Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ QUI TẮC ỨNG XỬ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG THUỘC THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về văn hóa Trải qua các bước thăng trầm của lịch sử, loài người đã chứng kiến sự thay đổi, thích ứng của xã hội với từng giai đoạn phát triển. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm nhất định, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của xã hội, đó vừa là thành quả của một thời kỳ, đồng thời cũng ghi nhận những bước tiến mới của nhân loại.
Theo đó, sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người cùng xuất hiện với văn hóa. Song, để hiểu một cách chính xác khái niệm về văn hóa thì chưa hẳn đã thống nhất. Thuật ngữ Văn hóa (culture) được dùng khá phổ biến trong đời sống, song việc hiểu về nó thì mỗi nhà nghiên cứu, mỗi cá nhân lại có cách hiểu không hoàn toàn giống nhau. Xung quanh khái niệm Văn hóa có rất nhiều quan điểm khác nhau.
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả trình độ phát triển vật chất và tinh thần; hiểu theo nội dung bao gồm cả khoa học, kỹ thuật, giáo dục và văn hóa văn nghệ. Văn hóa được đặt trong phạm vi nếp sống, đạo đức xã hội. Văn hóa là sự hiểu biết nhằm định hưởng cho sự phát triển theo cải đúng, cái tốt, cái đẹp. Văn hóa là một trong những bộ phận quan trọng cho sự phát triển lâu bền nhiều mặt của một dân tộc.
Hiện nay, trên thế giới có hơn 400 định nghĩa về văn hóa, điều đó cho ta thấy sự phong phú, đa dạng và phức tạp của khái niệm này. Thế kỷ XIX, nhà Nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917), trong tác phẩm Primitive Culture, bản dịch tiếng Việt: Văn hóa nguyên thuỷ (1871) ông 10 cho rằng: “Văn hóa là tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác…” thuộc loại như thế [41] Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết : ‘Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, ở, mặc và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [22,t3,tr.
Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm Nhận diện văn hóa thì : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [42] Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [38] Như vậy, với ý nghĩa trên Văn hóa có mặt ở mọi nơi, ở mọi hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần của con người. Có thể nói văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy, bảo tồn, duy trì và phát triển theo dòng lịch sử phát triển của nhân loại. Ứng xử và Văn hóa ứng xử 1. Khái niệm ứng xử Ứng xử là từ ghép gồm “ ứng” và “xử”, “ứng” là ứng đối, ứng phó.
“Xử” là xử thế, xử lý, xử sự. Ứng xử là phản ứng của con người đối với các sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Ứng xử là phản ứng có lựa chọn tính toán, là cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp. Nội hàm của phép ứng xử có 2 chữ là : “Tâm” và “Nhẫn” Chữ tâm: Gốc từ chữ Hán mang ý nghĩa lương tâm, đức độ, là tấm lòng, lòng bao dung, nhân ái, độ lượng, vị tha, thương người như thê thương thân.
Tâm còn thể hiện ở sự cảm thông, chia sẻ.Trong từ điển tiếng Việt, tâm có nghĩa là tình cảm, ý chí. Tâm là đạo đức, tâm đẹp là đạo đức tốt, còn gọi là “tâm thanh tịnh”, là “từ tâm”(thiện tâm). Còn “ác tâm”(tà tâm), là người xấu xa. Tâm thuộc phạm trù “luân lý đạo đức”(ngã luân và ngũ thường).
Chữ nhẫn: Là sự nhẫn nhịn, nhường nhịn, chịu phần thiệt về mình. Nhẫn được xem là bí quyết của thành công, là trọn vẹn đạo nghĩa trên đời. Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước từng dùng chữ nhẫn khôn ngoan, linh hoạt, mềm dẻo để vừa giữ được nước, vừa không làm mất hòa khí. Đó là kinh nghiệm chiến đấu và ngoại giao thắng lợi, là di sản văn hóa của dân tộc.
Thực tế cho thấy, con người không thể giao tiếp ứng xử tốt khi không có thiện chí. Giao tiếp ứng xử đòi hỏi phải có tấm lòng, tình cảm, thiện chí mới đạt kết quả tốt. Đó là chữ tâm. Văn hóa ứng xử cũng cần phải biết “ nhẫn” tức là phải kiên trì, nhẫn nại, nhường nhịn nhau, đôi khi phải biết chịu thiệt thòi để có hiệu quả giao tiếp tốt.
Nếu có cả chữ tâm và chữ nhẫn thì giao tiếp sẽ đạt hiệu quả tốt. Văn hóa ứng xử Trong công trình “Cơ sở Văn hóa Việt Nam” [33], tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về Văn hóa ứng xử nhưng đã xác định những nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng, các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: Môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu) và môi trường xã hội (các dân tộc, quốc gia láng giềng. Với mỗi loại môi trường đều có cách thức xử thế phù hợp là: Tận dụng môi trường (tác động tích cực) và ứng phó môi trường (tác động tiêu cực).
Văn hóa ứng xử theo tác giả gồm 3 chiều quan hệ: Với thiên nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa ứng xử gắn liền với các thước đo mà xã hội dùng để ứng xử. Đó là các chuẩn mực xã hội. Văn hóa ứng xử thông thường được chi phối bởi bốn hệ chuẩn mực cơ bản của nhân cách: Hệ chuẩn mực trong lao động; hệ chuẩn mực trong giao tiếp; hệ chuẩn mực gia đình; các chuẩn mực phát triển nhân cách.
Trong quá trình ứng xử, con người phải lựa chọn giữa cái thiện và cái ác, cái đúng và cái sai, cái đẹp và cái xấu, cái hợp lý và cái phi lý.tồn tại trong một cộng đồng nhất định. Sự lựa chọn này bị chi phối cũng bởi bốn hệ chuẩn mực là: Chuẩn mực đạo đức, hệ chuẩn mực luật pháp, hệ chuẩn mực thẩm mỹ và trí tuệ, hệ chuẩn mực về niềm tin. Ờ Việt Nam, khái niệm Văn hóa ứng xử đã được nhiều người gián tiếp hoặc trực tiếp làm rõ, đó là : Thái độ, cách thức quan hệ, hành động và cả kỹ năng lựa chọn nhằm tận dụng, ứng phó và thể hiện tình người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với bản thân. Thái độ, cách thức quan hệ, hành động và cả kỹ năng lựa chọn đó bị chi phối bởi các giá trị được biểu hiện dưới dạng chuẩn mực cơ bản của xã hội.
13 Như thế, có thể quan niệm rằng : Văn hóa ứng xử là hệ thống các thái độ, khuôn mẫu, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng đồng người trong mối quan hệ với môi trường thiên nhiên, xã hội và bản thân, dựa trên những chuẩn mực xã hội, nhằm bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng người hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Văn hóa ứng xử là khái niệm để chỉ những cách xử thế với các hiện tượng trong xã hội và ứng xử giữa con người với thiên nhiên, ứng xử trong xã hội bao gồm hàng loạt hệ thống cộng đồng khác nhau từ gia đình đến họ tộc, giữa các dân tộc, các quốc gia với nhau. Mỗi hệ thống xã hội nói trên đều đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc và cung cách riêng, nhằm đạt mục tiêu chung là sống hữu hảo với nhau. Còn ứng xử giữa con người với thế giới tự nhiên cũng bao gồm rất nhiều phương thức nhằm đạt mục đích cao cả là đảm bảo cho loài người sống hòa hợp với tự nhiên.
Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người, được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với bản thân, với những người chung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động hằng ngày. Tuy nhiên các hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân rất khác nhau. Chúng được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội. Hành vi ứng xử văn hóa được coi là sự thể hiện các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó.
Chúng phản ánh mối quan hệ với những người xung quanh, trong học tập, công tác.và các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày. Tóm lại, văn hóa ứng xử theo nghĩa rộng là thái độ, hành vi ứng xử của con người, thể hiện triết lý sống, lối sống, lối suy nghĩ trong giải quyết các mối quan hệ với mình, với tự nhiên và xã hội theo giá trị, chuẩn mực văn hóa nhất định. 14 Theo nghĩa hẹp là thái độ, hành vi ứng xử của con người trong giải quyết các mối quan hệ với bản thân, với tự nhiên và xã hội theo những giá trị, chuấn mực văn hóa phù hợp với yêu cầu và lợi ích xã hội. Văn hóa ứng xử trong công sở 1.
Khái niệm Công sở Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế do Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1999 đã định nghĩa: Công: chung chỉ thuộc về nhà nước, sở: nơi, chỗ.