Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG TỔ CHỨC 1. Bản chất của động lực và tạo động lực làm việc Ngày nay, công tác tạo động lực cho người lao động đã trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu đối với bất kỳ doanh nghiệp hay tổ chức nào. Động lực tác động vào động cơ làm việc của con người, làm gia tăng sức mạnh và hướng con người hành động để đạt được mục tiêu mong đợi. Có động lực người lao động sẽ yêu thích và tự nguyện gắn bó với công việc của mình từ đó tự giác làm việc, nâng cao năng suất và chất lượng công việc được giao.
Vậy trước hết cần hiểu rõ thế nào là động lực và tạo động lực làm việc. Có nhiều quan điểm khác nhau về động lực và tạo động lực lao động. Luận văn Quản lý công 1. Khái niệm Maier và Lawler [37,tr3] đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Trong đó, Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Như vậy, động lực có tác động rất lớn đến kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân.
Kết quả thực hiện công việc có thể được xem như một hàm số của năng lực và động lực làm việc. Năng lực làm việc phụ thuộc vào các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng được huấn luyện. Cải thiện năng lực làm việc thường diễn ra chậm sau một quãng thời gian đủ dài. Ngược lại, động lực làm việc có thể cải thiện khá nhanh chóng.
Tuy nhiên, động lực lại cần được thường xuyên duy trì. 7 Theo Budian động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. Higgins khẳng định động lực là lực đẩy bên trong cá nhân để đáp ứng những nhu cầu chưa được thỏa mãn. Kreitner cho rằng động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng hành vi cá nhân theo mục đích nhất định.
[36,tr2] Qua tham khảo một số tài liệu của Việt Nam, tác giả nhận thấy rằng, động lực đã được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ tâm lý học, động lực được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó. Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực, động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được mục tiêu cá nhân và tổ chức. Luận văn Quản lý công Từ những định nghĩa trên, tác giả có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của riêng mình và mục tiêu chung của tổ chức đã vạch sẵn.
Phân loại động lực: Dựa trên những đặc điểm cơ bản của động lực lao động, có thể chia động lực lao động thành 2 loại: Động lực lao động về tinh thần là những động lực lao động tác động lên tinh thần của người lao động. Người lao động luôn phấn đấu làm việc khi nhu cầu được đáp ứng, họ làm việc vì muốn khẳng định mình, vì lý tưởng và hoài bão của cá nhân, vì muốn tạo dựng thương hiệu cá nhân. Những gì họ cần hơn cả là những động viên kịp thời, được đánh giá cao trong công việc, được tôn trọng và thăng tiến. Với nhu cầu về tinh thần của người lao động, tùy thuộc vào công việc, tùy thuộc vào cách quản lý của tổ chức mà mức độ hài lòng của người lao động cũng khác nhau.
Đối với nhiều lao động, sự quan tâm của 8 tổ chức dành cho hậu phương, gia đình của họ như chế độ động viên thăm hỏi, động viên con cái họ học hành thông qua các phong trào của công đoàn, phụ nữ….luôn là nguồn cổ động viên họ đóng góp tích cực hơn nữa cho tổ chức. Ngoài ra môi trường làm việc rõ ràng, công bằng và minh bạch sẽ tạo dựng niềm tin để cho toàn bộ nhân viên yên tâm cống hiến cho tổ chức. Động lực lao động về vật chất: Là những động lực lao động tác động trực tiếp tới lợi ích vật chất của người lao động. Người lao động tham gia làm việc trong tổ chức là để thõa mãn các nhu cầu vật chất như: ăn, ở, đi lại.
Việc thõa mãn các nhu cầu này phụ thuộc vào thù lao về tài chính mà họ nhận được. Thù lao về tài chính càng lớn thì mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất càng cao. Tiền lương là yếu tố tác động trực tiếp và đóng vai trò duy trì động lực làm việc của người lao động. Mức tiền lương bằng hoặc mức lương cao hơn các chi phí của cuộc sống sẽ gắn trách nhiệm của bản thân người lao Luận văn Quản lý công động phải đáp ứng với yêu cầu của bảng mô tả công việc, là áp lực để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và cảm thấy xứng đáng với mức lương mà họ nhận được.
Ngược lại, mức lương không đủ thanh toán chi phí sinh hoạt sẽ đẩy họ vào tình cảnh khó khăn và thiếu thốn, buộc họ phải tìm kiếm phí sinh hoạt sẽ đẩy họ vào tình cảnh khó khăn và thiếu thốn, buộc họ phải tìm kiếm các cơ hội việc làm khác. Bên cạnh đó, chế độ tiền thưởng hợp lý, chế độ phúc lợi kịp thời được đánh giá là yếu tố thúc đẩy trong quá trình tạo động lực lao động. Những phần thưởng sẽ tạo ra sự hứng thú và kỳ vọng để người lao động hăng hái làm việc, đóng góp xây dựng đơn vị. Chế độ phúc lợi sự bảo đảm cho người lao động nghề nghiệp an toàn và ổn định hơn như được chi trả bảo hiểm, trợ cấp, và kể cả chế độ hưu trí.
Với cách hiểu như trên về động lực, có thể hiểu tạo động lực làm việc chính là quá trình làm nảy sinh và phát triển động lực làm việc cho nhân viên trong một tổ chức, là quá trình tác động của nhà quản lý lên nhân viên nhằm 9 tăng cường sự hăng hái, nhiệt tình và trách nhiệm của nhân viên khiến cho nhiệm vụ mà tổ chức giao cho nhân viên hoàn thành ở mức độ cao nhất, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc 1. Yếu tố thuộc về cá nhân Các yếu tố này xuất hiện trong chính bản thân mỗi con người, nó thúc đẩy con người làm việc, bao gồm: - Nhu cầu cá nhân: Mỗi người khi tham gia vào một tổ chức đều có những mong muốn thỏa mãn những nhu cầu riêng của mình để có thể tồn tại và phát triển. Về cơ bản, hệ thống nhu cầu của con người có hai loại đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Nhu cầu vật chất đòi hỏi về điều kiện để cá nhân tồn tại và phát triển về Luận văn Quản lý công mặt trí lực như học tập, vui chơi, giải trí. Hai loại nhu cầu này gắn bó mật thiết và có quan hệ biện chứng. Thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng làm cho con người thoải mái về tinh thần và thúc đẩy họ hăng say làm việc, nhiệt tình hết lòng với công việc, gắn bó dài lâu với tổ chức, nhưng ngược lại nếu nhu cầu không được thỏa mãn họ sẽ không có động lực để phấn đấu làm việc, hiệu quả công việc không cao và có xu hướng ra khỏi tổ chức để đi tìm nơi làm việc khác mà tại đó nhu cầu của họ được thỏa mãn. - Năng lực bản thân: Năng lực làm việc của mỗi người một phần có được là do bẩm sinh do được rèn luyện trong quá trình lao động.
Đánh giá đúng năng lực của mỗi các nhân là cơ sở để các nhà quản lý sử dụng tốt nhất nguồn nhân lực của tổ chức mình. Một viên chức sẽ thấy thoải mái hơn khi họ được 10 giao những công việc phù hợp với trình độ và năng lực của mình vì họ biết chắc chắn họ sẽ hoàn thành công việc ở mức độ tốt nhất và ngược lại. - Đặc tính cá nhân: Các đặc điểm cá nhân người lao động là những yếu tố nền tảng cho biết nguồn gốc quá trình phát triển của họ bao gồm các đặc điểm về giới tính, tuổi, chủng tộc, tôn giáo, các quan niệm…., đều có ảnh hưởng tới hành vi làm việc của người lao động. Mỗi người lao động là những cá thể có các đặc điểm cá nhân khác nhau do đó để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của tổ chức đòi hỏi cá nhân khác nhau do đó để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của tổ chức đòi hỏi người quản lý phải quan tâm, nắm bắt và hiểu rõ các yếu tố này từ đó xây dựng các chính sách quản lý phù hợp để nhằm phát huy được thế mạnh của mỗi cá nhân đồng thời tạo ra động lực lao động.
Yếu tố thuộc về tổ chức Nhóm yếu tố này thể hiện sự ủng hộ và tạo điều kiện của tổ chức để Luận văn Quản lý công người lao động có thể đem khả năng của bản thân cống hiến cho mục tiêu chung và cũng chính là giúp họ đạt được mục tiêu của chính mình. Loại nhân tố này bao gồm: - Công việc của người lao động đảm nhận: Công việc chính là tập hợp các nhiệm vụ được thực hiện bởi một người lao động, hay những nhiệm vụ tương tự như nhau được thực hiện bởi một số người lao động để hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Sự thành công của một tổ chức không chỉ phụ thuộc vào sự quản lý mà còn phụ thuộc vào các thành viên của tổ chức. Một khi người lao động cảm thấy thích thú với công việc và cảm thấy được thưởng xứng đáng với những nỗ lực của họ sẽ thành công nhất và tổ chức cũng được hưởng lợi nhiều nhất.
- Chính sách về nhân lực, tiền lương, thưởng và đãi ngộ khác 11 Chính sách về nhân lực: Việc xây dựng các chính sách thường phụ thuộc vào mục tiêu của tổ chức bởi chính mục tiêu cho thấy lĩnh vực dùng người của tổ chức đó.