Luận văn kiến thức và thực hành phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường máu khi thực tập bệnh viện của sinh viên trường cao đẳng y tế kiên giang năm 2016 và một số yếu tố liên quan

Bài viết phân tích kiến thức và thực hành phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu của sinh viên Cao đẳng Y tế Kiên Giang năm 2016 cùng các yếu tố liên quan.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Kiến thức y tế

Nghiên cứu tập trung vào kiến thức y tế của sinh viên Y tế Kiên Giang năm 2016 về phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu. Kết quả cho thấy 92% sinh viên có kiến thức đạt chuẩn về các bệnh như HIV, viêm gan B, và viêm gan C. Tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách trong việc hiểu biết về các biện pháp phòng ngừa cụ thể, đặc biệt là trong các thủ thuật lâm sàng. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục y tế trong việc nâng cao nhận thức và kỹ năng phòng ngừa.

1.1. Kiến thức về bệnh lây truyền qua đường máu

Sinh viên được đánh giá về kiến thức liên quan đến các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, và viêm gan C. Kết quả cho thấy phần lớn sinh viên nhận thức được các con đường lây truyền chính, bao gồm qua máu, dịch tiết, và vật sắc nhọn. Tuy nhiên, kiến thức về các biện pháp phòng ngừa cụ thể như sử dụng đồ bảo hộ và xử lý chất thải y tế vẫn còn hạn chế.

1.2. Nguồn thông tin và đào tạo

Nghiên cứu chỉ ra rằng nguồn thông tin chính của sinh viên về phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu đến từ chương trình đào tạo tại trường và hướng dẫn lâm sàng. Tuy nhiên, việc thiếu các buổi tập huấn chuyên sâu và tài liệu hướng dẫn cụ thể đã ảnh hưởng đến chất lượng kiến thức của sinh viên.

II. Thực hành y tế

Phần thực hành y tế của sinh viên được đánh giá thông qua các thủ thuật lâm sàng như tiêm, truyền dịch, và lấy máu. Kết quả cho thấy chỉ 51% sinh viên thực hiện đúng các biện pháp phòng ngừa. Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc cải thiện thực hành y tế thông qua đào tạo thực hành và hướng dẫn chi tiết từ giáo viên lâm sàng.

2.1. Thực hành phòng ngừa lây nhiễm

Sinh viên được đánh giá về việc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm như sử dụng găng tay, rửa tay, và xử lý vật sắc nhọn. Kết quả cho thấy nhiều sinh viên không tuân thủ đúng quy trình, đặc biệt là trong việc xử lý chất thải y tế và sử dụng đồ bảo hộ.

2.2. Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành

Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như ngành học, giới tính, và chất lượng hướng dẫn lâm sàng có ảnh hưởng đáng kể đến thực hành y tế của sinh viên. Sinh viên điều dưỡng có tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với sinh viên y sĩ, và sự hướng dẫn chi tiết từ giáo viên lâm sàng cũng giúp cải thiện đáng kể thực hành.

III. Phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu trong môi trường lâm sàng. Các biện pháp như tiêm phòng vacxin viêm gan B, sử dụng đồ bảo hộ, và tuân thủ quy trình xử lý chất thải y tế được xem là yếu tố then chốt trong việc giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm.

3.1. Biện pháp phòng ngừa cụ thể

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu như tiêm phòng vacxin viêm gan B, sử dụng găng tay và đồ bảo hộ khi thực hiện thủ thuật, và tuân thủ quy trình xử lý chất thải y tế. Các biện pháp này không chỉ bảo vệ sinh viên mà còn đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

3.2. Giáo dục và đào tạo

Nghiên cứu khuyến nghị tăng cường giáo dục y tế và đào tạo thực hành cho sinh viên, đặc biệt là trong các buổi tập huấn về phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu. Việc biên soạn sổ tay lâm sàng và cập nhật chương trình đào tạo cũng được xem là giải pháp hiệu quả.

IV. Sinh viên y tế Kiên Giang 2016

Nghiên cứu tập trung vào sinh viên y tế Kiên Giang năm 2016, đặc biệt là sinh viên điều dưỡng và y sĩ. Kết quả cho thấy sinh viên điều dưỡng có kiến thức và thực hành tốt hơn so với sinh viên y sĩ, điều này phản ánh sự khác biệt trong chương trình đào tạo và thời gian thực hành lâm sàng.

4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 200 sinh viên, bao gồm cả sinh viên điều dưỡng và y sĩ. Kết quả cho thấy sinh viên điều dưỡng có tỷ lệ kiến thức và thực hành đạt chuẩn cao hơn, điều này phản ánh sự khác biệt trong chương trình đào tạo và thời gian thực hành lâm sàng.

4.2. Khuyến nghị cho sinh viên

Nghiên cứu khuyến nghị sinh viên cần chủ động tìm hiểu và nâng cao kiến thức về phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình thực hành lâm sàng để đảm bảo an toàn cho bản thân và bệnh nhân.

23/02/2025
Luận văn kiến thức và thực hành phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường máu khi thực tập bệnh viện của sinh viên trường cao đẳng y tế kiên giang năm 2016 và một số yếu tố liên quan

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh lây truyền qua đường máu 1. Khái niệm Bệnh lây truyền qua đường máu là những bệnh mà tác nhân gây bệnh có thể được truyền từ máu và chế phẩm máu của người này sang người khác. Theo WHO, tất cả các NVYT đều có nguy cơ lây nhiễm tác nhân gây bệnh đường máu.

Có rất nhiều các bệnh lây truyền qua đường máu tuy nhiên có một số bệnh phổ biến là HIV, VGB, VGC. Phơi nhiễm này xảy ra là do các vật bén bị vấy máu hay dịch tiết của người bệnh đâm phải (phơi nhiễm qua da) hoặc do mắt, mũi, miệng, da không lành lặn tiếp xúc với máu (dịch tiết) của người bệnh (phơi nhiễm qua đường niêm mạc) [19]. Cách thức lây truyền chính Các chất của cơ thể có thể truyền tác nhân gây bệnh qua đường máu bao gồm: Tất cả máu và sản phẩm của máu, tất cả các chất tiết nhìn thấy máu, dịch âm đạo, tinh dịch, dịch màng phổi, dịch màng tim, dịch màng khớp, nước ối. Các thủ thuật khi đi lâm sàng của sinh viên Y khoa đều liên quan đến các tác nhân này.

Có hai cách để lây nhiễm bệnh viêm gan là lây nhiễm theo chiều dọc và lây nhiễm theo chiều ngang. Lây nhiễm theo chiều dọc là lây nhiễm từ mẹ sang con, thường xảy ra trong thời kỳ chu sinh và những tháng đầu sau khi sinh. Lây nhiễm theo chiều ngang là con đường lây nhiễm qua quan hệ tình dục không an toàn, lây nhiễm khi tiếp xúc với máu, các vật phẩm của máu hoặc các chất dịch tiết của người có mang mầm bệnh. Lây qua đường tình dục, sử dụng chung bơm kim tiêm là những con đường lây truyền phổ biến nhất.

Ngoài ra sử dụng dao cạo râu hay bàn chải đánh răng chung với người nhiễm HBsAg, anti HCV (+) cũng có nguy cơ lây nhiễm cao. [13, 27, 28] Cũng giống như bệnh viêm gan, con đường lây truyền của HIV/AIDS là qua ba con đường: lây truyền qua đường máu, quan hệ tình dục không an toàn, từ mẹ sang con. Các đối tượng có nguy cơ cao trong việc lây truyền HIV/AIDS qua đường máu là các những người có tiêm chích ma túy. Tuy nhiên đối với NVYT lây truyền HIV/AIDS qua đường máu là một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt đối với các nơi thiếu thốn về cơ sở vật chất.

Đối tượng có nguy cơ cao trong nhóm NVYT là điều dưỡng, bác sĩ, kỹ thuật viên xét nghiệm. Nhân viên y tế khi thực hiện các thủ thuật 5 như tiêm, khâu, rạch, mổ đều dễ dàng bị phơi nhiễm [11, 29]. Tính đến năm 2002, theo CDC thì tổng số NVYT báo cáo nhiễm HIV nghề nghiệp tại Mỹ là 57 người trong đó có 24 trường hợp là điều dưỡng, nhân viên xét nghiệm lâm sàng là 16 người. Những thao tác kỹ thuật có nguy cơ thâm nhập cao WHO cũng khuyến cáo các NVYT cần phải xét nghiệm nhiễm HBV, HCV và HIV [18].

Những đối tượng làm việc trực tiếp với bệnh nhân cần được tiêm phòng vacxin viêm gan B càng sớm càng tốt trước khi làm việc, trừ khi họ đã được tiêm phòng. Khi thực hiện kỹ thuật thực hành, NVYT cần tuân thủ một số biện pháp dự phòng cơ bản để phòng ngừa phơi nhiễm [1]. Kỹ thuật Biện pháp dự phòng Luôn luôn dùng kim hay xi lanh mới hoặc đã được xử lý đúng cách cho mỗi lần chích Đầu kim hay vật sắc nhọn phải đặt xa cơ thể. Tránh đưa các vật sắc nhọn bằng tay, đặt vật sắc nhọn vào khay để đưa đồng nghiệp.

Không đóng nắp kim trước khi bỏ. Trong trường hợp cần đóng nắp kim phải dùng kỹ thuật “ xúc một tay” Tiêm chích, truyền dịch Bỏ kim hay vật sắc nhọn vào thùng(hộp) đựng vật sắc nhọn ngay sau sử dụng. Không được để đầy quá ¾ thùng đựng vật sắc nhọn. Phải đảm bảo xe tiêm có hộp(thùng) đựng vật sắc nhọn để giúp cô lập vật sắc nhọn nhanh và an toàn Khi bị kim hay vật sắc nhọn đâm cần phải rửa ngay vùng da bị tổn thường bằng xà phòng và nước, dưới vòi nước chảy.

Không nặn bóp vết thương. Băng vết thương lại Thực hiện phân loại chất thải ngay sau khi sử dụng Thu gom rác thải y tế (vật sắc nhọn phải vào hộp đựng vật sắc nhọn chống thủng, bông băng, gạc, găng tay vào túi 6 nylon màu vàng) Khi thực hiện thu gom rác thải y tế cần phải đeo găng tay Phân loại dụng cụ y tế trước khi xử lý Ngâm vào dung dịch làm sạch với các dụng cụ vấy nhiều máu, mủ khó bong Ngâm vào dung dịch tiệt khuẩn với các dụng cụ ít máu, mủ, dễ bong Xử lý dụng cụ y tế Cọ rửa, xả sạch bằng nước máy, lau khô. (Khi cọ rửa phải theo 1 chiều, các dụng cụ phải được tháo rời khớp nối) Ngâm dụng cụ vào dung dịch khử khuẩn cao Xả sạch bằng nước vô khuẩn Lau sạch, đóng gói Sử dụng găng sạch khi có nguy cơ tiếp xúc với máu và dịch tiết của người bệnh. Vệ sinh tay theo đúng chuẩn sau khi tiếp xúc với Lấy máu bệnh phẩm máu và dịch tiết Thực hiện các biện pháp dự phòng khi làm việc với vật sắc nhọn.

Những thủ thuật mà bất kỳ một sinh viên cao đẳng hay học sinh trung cấp ngành Y đều phải làm khi đi lâm sàng đó là: Tiêm thuốc, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da, Rửa thay băng vết thương thường và vết thương có ống dẫn lưu, Truyền dịch, Lấy máu xét nghiệm, Lấy bệnh phẩm. Tần suất cho các thủ thuật này là từ 5-20 lần/ khoa lâm sàng kéo dài trong 2 tuần. Ngoài ra đối với bậc cao đẳng điều dưỡng còn phải thực hiện thêm những thủ thuật như thay băng vết mổ, may các loại thương phần mềm, vệ sinh răng miệng, thay băng cắt chỉ các vết thương. Một số các thủ thuật lớn hơn như đặt sond dạ dày, thông tiểu, rửa ruột, chọc dò… thì sinh viên được kiến tập.

Các tiêu chí này đều bắt buộc sinh viên Y khoa làm việc với vật sắc nhọn, máu và dịch tiết của người bệnh đều là các yếu tố phơi nhiễm. Kiến thức nền tảng trước khi đi lâm sàng Trong phân phối chương trình học đúng theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Bộ Y tế thì Y sĩ ngoài những môn bệnh học nội, ngoại, nhi, nhiễm, giải phẫu sinh lý thì chỉ được học môn Điều dưỡng cơ bản có số tiết lý thuyết 60, thực hành 90 tiết để nhằm phục vụ cho công tác thực hành lâm sàng tiêm chích, thay băng rửa vết thương, truyền dịch, lấy dấu sinh hiệu… Môn vi ký sinh trùng chỉ học về phân biệt các loại virut, vi khuẩn. Môn bệnh học Nội, bài học về gan chỉ có thời lượng 4 tiết. Các em không hề được học môn Kiểm soát nhiễm khuẩn.

Đối tượng học Y sĩ bắt đầu đi lâm sàng từ học kỳ 2. Đối với đối tượng Điều dưỡng, ngoài môn cơ bản là Điều dưỡng cơ bản, các em còn được học những môn như Điều dưỡng và kiểm soát nhiễm khuẩn, Kỹ năng tiền lâm sàng. Thời lượng học môn Điều dưỡng cơ bản cũng kéo dài với 45 tiết thực hành, 90 tiết lý thuyết. Các em học sinh không những được học về Bệnh học nội ngoại nhi nhiễm mà còn có thêm phần chăm sóc tương ứng với các khoa.

Thời gian đi lâm sàng bắt đầu từ học kỳ 3. Tóm lại trước khi đi lâm sàng, các em đều có được những kiến thức cơ bản về các kỹ thuật tiêm chích, truyền dịch, thay băng rửa vết thương, lấy dấu hiệu sinh tồn v.Như vậy có thể thấy rằng sinh viên khi đi lâm sàng đã phải làm công tác của một nhân viên y tế thực thụ, thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố phơi nhiễm như kim tiêm, máu và bệnh phẩm của người bệnh. Tuy nhiên, sinh viên học sinh là những người đang đi học, việc thành thạo nghề là chưa có, nhưng hằng ngày vẫn phải đối diện với các yếu tố nguy cơ do đó phơi nhiễm lại càng tăng cao. Do đó các em cần phải trang bị tốt kiến thức về phòng lây nhiễm các bệnh qua đường máu.

Tình hình phổ biến (tập huấn) trước khi đi lâm sàng Từ trước đến nay trước một vòng quay lâm sàng, trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang đều không hề tổ chức một buổi sinh hoạt chuyên đề về những vấn đề cần lưu ý khi đi lâm sàng. Tiêu chí lâm sàng ở mỗi một khoa, các em cũng không được biết cụ thể trên giấy tờ, chỉ có thầy cô là người biết và đưa ra yêu cầu. Trước một khoa đi lâm sàng, tùy theo từng giáo viên mà sẽ có hướng dẫn nhắc nhở về khoa cho sinh viên. Tuy nhiên sự nhắc nhở này không hề được lập thành quy định tại nhà trường mà do các thầy cô tự làm.

Ngoài kiến thức sơ khởi về việc phòng lây nhiễm từ chương trình học và được thầy cô nhắc nhở thì các em không hề có thêm những chú 8 ý đặc biệt nào đối với việc phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường máu khi đi lâm sàng. Trong khi đó đối với trường đại học Y tế công cộng, khi sinh viên năm thứ hai từ lúc bắt đầu đi bệnh viện đều có buổi sinh hoạt hướng dẫn cụ thể để các em biết được những tiêu chí mình cần làm tại khoa, những điều cần lưu ý khi thực tập và cả cách phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp cho bản thân. Ngoài ra tại một số trường Cao đẳng Y tế trong khu vực, buổi sinh hoạt chuyên đề về khoa trước khi đi lâm sàng vẫn không có chương trình học chính khóa. Có một số trường chỉ là buổi sinh hoạt trước vòng đi lâm sàng trong vòng 30 phút.

Các em học sinh không có tài liệu phát tay về khoa đi lâm sàng. Như vậy có thể thấy với khối lượng công việc phải làm liên quan đến máu và dịch tiết của người bệnh là xuyên suốt trong quá trình thực tập nhưng việc trang bị kiến thức cho sinh viên về phòng ngừa lây nhiễm còn thiếu sót rất nhiều tại trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang. Những thiếu sót ấy được thể hiện qua không có buổi sinh hoạt chuyên đề trước khi đi lâm sàng, không có tài liệu phát tay về khoa với những kiến thức cơ bản về tiêu chí lâm sàng cần phải làm và những biện pháp dự phòng như rửa tay, đeo găng tay và khắc phục khi xảy ra sự cố như vật sắc nhọn đâm, giọt bắn. Các nghiên cứu về tình hình mắc, nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu 1.

Tình hình mắc các bệnh lây truyền qua đường máu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

"Kiến thức và thực hành phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu của sinh viên Y tế Kiên Giang 2016" là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào việc đánh giá nhận thức và hành vi của sinh viên y khoa trong việc phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường máu. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng kiến thức và thực hành của sinh viên, đồng thời đề xuất các biện pháp cải thiện nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà giáo dục y tế và sinh viên, giúp họ hiểu rõ hơn về các nguy cơ và cách thức bảo vệ bản thân cũng như bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề y tế liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về việc tuân thủ điều trị trong cộng đồng. Ngoài ra, Khảo sát nhu cầu tư vấn sử dụng thuốc của người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện đại học y hà nội năm 2023 cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về nhu cầu và thách thức trong quản lý điều trị. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh lý chuyển hóa.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm các góc nhìn chuyên sâu trong lĩnh vực y tế.