ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế là chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Trong quá trình hoạt động, các cơ sở y tế đã thải ra những chất thải có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường và lan truyền bệnh tật tới các vùng xung quanh nếu không được quản lý tốt, đặc biệt là chất thải y tế nguy hại. Chất thải y tế được xác định là nằm trong mục của danh mục các chất thải nguy hại (Mã số 4020- Y1)[3], [30] và đang trở thành mối quan tâm không chỉ trong phạm vi ngành y tế mà thực sự đang trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội. Chất thải y tế nếu không được quản lý tốt sẽ tạo nên nguy cơ cho sức khỏe và môi trường sống của con người.
Nhân viên y tế, bệnh nhân, người xử lý chất thải, người nhặt rác và người dân trực tiếp tiếp xúc với y tế có nhiều nguy cơ rủi ro từ các chất thải truyền nhiễm (đặc biệt là chất thải sắc nhọn), hóa chất độc hại và các chất thải y tế đặc biệt khác. Xử lý không đúng cách chất thải y tế nguy hại sẽ làm ô nhiễm môi trường, tăng nguy cơ các bệnh truyền nhiễm lan rộng và tiếp xúc với khí thải độc hại từ quá trình đốt cháy chất thải không hoàn toàn[10], [27]. Các thành phần của chất thải rắn y tế chứa đựng một lượng rất lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm có thể thâm nhập vào cơ thể qua da, niêm mạc, qua đường hô hấp, đường tiêu hóa…Đặc biệt chất thải y tế sắc nhọn được coi là một loại rác rất nguy hiểm vì nó gây những tổn thương kép: vừa gây tổn thương, vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm[13]. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng một người bị chấn thương từ một kim tiêm đã được sử dụng trên một bệnh nhân có nguy cơ 30%, 1,8%, và 0,3% tương ứng bị lây nhiễm HBV, HCV và HIV[33].
Kết quả một đánh giá của WHO được tiến hành tại 22 nước đang phát triển cho thấy, tỷ lệ các cơ sở y tế không sử dụng các phương pháp thích hợp xử lý chất thải khoảng từ 18% đến 64%. Một nghiên cứu ở Ấn Độ năm 2004 thấy rằng, một bệnh viện có công suất 1000 giường sẽ phát sinh lượng chất thải thông thường là khoảng 2310 kg/ ngày và chất thải lây nhiễm chiếm 385 kg / ngày, trung bình lượng chất thải phát sinh là 2,31 kg / ngày/ trên giường bệnh[26]. 2 Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế về thực trạng quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế trên cả nước: tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế vào khoảng 350 tấn/ngày, trong đó có 40,5 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại. ớc tính năm 2010, số lượng chất thải y tế là hơn 380 tấn/ngày (trong đó có khoảng 45 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại), đến năm 2015 là 600 tấn/ngày và năm 2020 là khoảng trên 800 tấn/ngày.
Chỉ có khoảng 50% các bệnh viện thực hiện phân loại, thu gom CTRYT đạt yêu cầu theo Quy chế quản lý chất thải y tế. Vấn đề quản lý, xử lý CTYT tại tuyến xã chưa được quan tâm và thực hiện, hầu hết các trạm y tế xã chưa thực hiện xử lý CTYT trước khi xả ra môi trường[19]. Thực hiện uật Bảo vệ môi trường năm 2005 và nhằm hạn chế các tác hại do chất thải y tế gây ra, ngày 30 tháng 11 năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành Quy chế Quản lý chất thải y tế kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT[5] áp dụng cho tất cả các cơ sở y tế và các tổ chức, cá nhân tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế. Tuy nhiên công tác quản lý chất thải y tế hiện nay vẫn còn rất nhiều tồn tại, khó khăn.
Với tính chất là cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, nhưng các chất thải từ trạm y tế cũng mang đầy đủ tính chất nguy hại như chất thải từ các bệnh viện, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu trên quy mô toàn quốc cũng như tại tỉnh Phú Thọ về tình hình quản lý chất thải tại các trạm y tế. Qua một số khảo sát ban đầu tại Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ cho thấy các trạm y tế thực hiện quản lý chất thải rắn y tế đúng quy chế quản lý chất thải đạt tỷ lệ thấp, cơ sở vật chất còn hạn chế, nhiều cán bộ của trạm y tế còn thiếu kiến thức về quản lý CTR y tế và thực hành không đúng quy định[24]. Để trả lời câu hỏi thực trạng quản lý chất thải rắn y tế ở các trạm y tế trên địa bàn Thành phố Việt Trì ra sao? Kiến thức, thực hành của nhân viên trạm y tế như thế nào? Nhằm góp phần giúp lãnh đạo y tế và chính quyền địa phương nắm rõ về thực trạng tình hình, đưa ra những giải pháp phù hợp để công tác quản lý chất thải y tế được thực hiện tốt, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của cán bộ các trạm y tế trên địa bàn thành phố Việt Trì năm 2011". 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải rắn y tế tại các trạm y tế trên địa bàn Thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ năm 2011.
Mục tiêu 2: Mô tả kiến thức và thực hành phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý chất thải rắn y tế của cán bộ các trạm y tế và một số yếu tố liên quan. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế 1. Một số khái niệm Các khái niệm dùng trong nghiên cứu được tham khảo và trích dẫn chủ yếu từ Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ- BYT của Bộ trưởng Bộ y tế[3] và các văn bản, quy định khác của Nhà nước.
Chất thải: Là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác[20]. Chất thải nguy hại: Là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác[20]. Chất thải rắn: à tất cả những chất thải không phải nước thải và khí thải. Chất thải y tế: Là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn[4]. Danh mục chất thải y tế nguy hại áp dụng theo danh mục chất thải nguy hại ban hành kèm theo quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và môi trường[3]. Chất thải y tế thông thường: Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ gây nổ. Quản lý chất thải y tế: Là hoạt động phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
Thu gom chất thải: Là quá trình tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế. 5 Vận chuyển chất thải: Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy. Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy. Xử lý và tiêu hủy chất thải: Là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây huy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường.
Tái sử dụng: Là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới. Tái chế: Là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới. Phân loại chất thải y tế 1.1 Phân loại theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) Hiện nay, có nhiều cách phân loại chất thải y tế theo các quan điểm khác nhau của các nhà quản lý y tế. Tuy nhiên tất cả các cách phân loại đều chủ yếu dựa vào tình chất vật lý, hóa học của chất thải và khả năng gây ảnh hưởng của chúng tới môi trường và sức khỏe con người.
Theo WHO, chất thải y tế được phân thành 8 loại như sau[31]: - Chất thải nhiễm trùng: à chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, virut, ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm, bao gồm: Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm, rác từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng, rác từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng, súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm, dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm… - Chất thải sắc nhọn: Là các chất thải có thể làm rách hoặc tổn thương da bao gồm: Bơm kim tiêm, dao mổ, bộ tiêm truyền, lưỡi cưa ống tiêm. - Thuốc thải loại: Bao gồm thuốc quá hạn, thuốc không dùng hoặc các loại vaccine, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng. - Chất thải có tính độc với tế bào: à các chất thải có thể làm biến đổi gen, gây dị dạng, quái thai như các chất chống ung thư. 6 - Hóa chất: Có thể dưới dạng rắn, lỏng, khí, bao gồm: Hóa chất độc, hóa chất có tính ăn mòn (PH<2 hoặc PH>12), hóa chất dễ gây nổ.
- Rác chứa kim loại nặng, độc: Là chất thải chứa kim loại như chì, thủy ngân, asen. - Các bình chứa khí nén: Là các bình chứa các chất được dùng trong y tế dưới dạng khí nén như khí oxy, khí gây mê, bình khí dung. - Chất phóng xạ: Không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường gây ảnh hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia α, tia β… 1.