bệnh nhân về bệnh tật của chính mình cũng như các yếu tố liên quan đến vấn đề sức khỏe sẽ có tác động tích cực vào việc hợp tác chữa bệnh. Một số nghiên cứu trong thời gian gần cho thấy rằng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại một số bệnh viện tuy đã được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng kết quả đạt được còn nhiều khiêm tốn và hạn chế (7- 10). Quá trình thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe có nhiều yếu tố ảnh hưởng như nguồn nhân lực truyền thông giáo dục sức khỏe, kinh phí, cơ sở vật chất, sự quan tâm 2 của các cấp lãnh đạo, các chính sách và quy định về truyền thông giáo dục sức khỏe.
Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh - là đơn vị y tế có giường bệnh đầu ngành Y học cổ truyền về khám chữa bệnh, phụ trách chỉ đạo tuyến tại các tỉnh, thành phía Nam. Hiện nay, Viện có 10 phòng chức năng, 16 khoa chuyên môn và 01 Trung tâm, chỉ tiêu giường bệnh là 240 giường. Trong những năm gần đây, truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh là hoạt động luôn được Viện quan tâm chú trọng thực hiện. Viện đã thành lập tổ truyền thông giáo dục sức khỏe và xây dựng kế hoạch thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh theo từng lĩnh vực chuyên khoa.
Đặc biệt, trong giai đoạn 2019 – 2021, với bối cảnh tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe về áp dụng y học cổ truyền trong phòng, chống dịch bệnh theo hướng dẫn của Bộ y tế (12) tại Viện cũng được thực hiện. Tuy nhiên, đường dây nóng và hộp thư góp ý của Viện vẫn nhận được một số lượng lớn các ý kiến phàn nàn về việc họ thiếu thông tin về vấn đề sức khỏe của bản thân, họ không biết gì về những phương pháp điều trị mà họ đang sử dụng. Câu hỏi đặt ra là thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2019 đến nay như thế nào? Những yếu tố bên trong và bên ngoài Viện ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của Viện? Để tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2019 – tháng 6/2021 và một số yếu tố ảnh hưởng”. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để từ đó Viện có thể đưa ra các phương án hoạt động nhằm cải thiện chất lượng và định hướng phát triển hoạt động TTGDSK cho người bệnh trong thời gian tới.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2019 – tháng 6/ 2021. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2019 – tháng 6/ 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm 1. Bệnh viện Bệnh viện được hiểu là một phần không thể thiếu của một tổ chức y tế xã hội, có chức năng cung cấp cho các dịch vụ chữa trị và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) tại gia đình; bệnh viện cũng là trung tâm đào tạo các nhân viên y tế (NVYT) (13). Bệnh viện cũng được coi là nơi chẩn đoán và điều trị bệnh, nơi tư vấn về điều trị chăm sóc bệnh tật, đào tạo và tiến hành nghiên cứu khoa học, là nơi xúc tiến các hoạt động CSSK và trợ giúp cho các nghiên cứu y sinh học (13). Giáo dục sức khỏe Giáo dục sức khỏe (GDSK) được hiểu là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch vào các cá nhân để đưa đến việc thay đổi hành vi bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Giáo dục sức khỏe còn bao gồm những hoạt động nhằm thông tin và giúp đỡ cộng đồng chấp nhận và duy trì những hành vi có lợi cho sức khỏe, khuyến khích cải thiện và bảo đảm đào tạo chuyên môn, nghiên cứu khoa học cần thiết cho việc thực hiện các công việc kể trên. Giáo dục sức khỏe nói chung nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của GDSK là: kiến thức, thái độ, thực hành của con người về sức khỏe. Giáo dục sức khỏe là một quá trình cần được tiến hành liên tục, thường xuyên và lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau, lồng ghép, kết hợp. Hoạt động GDSK cần phải có sự đầu tư thích đáng, kiên trì thực hiện để đem lại hiệu quả cao (14, 15).
Giáo dục sức khỏe là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của tất cả cán bộ y tế và các cơ quan y tế từ Trung ương đến địa phương. Giáo dục sức khỏe cũng là một hệ thống các biện pháp nhà nước, xã hội và y tế. Xã hội hoá GDSK là lôi cuốn các ngành và các tổ chức xã hội cùng tham gia, trong đó nòng cốt và tham mưu là ngành y tế (16-18). Truyền thông Truyền thông là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ và cảm xúc giữa các chủ thể với mục đích là tăng hiểu biết, kiến thức, thay đổi thái độ và hành vi của cá nhân, nhóm cũng như của cộng đồng (19).
Truyền thông thay đổi hành vi Truyền thông thay đổi hành vi là chiến lược truyền thông tập trung thay đổi hành vi của các đối tượng đích theo hướng tích cực, có lợi cho sức khỏe, phòng tránh các nguy cơ gây bệnh. Các thành phần của quá trình truyền thông trong truyền thông thay đổi hành vi như được cân nhắc, thiết kế phù hợp dựa trên đặc điểm và nhu cầu của đối tượng đích nhằm thúc đẩy, tạo ra sự thay đổi và duy trì thực hiện hành vi có lợi của từng cá nhân và nhóm đối tượng đích, cũng như cộng đồng nói chung. Quá trình truyền thông thay đổi hành vi bên cạnh việc cung cấp thông tin, tương tác, trao đổi sẽ tập trung lắng nghe để thấu hiểu đối tượng từ đó hướng dẫn, thuyết phục để đối tượng tự nguyện thay đổi hành vi có hại, thực hiện và duy trì hành vi có lợi cho sức khỏe (20). Truyền thông giáo dục sức khỏe Truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) là quá trình nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi có lợi để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua tác động đến suy nghĩ và tình cảm của con người (16).
Đây là một quá trình lâu dài, kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, với sự tham gia của các ban ngành trong xã hội, trong đó ngành y tế làm nòng cốt (20). Vì thế, TTGDSK đóng vai trò quan trọng trong hoạt động CSSK, góp phần giúp con người đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất. Mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe Mô hình quá trình truyền thông giáo dục sức khỏe Thông điệp Người/nguồn phát thông Kênh/ phương tiện tin Người nhận tin truyền thông Phản hồi Người/nguồn phát thông tin: là cá nhân/nhóm/tổ chức/cơ quan có thông tin muốn cung cấp, trao đổi cho cá nhân/nhóm/tổ chức/cơ quan khác hoặc cộng đồng. Là nơi khởi xướng quá trình truyền thông.
Ví dụ: nhân viên y tế, Hội chữ thập đỏ, Trung tâm y tế. Các yếu tố của Người/nguồn phát thông tin bao gồm: tuổi, giới, văn hóa, học vấn, kỹ năng. của người phát tin; uy tín, vị thế. của nhóm/tổ chức/cơ quan truyền thông.
Thông điệp: là ý tưởng, cảm xúc, niềm tin. được mã hóa theo nhữnghệ thống kí hiệu nào đó thành nội dung từ người/nguồn phát tin đến nơi người nhận tin, truyền tải qua tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, âm thanh. Kênh/ phương tiện truyền thông Kênh truyền thông: là cách thức, phương pháp truyền tải thông điệp từ người phát đến người nhận. Có hai loại phương pháp TTGDSK là: phương pháp TTGDSK gián tiếp và phương pháp TTGDSK khỏe trực tiếp (18).
+ Phương pháp TTGDSK gián tiếp: có tính chất chiến dịch thông qua các phương tiện nghe nhìn như báo, đài, tivi, pano apphich, tờ rơi. ưu điểm của phương pháp TTGDSK gián tiếp là có khả năng truyền tin nhanh, nhạy, rộng khắp những khối lượng thông tin lớn với quảng đại quần chúng.