Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây râu mèo orthosiphon stamineus benth việt nam

Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây râu mèo orthosiphon stamineus benth, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Chuyên ngành

Hóa Hữu Cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ hóa học

2020

277
15
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Đối tượng nghiên cứu

1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Những đóng góp mới của luận án

1.6. Cấu trúc của luận án

1.7. Giới thiệu về Chi Orthosiphon và cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus)

1.8. Sơ lược về chi Orthosiphon

1.9. Sơ lược về cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.)

1.10. Tình hình nghiên cứu về cây Râu mèo

1.10.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.10.2. Tình hình nghiên cứu trong nước về cây Râu mèo

1.11. Tiểu kết chương I

2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Điều tra, nghiên cứu sự phân bố, thu thập mẫu thực vật và bảo quản

2.2.2. Phương pháp xử lý và chiết mẫu

2.2.3. Phương pháp phân lập và tinh chế các hợp chất

2.2.4. Phương pháp xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất

2.2.5. Phương pháp nghiên cứu tác dụng sinh học

2.2.6. Hóa chất và thiết bị

2.2.7. Phân tích thống kê kết quả

2.3. Phân lập và tinh chế các hợp chất từ cây Râu mèo

2.3.1. Phân lập và tinh chế các hợp chất từ phân đoạn BuOH

2.3.2. Phân lập và tinh chế các hợp chất từ phân đoạn EtOAc

2.3.3. Phân lập và tinh chế các hợp chất từ phân đoạn CHCl3

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả thu thập và xác định tên khoa học mẫu thực vật

3.2. Kết quả phân lập và tinh chế các hợp chất

3.2.1. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được từ phân đoạn BuOH

3.2.1.1. Hợp chất B1 (OSB-7)
3.2.1.2. Hợp chất B2 (OSB-7.4): Hợp chất mới
3.2.1.3. Hợp chất B3 (OSB-7)
3.2.1.4. Hợp chất B4 (OSB-3)
3.2.1.5. Hợp chất B5 (OSB-3)
3.2.1.6. Hợp chất B6 (OSB-3)
3.2.1.7. Hợp chất B7 (OSB-7)
3.2.1.8. Hợp chất B8 (OSB-7)
3.2.1.9. Hợp chất B9 (OSB-7)
3.2.1.10. Hợp chất B10 (OSB-1)
3.2.1.11. Hợp chất B11 (OSB-1)
3.2.1.12. Hợp chất B12 (OSB-1)
3.2.1.13. Hợp chất B13 (OSB-1)
3.2.1.14. Hợp chất B14 (OSB-2)
3.2.1.15. Hợp chất B15 (OSB-2)
3.2.1.16. Hợp chất B16 (OSB-2)
3.2.1.17. Hợp chất B17 (OSB-2)

3.2.2. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được từ phân đoạn EtOAc

3.2.2.1. Hợp chất E18 (OSEA-12)
3.2.2.2. Hợp chất E19 (OSEA-11)
3.2.2.3. Hợp chất E20 (OSEA-11.3): 5,7,4'-trimethoxyflavone hay 5,7,4'- trimethylapigenin
3.2.2.4. Hợp chất E21 (OSEA-11)
3.2.2.5. Hợp chất E22 (OSEA-11)
3.2.2.6. Hợp chất E23 (OSEA-11)
3.2.2.7. Hợp chất E24 (OSEA-10)
3.2.2.8. Hợp chất E25 (OSEA-10)
3.2.2.9. Hợp chất E26 (OSEA-10)
3.2.2.10. Hợp chất E27 (OSEA-10)
3.2.2.11. Hợp chất E28 (OSEA-10)
3.2.2.12. Hợp chất E29 (OSEA-9)
3.2.2.13. Hợp chất E30 (OSEA-9)
3.2.2.14. Hợp chất E31 (OSEA-9)
3.2.2.15. Hợp chất E32 (OSEA-9)
3.2.2.16. Hợp chất E33 (OSEA-9)

3.2.3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được từ phân đoạn CHCl3

3.2.3.1. Hợp chất C34 (OSC-1)
3.2.3.2. Hợp chất C35 (OSC-1)
3.2.3.3. Hợp chất C36 (OSC-1)
3.2.3.4. Hợp chất C37 (OSC-1)
3.2.3.5. Hợp chất C38 (OSC-1)
3.2.3.6. Hợp chất C39 (OSC-1)
3.2.3.7. Hợp chất C40 (OSC-1)

3.3. Kết quả đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất

3.3.1. Hoạt tính sinh học của các hợp chất phenylpropanoids (B1B17) phân lập được từ phân đoạn BuOH

3.3.2. Hoạt tính sinh học của các hợp chất flavonoids (E18E33) phân lập được từ phân đoạn EtOAc

3.3.3. Hoạt tính sinh học của các hợp chất pimarane-diterpenes (C34C40) phân lập được từ phân đoạn CHCl3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây Râu mèo Orthosiphon stamineus

Cây Râu mèo, hay còn gọi là Orthosiphon stamineus Benth., thuộc họ Bạc hà (Lamiaceae). Loài cây này được biết đến với nhiều tác dụng dược lý, đặc biệt là trong y học cổ truyền. Tại Việt Nam, cây Râu mèo phân bố rộng rãi ở các vùng đồng bằng và miền núi, như Lào Cai, Cao Bằng, và Hà Nội. Theo Đông y, cây có vị ngọt nhạt, tính mát, và được sử dụng chủ yếu để lợi tiểu, thanh nhiệt, và điều trị các bệnh liên quan đến thận và mật. Nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Râu mèo cho thấy sự hiện diện của nhiều hợp chất như flavonoids và caffeic acid, cùng với các hợp chất diterpenes, đóng vai trò quan trọng trong hoạt tính sinh học của cây. Tuy nhiên, nghiên cứu hiện đại về cây Râu mèo tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, cần có thêm các công trình nghiên cứu chuyên sâu để khai thác tiềm năng dược lý của loài cây này.

II. Tình hình nghiên cứu về cây Râu mèo

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loài thuộc chi Orthosiphon có hoạt tính sinh học phong phú, bao gồm tác dụng chống viêm, hạ đường huyết, và chống ung thư. Các nghiên cứu này đã chứng minh rằng các hợp chất chiết xuất từ cây Râu mèo có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư và có tác dụng lợi tiểu hiệu quả. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây Râu mèo vẫn còn rất ít. Chưa có công trình nào thực hiện nghiên cứu một cách hệ thống về tác dụng sinh học của cây Râu mèo, đặc biệt là trong việc điều trị các bệnh như tiểu đường và béo phì. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tiến hành các nghiên cứu sâu hơn để khai thác giá trị dược lý của cây Râu mèo tại Việt Nam.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp hiện đại để phân lập và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất từ cây Râu mèo. Mẫu cây được thu hái từ Trung tâm nghiên cứu và chế biến cây thuốc Hà Nội, sau đó được xử lý và chiết xuất bằng các dung môi khác nhau. Các phương pháp sắc ký như sắc ký cột, sắc ký lớp mỏng, và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) được áp dụng để tách và phân lập các hợp chất. Đặc biệt, phương pháp xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất được thực hiện thông qua các kỹ thuật phổ như NMR và MS. Các hợp chất phân lập được sẽ được khảo sát hoạt tính sinh học, bao gồm tác dụng ức chế enzyme PTP1B và khả năng tăng cường hấp thụ đường trên mô hình tế bào mô mỡ 3T3-L1.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy cây Râu mèo chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học đáng chú ý. Các hợp chất phenylpropanoids, flavonoids, và pimarane-diterpenes được phân lập từ các phân đoạn chiết xuất khác nhau đã cho thấy khả năng ức chế enzyme PTP1B và tác dụng lợi tiểu. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng hoạt tính sinh học của cây Râu mèo có thể được ứng dụng trong điều trị các bệnh như tiểu đường và viêm. Việc xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế tác dụng mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các sản phẩm dược phẩm từ cây Râu mèo. Điều này khẳng định giá trị thực tiễn của nghiên cứu trong việc phát triển các loại thuốc mới từ nguồn gốc thiên nhiên.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu (6 trang), tổng quan (23 trang), đối tượng, phương pháp và thực nghiệm (17 trang), kết quả và thảo luận (80 trang), kết luận (4 trang), danh mục công trình công bố (1 trang), tài liệu tham khảo (10 trang). Ngoài ra còn có phần phụ lục gồm các hình ảnh phổ chọn lọc của các hợp chất. luan an 7 CHƢƠNG 1. Giới thiệu về Chi Orthosiphon và cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus) 1.

Sơ lƣợc về chi Orthosiphon Chi Orthosiphon hiện nay gồm khoảng 40 loài, phân bố rải rác ở nhiều vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương. Vùng nhiệt đới Đông Nam Á được coi là nơi tập trung và có tính đa dạng cao nhất các loài của chi Orthosiphon. Ở Việt Nam, cây phân bố ở Lào Cai (Sa Pa), Hà Nội (Văn Điển, Ba Vì), Cao Bằng, Thanh Hóa (Vĩnh Lộc), Sơn La, Bắc Giang, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng (Đà Lạt), Ninh Thuận (Phan Rang), Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa Vũng Tàu, Kiên Giang (Phú Quốc),…[3]. Riêng ở nước ta cho đến nay đã phát hiện có tổng cộng 08 loài, bao gồm: Orthosiphon lanatus Doan.

(Râu mèo có vằn, Phong diệu yếu, hay còn gọi là Tía tô rừng), loài thứ ba là Orthosiphon rubicundus (D. (có tên tiếng Việt là Râu mèo đỏ, hay trực quản đỏ), loài thứ tư là Orthosiphon thymiflorus (tiếng Việt gọi là Hàm huốt), loài thứ năm là Orthosiphon velterii Doan. (Râu mèo Velteri), loài thứ sáu Orthosiphon rotundifolius (Doan), loài thứ bảy Orthosiphon truncates (Doan), và loài thứ tám là Orthosiphon spiralis (Lour. có tên gọi chung là Râu mèo xoắn [2, 4].

Hình ảnh phần trên mặt đất cây Râu mèo luan an 8 1. Sơ lƣợc về cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) Cây Râu mèo (Cat’s whiskers) còn có tên gọi khác là Râu mèo xoắn, cây Bông Bạc, có tên khoa học là Orthosiphon spiralis (Lour.; tên đồng nghĩa: Orthosiphon aristatus (Blume) Miq., Orthosiphon stamineus Benth. [Clerodranthus spicatus(Thunb. Râu mèo là cây thuốc thuộc chi Orthosiphon, thuộc họ Bạc hà – Hoa môi (Lamiaceae), thuộc lớp hai lá mầm Dicotyledonate.

Mô tả đặc điểm Râu mèo là dạng cây thảo, sống lâu năm, cao khoảng 0,5 –1 m. Thân vuông, thường có màu nâu tím. Lá mọc đối có cuống ngắn, chóp nhọn, mép khía răng cưa. Cụm hoa là chùm xim co ở ngọn thân và ở đầu cành.

Hoa có màu trắng sau ngả sang màu xanh tím. Nhị và nhụy mọc thò ra ngoài, nom như râu mèo. Bao phấn ở đầu nhụy màu tím. Cây chịu được ngập tốt, thường được trồng ở các vùng đồng bằng và vùng núi; trồng bằng hạt [3].

Mùa hoa quả thường từ tháng 7 đến tháng 11. Hình ảnh cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) tại Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. luan an 9 Sinh thái và phân bố Sinh thái: Cây sinh trưởng ở nơi ẩm, sáng hoặc che bóng. Thường mọc ở ven đường, ven rừng, trên đồng cỏ; có thể gặp ở độ cao tới 1000m so với mực nước biển.

Phân bố: Râu mèo có vùng phân bố khá rộng, kéo dài từ Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Philippin, Indonexia đến các khu vực nhiệt đới thuộc Oxtraylia. Râu mèo cũng đã được trồng tại một số nước Châu Phi, khu vực Địa Trung Hải và cả ở Cu Ba. Trong hệ Thực vật nước ta, chi Râu mèo (Orthosiphon) có khoảng 08 loài. Loài Râu mèo (O.

spiralis) thường gặp mọc dại hoặc được trồng lẻ tẻ ở nhiều địa phương từ Bắc vào Nam. Tính vị và công dụng Theo Đông y, cây Râu mèo có vị ngọt nhạt, tính mát, không độc; có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, trừ thấp, dùng làm thuốc lợi tiểu mạnh, thông mật, dùng trong bệnh sỏi thận, sỏi túi mật, viêm túi mật, dùng trị viêm thận cấp tính và mãn tính; viêm bàng quang; sỏi tiết niệu. Có tác dụng tốt với các chứng rối loạn đường tiêu hóa, bệnh thấp khớp, đau lưng, đau nhức khớp xương. Còn có tác dụng tốt đối với bệnh xung huyết gan và bệnh đường ruột.

Ngoài ra Râu mèo còn biết đến như một bài thuốc trị các bệnh về tim mạch, cao huyết áp và tiểu đường. Trong Đông y thường dùng Râu mèo để trị một số bệnh như: viêm thận cấp và mạn, viêm bàng quang, sỏi đường tiết niệu, thấp khớp, tạng khớp với liều dùng khoảng 30 – 50 gam dạng thuốc sắc. Viêm thận phù thũng: Râu mèo, Mã đề, Lưỡi rắn trắng mỗi vị 30 gam, sắc uống. Sỏi niệu đạo, bệnh đường tiết niệu: Râu mèo, Chó đẻ răng cưa, Thài lài, mỗi vị 30 gam, sắc uống.

Tình hình nghiên cứu về cây Râu mèo 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Các nghiên cứu về thành phần hóa học cây Râu mèo Các nghiên cứu thành phần hóa học của cây Râu mèo được thực hiện từ rất sớm, cho đến nay đã có khoảng 120 các hợp chất hóa học được phân lập và nhận dạng từ Râu mèo trong đó bao gồm: các diterpen kiểu isopimarane và staminane, triterpene, isoflavonoid, các dẫn xuất của cinnamic acid và chromen. a) Các hợp chất flavonoid phân lập từ Râu mèo Năm 1989, Guerin và các cộng sự tại Pháp đã chứng minh rằng Râu mèo là loài dược liệu chứa rất nhiều dẫnxuất của hợp chất methylripariochromene A [27].

Cũng trong năm này, Malterud và cộng sự là nhóm nghiên cứu đầu tiên phát hiện và tách chiết được 8 hợp chất isoflavonoid từ loài này, bao gồm sinensetin, tetramethylscutellarein, eupatorin, 5-hydroxyl-6,7,3’,4’-tetramethoxylflavone, salvigenin,5,7,4’-trimethoxylflavone và 5,7,3’,4’-tetramethoxylflavone, trong đó hai hợp chất sinensestin và tetramethylscutellarein là phổ biến nhất. Nổi bật nhất trong số các hợp chất flavonoids chiết xuất từ lá của loài Râu mèo là sinensestin, eupatorin, và 3’-hydroxy-5,6,7,4’-tetramethoxylflavones, tetramethyl-scutellarein, salvegenin, ladanein, vomifoliol, 7,3’,4’-tri-O- methylluteolin và scutellarein tetramethylether [11]. Năm 2000, nhóm của Ohashi tại đại học Fukuyama, Nhật Bản đã phân lập được 04 hợp chất flavones bao gồm 5-hydroxyl-6,7,3’,4’-tetramethoxylflavone, eupatorin, scutellarein và sinessetin. Cấu trúc hóa học và tên gọi của các hợp chất flavonoid được phân lập và nhận dạng cho đến nay từ các loài Râu mèo bởi các nhà khoa học trên thế giới được biểu hiện ở hình 3, theo thứ tự từ trái qua phải và từ trên xuống dưới: 1 (3'-hydroxy-5,6,7,4'-tetramethoxyflavone), 2 (4'-hydroxy-5,6,7-trimethoxyflavone), 3 (5,6,7,4'-tetramethoxyflavone), 4 (5,6-dihydroxy-7,4'-dimethoxyflavone) hay còn gọi là ladanein (tên riêng của luan an 11 hợp chất này), 5 (5,7,4'-trimethylapigenin), 6 (5,6,7,4'-tetramethoxyflavone), 7 (5,7,3',4'-tetramethoxyflavone), 8 (5-hydroxy-6,7,3',4'-tetramethoxyflavone), 9(6-hydroxy-5,7,4'-trimethoxyflavone), 10 (7,3',4'-trimethylluteolin), 11 (5,3'- dihydroxy-6,7,4'-trimethoxyflavone) với tên gọi riêng là eupatorin, 12 (luteolin), 13 (pillion) có tên gọi theo danh pháp là 5-hydroxy-7,4'-dimethoxyflavone, 14 (quercetin), 15 (salvigenin), 16 (sinensetin) hay 5,6,7,3',4'-pentahydroxyflavone.

luan an 12 Hình 1. Các hợp chất flavonoids phân lập từ cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) Mới đây nhất vào năm 2015, nhóm nghiên cứu của Hossain đã phân lập và nhận dạng được 06 hợp chất flavonoids từ phần lá của cùng loài Râu mèo Malaysia, 06 hợp chất này bao gồm: eupatorin (11), sinensetin (16), 5- hydroxyl-6,7,3’,4’-tetramethoxylflavone (8), salvigenin (15), 6-hydroxyl-5,7,4’- trimethoxylflavone và 5,6,7,3’-tetramethoxy-4’-hydroxyl-8-C-prenylflavone. Trong đó, hợp chất 5,6,7,3’-tetramethoxy-4’-hydroxyl-8-C-prenylflavone (17) lần đầu tiên được phân lập và nhận dạng từ loài Râu mèo này [31]. b) Các hợp chất diterpenoid phân lập từ Râu mèo Các hợp chất diteroenoids, đặc biệt là các hợp chất diterpenoid có dạng khung isopimarane là những hợp chất được cho là thành phần hóa học chính và điển hình của các loài Râu mèo Nhật Bản, Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Từ những năm 2000, Ohashi và cộng sự tại Đại học Fukuyama, Nhật Bản đã phân lập được 03 hợp chất chromenes (methylripariochromene A, acetovanillochromene, và orthochromene A) và 06 hợp chất diterpenes có dạng khung isopimarane bao gồm neoorthosiphol A, neoothosiphol B, luan an 13 orthosiphol A-B và orthosiphonone A-B, trong đó có 2 hợp chất mới được nhận dạng là neoorthosiphol A và B [55]. Năm 2002, cũng tại Nhật Bản nhóm của Kadota và cộng sự tại Đại học Y dược Toyama đã lần đầu tiên phân lập được 9 hợp chất diterpenoids mới có kiểu khung norstaminane và isopimarane từ phần trên mặt đất của loài O. Các hợp chất mới này được đặt tên lần lượt là norstaminolactone A, norstaminols A và B, secoorthosiphols A-C và orthosiphols R-T. Hợp chất norstaminolactone A được nhận dạng là hợp chất diterpene có kiểu khung norstaminane đầu tiên có chứa nguyên tử nitơ trong phân tử.

Hợp chất norstaminol C được nhận dạng là có cấu trúc được sinh tổng hợp từ khung staminane–diterpene. Các hợp chất secoorthosiphols A-C là những diteropenes có dạng cấu trúc mở vòng tại vòng A, đây là những hợp chất khung cấu trúc lần đầu tiên được phân lập và nhận dạng trong tự nhiên. Secoorthosiphol C được chứng minh là đại diện đầu tiên hình thành từ sự phát sinh sinh vật độc đáo không theo quy luật của hợp chất diterpene dạng khung secoisopimarane có chứa 1 nhóm cyano. Vẫn là nhóm của Kadota và cộng sự vào năm 2003 đã nghiên cứu phân lập từ dịch chiết metanol của loài Râu mèo Indonesia được 9 hợp chất diterpenes mới nữa có dạng khung isopimarane chứa nhiều oxi nguyên tử trong phân tử [14].

Các hợp chất này được đặt tên lần lượt là 7-O-deacetylorthosiphol B, 6- hydroxyorthosiphol B, 3-O-deacetylorthosiphol I, 2-O-deacetylorthosiphol J, và siphonols A-E. Hầu hết các hợp chất này thể hiện hoạt tính chống viêm thông qua khả năng ức chế sự sản sinh nitric oxide (NO) gây nên bởi LPS thử nghiệm trên dòng tế bào tương tự đại thực bào J774. Các loài Râu mèo của Myanmar, Đài Loan, Indonesia cũng đã được các nhà khoa học Nhật Bản nghiên cứu trong những năm từ 2000 đến 2005 một cách khá đầy đủ và chi tiết. Trong đó thành phần hóa học của các loài Râu mèo Đài Loan và luan an 14 Myanmar cũng chủ yếu chứa các hợp chất diterpene với 2 dạng khung chính là isopimarane và staminane [51].

luan an 15 Hình 1. Các hợp chất diterpenes khung pimarane phân lập từ cây Râu mèo Trong giai đoạn này đã có tới 47 hợp chất diterpenes ở cả 2 dạng khung isopimarane và staminane được phân lập và nhận dạng từ phần trên của mặt đất của các 12 loài Râu mèo Châu Á và Đông Nam Á [15]. Hầu hết các hợp chất diterpenes phân lập và nhận dạng được cho tới nay từ loài Râu mèo được tiến hành bởi các nhà khoa học Nhật Bản, các nhà khoa học Trung Quốc (nhóm Wang và cộng sự tại Đại học Shandong) là nhóm thứ 2 trên thế giới nghiên cứu phân lập và nhận dạng được các hợp chất diterpenes từ loài này [23]. Tuy nhiên, từ giai đoạn 2006 trở đi, việc nghiên cứu thành phần hóa học từ loài Râu mèo đã bị chững lại.

Đến năm 2013, một nhóm nghiên cứu của Nhật Bản khác là Kato- Noguchi và các cộng sự tại trường Đại học Kagawa mới tiếp tục nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Râu mèo và đã tìm ra được một hợp chất mới có khung cấu trúc dạng 13-epi- staminane diterpene và đặt tên là 13-epi-orthosiphol N (48) [41]. luan an 16 Hình 1. Các hợp chất diterpenes khung pimarane phân lập từ Râu mèo (tiếp) Ngoài ra các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã nghiên cứu thành phần hóa học phần trên mặt đất của loài Râu mèo Trung Quốc (O.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây râu mèo Orthosiphon stamineus tại Việt Nam" của tác giả Hoàng Đức Thuận, dưới sự hướng dẫn của PGS. Vũ Quốc Trung và TS. Nguyễn Phi Hùng, được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2020. Bài nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các thành phần hóa học và đánh giá hoạt tính sinh học của cây râu mèo, một loại cây có tiềm năng trong y học và công nghệ sinh học. Những phát hiện từ luận án không chỉ cung cấp thông tin quý giá về giá trị dược liệu của cây râu mèo mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các ứng dụng trong lĩnh vực y học và bảo vệ sức khỏe.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến sinh học và hóa học, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và hóa học tinh dầu chi gừng và chi ngải tiên thuộc họ Gừng ở Bắc Trung Bộ, nơi khám phá các đặc tính sinh học của các loại cây khác. Bên cạnh đó, Nghiên cứu khả năng kháng nấm gây bệnh trên thực vật của tinh dầu tràm Melaleuca alternifolia cũng là một nghiên cứu thú vị về hoạt tính sinh học của các loại tinh dầu. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về vi khuẩn chuyển hóa ammonium và xử lý nước thải thủy sản sẽ cung cấp thêm thông tin về ứng dụng sinh học trong xử lý môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các nghiên cứu trong lĩnh vực hóa học và sinh học.