Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản tại Trạm Tấu, Yên Bái năm 2018

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản tại, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài báo khoa học

2018

73
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, BỆNH HỌC CỦA GIUN ĐŨA, GIUN TÓC, GIUN MÓC/MỎ

2.1.1. Đặc điểm hình thái và sinh học của giun đũa

2.1.2. Chu kỳ phát triển của giun đũa

2.1.3. Triệu trứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun đũa

2.1.4. Đặc điểm hình thái và sinh học của giun tóc

2.1.5. Chu kỳ phát triển của giun tóc

2.1.6. Triệu chứng bệnh và tác hại của giun tóc

2.1.7. Bệnh giun móc/mỏ

2.1.7.1. Đặc điểm hình thái và phân loại của giun móc/mỏ
2.1.7.2. Chu kỳ phát triển của giun móc/mỏ
2.1.7.3. Triệu chứng bệnh và tác hại của giun móc/mỏ

2.2. CHẨN ĐOÁN BỆNH GTQĐ

2.2.1. Dựa vào các yếu tố dịch tễ học

2.2.2. Dựa vào lâm sàng

2.2.3. Dựa vào cận lâm sàng

Tóm tắt

I. Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất

Nhiễm giun truyền qua đất (GTQĐ) là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt ở phụ nữ tuổi sinh sản (PNTSS) tại Trạm Tấu, Yên Bái. Theo nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm giun ở PNTSS tại đây rất cao, với các loại giun như giun đũa (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura) và giun móc (Ancylostoma duodenale/Necator americanus) chiếm ưu thế. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của trẻ em. Thiếu máu do giun móc/mỏ là một trong những tác hại nghiêm trọng nhất, dẫn đến nhiều biến chứng trong thai kỳ như đẻ non và trẻ thiếu cân. Đặc biệt, môi trường sống tại Trạm Tấu, sau thiên tai, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của dịch bệnh này.

1.1. Tình hình dịch tễ học

Tình hình dịch tễ học cho thấy rằng PNTSS tại Trạm Tấu có tỷ lệ nhiễm giun cao, với 76% phụ nữ bị nhiễm giun. Các yếu tố như điều kiện vệ sinh kém, thói quen ăn uống không hợp vệ sinh và thiếu nước sạch đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ nhiễm. Theo WHO, hơn 1,5 tỷ người trên thế giới bị nhiễm GTQĐ, trong đó có một phần lớn là phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Việc không sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và không uống thuốc tẩy giun định kỳ là những yếu tố chính dẫn đến tình trạng này.

II. Yếu tố liên quan đến nhiễm giun

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm giun ở PNTSS tại Trạm Tấu. Các yếu tố môi trường như độ ẩm, nhiệt độ và thổ nhưỡng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ấu trùng giun. Đặc biệt, đất màu mỡ và ẩm ướt là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của giun. Ngoài ra, thói quen sinh hoạt của người dân, như việc không thường xuyên đi giày dép khi tiếp xúc với đất, cũng là một yếu tố nguy cơ. Việc thiếu kiến thức về vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường cũng góp phần làm gia tăng tỷ lệ nhiễm giun.

2.1. Tác động của môi trường

Môi trường sống tại Trạm Tấu, đặc biệt sau thiên tai, đã bị ảnh hưởng nặng nề, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của dịch bệnh GTQĐ. Nhiều khu vực không có nước sạch và điều kiện vệ sinh kém đã làm gia tăng nguy cơ nhiễm giun. Theo nghiên cứu, việc cải thiện điều kiện vệ sinh và cung cấp nước sạch có thể giảm thiểu tỷ lệ nhiễm giun trong cộng đồng.

III. Biện pháp phòng ngừa

Để giảm thiểu tình trạng nhiễm giun truyền qua đất ở PNTSS tại Trạm Tấu, cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Việc tẩy giun định kỳ cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản là rất cần thiết. Ngoài ra, nâng cao nhận thức về vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường cũng đóng vai trò quan trọng. Các chương trình giáo dục sức khỏe cần được triển khai để người dân hiểu rõ hơn về tác hại của nhiễm giun và cách phòng ngừa. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan y tế và cộng đồng để thực hiện các biện pháp này.

3.1. Tẩy giun định kỳ

Tẩy giun định kỳ cho PNTSS là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để giảm thiểu tình trạng nhiễm giun. Theo khuyến cáo của WHO, việc tẩy giun nên được thực hiện hàng năm, đặc biệt ở những khu vực có tỷ lệ nhiễm cao. Điều này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe của phụ nữ mà còn bảo vệ sức khỏe của trẻ em trong gia đình.

15/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Bệnh giun truyền qua đất (GTQĐ) gây ra bởi một số loài giun tròn ký sinh mà trong chu kỳ phát triển của chúng có giai đoạn phát triển ở ngoài môi trường đất, đó là giun đũa (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura) và giun móc/giun mỏ (Ancylotoma duodenale/Necator americanus) [1], [2], [3]. Bệnh GTQĐ gây nhiều tác hại thầm lặng và lâu dài tới sức khỏe con người. GTQĐ đã trở thành vấn đề cấp thiết ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là những vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới [4]. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và gây ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển thể chất, tinh thần, đặc biệt là đối với trẻ em, phụ nữ tuổi sinh sản (PNTSS) và phụ nữ có thai [5].

Bệnh GTQĐ là một trong những bệnh nhiệt đới bị lãng quên (Neglected tropical diseases - NTDs) [6]. Ở những góc độ khác nhau nó không nhận được sự quan tâm đúng mức như bệnh Lao, HIV. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 1,5 tỷ người hay 24% dân số bị nhiễm các loại GTQĐ phân bố rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Một trong những tác hại do bệnh GTQĐ gây ra là thiếu máu thiếu sắt do giun móc/mỏ.

Điều này gây hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt đối với PNTSS và trẻ em, đây là những đối tượng có nhu cầu cao về sắt. Đối với PNTSS, thiếu máu thiếu sắt còn trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của con cái. Tại những vùng có tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ cao, nhiều phụ nữ bước vào tuổi dậy thì và có thai lần đầu khi đang bị nhiễm giun móc/mỏ và thiếu sắt. Tình trạng giảm sắt và thiếu máu trong kỳ thai nghén làm tăng rõ rệt nguy cơ đẻ non, trẻ thiếu cân, tử vong mẹ và trẻ sơ sinh.

Do đó, tại những nơi có tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ cao, việc điều trị giun móc/mỏ có tác dụng cải thiện tình trạng thiếu máu thiếu sắt ở PNTSS, giúp họ chuẩn bị tốt cho thời kỳ làm mẹ, đặc biệt là những trường hợp có cường độ nhiễm trung bình và nặng. Ở Việt Nam, Nguyen et al. (2006) phân tích tình trạng nhiễm giun sán đường ruột của PNTSS trên toàn quốc dựa trên số liệu điều tra năm 1995 cho thấy tỷ lệ nhiễm giun ở PNTSS rất cao (76%), trong đó tỷ lệ nhiễm giun đũa là 56%, giun móc 36% và giun tóc 28%. Trong những năm gần đây, một số điều 2 tra thực trạng nhiễm GTQĐ ở PNTSS tại một số địa phương của các tỉnh Điện Biên, Lào Cai và Hà Tĩnh cho thấy tỷ lệ nhiễm tương tự [8],[9], [10].

Yên Bái là một trong 16 tỉnh được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) lựa chọn triển khai tẩy giun cho PNTSS hàng năm. Trạm Tấu là huyện vùng cao nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, với 11 dân tộc sinh sống, chủ yếu là dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc H’Mông chiếm ưu thế (77%). Cuối năm 2017, do ảnh hưởng của trận lũ lịch sử đã gây nhiều tổn hại về kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội của người dân trong huyện. Cũng sau thiên tai này, môi trường sống bị ảnh hưởng nặng nề, đây là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển trong đó có bệnh GTQĐ.

Vì vậy, đánh giá thực trạng nhiễm GTQĐ ở PNTSS thuộc tỉnh Yên Bái nói chung và huyện Trạm Tấu nói riêng là cần thiết. Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan nhiễm giun truyền qua đất ở Phụ nữ tuổi sinh sản tại một số xã huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, năm 2018”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm giun truyền qua đất ở Phụ nữ tuổi sinh sản tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, năm 2018.

Đánh giá các yếu tố liên quan nhiễm giun truyền qua đất ở Phụ nữ tuổi sinh sản. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, BỆNH HỌC CỦA GIUN ĐŨA, GIUN TÓC, GIUN MÓC/MỎ 1. Đặc điểm hình thái và sinh học của giun đũa Giun đũa ký sinh và gây bệnh cho con người là loài Ascaris lumbricoides có vị trí phân loại như sau: Lớp Chromadorea Inglis 1983 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Liên họ Ascaridoidea Baird, 1853 Họ Ascarididae Baird, 1853 Giống Ascaris Linnaeus, 1758 Loài Ascaris lumbricoides Linnaeus, 1758 Bệnh giun đũa do giun đũa (Ascaris lumbricoides) ký sinh trong cơ thể người gây nên.

Đây là một loại giun lớn, có hình thể dài và to như chiếc đũa. Giun đũa cái lớn hơn giun đũa đực. Con cái dài 20 - 25 cm, con đực dài 15 - 20 cm. Giun đũa có màu hồng nhạt hay màu trắng sữa (hình 1.

Giun đực và giun cái trưởng thành cùng sống ký sinh ở phần đầu và phần giữa ruột non [11], [12], [13], [14]. Giun cái Giun đực Hình 1.Giun đũa trưởng thành 4 1. Hình thể trứng giun đũa soi dưới kính hiển vi quang học Trứng đã thụ tinh - Kích thước 50 - 70 m x 40 - 50 m - Hình bầu dục (ít khi tròn) vỏ dày có nhiều lớp. Lớp vỏ ngoài albumin xù xì bắt màu của phân: vàng sẫm bẩn (hình 1.2) - Nhân trứng có phôi chiếm toàn bộ trứng trừ 2 đầu.

Phôi tròn hạt lấm tấm nhỏ hoặc có ấu trùng. - Đôi khi gặp trứng giun đũa không có lớp vỏ ngoài: trong suốt không màu hoặc màu xanh xám có một lượt vỏ nhẵn bóng Trứng không thụ tinh - Kích thước 50 - 106 m x 40 - 60 m. - Hình dài, đôi khi hình lê hoặc hình lăng, tam giác, bất thường. - Lớp vỏ ngoài mỏng, ít xù xì, băng ở đầu, màu vàng sẫm bẩn.

- Nhân bên trong chứa đầy chất tế bào hoàng thể to hình đa giác. Trứng thụ tinh Trứng không thụ tinh Trứng có ấu trùng Hình 1. Hình thể trứng giun đũa soi dưới kính hiển vi 5 1. Chu kỳ phát triển của giun đũa Giun đũa sống trong ruột non của người.

Đời sống của giun đũa thường kéo dài từ 13 - 15 tháng. Quá thời gian này, giun đũa thường bị nhu động ruột đẩy ra ngoài theo phân. Giun đũa đực và giun đũa cái trưởng thành giao hợp với nhau, giun cái đẻ trứng, và trứng theo phân ra ngoại cảnh. Gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, có oxy), trứng giun từ một nhân sẽ phát triển đến giai đoạn có ấu trùng trong trứng (hình 1.

Nếu người ăn phải trứng giun đũa có ấu trùng, thì ấu trùng sẽ phát triển thành giun đũa trưởng thành [15]. Các giai đoạn phát triển trứng giun đũa Tuy nhiên, từ khi trứng giun đũa có ấu trùng được nuốt vào đường tiêu hóa cơ thể con người, ấu trùng giun đũa thoát khỏi vỏ trứng và trải qua quá trình di hành và phát triển như sau: ở dạ dày, nhờ sức co bóp cơ học và dịch vị làm cho ấu trùng thoát ra khỏi vỏ trứng, ấu trùng xuống ruột, chui qua các mao mạch ở ruột vào tĩnh mạch mạc treo để đi về gan. Thời gian qua gan là từ sau 3 - 7 ngày. Sau đó ấu trùng đi theo tĩnh mạch trên gan để vào tĩnh mạch chủ và vào tim phải.

Từ tim phải, ấu trùng theo động mạch phổi để tới phổi. Ấu trùng giai đoạn phổi là thời gian ấu trùng tiết kháng nguyên gây ra bệnh lý cho người, đồng thời kích thích cơ thể sản xuất kháng thể chống giun đũa. Sau khi thay vỏ, ấu trùng từ phế nang di chuyển về vùng hầu họng, từ đó được nuốt xuống ruột và ấu trùng sẽ phát triển thành giun đũa trưởng thành ký sinh ở ruột non (hình 1. Ngoài ra, có thể gặp hiện tượng lạc chỗ vì trong quá trình di hành, ấu trùng có thể bị mắc lại ở các kẽ van tim, hay có thể vào tĩnh mạch, tới phổi để vào hệ thống động mạch chủ, từ đó ấu trùng có thể di chuyển tới các cơ quan khác của cơ thể người.

Trong ngoại khoa, người ta có thể tìm thấy giun đũa ở tim, ở động mạch khoeo… Hiện tượng lạc chỗ gây ra các bệnh của hệ thống tuần hoàn. Hiện tượng này cần phân biệt với giun đũa di chuyển (giun chui 6 ống mật, giun chui vào ống tụy, giun chui vào ruột thừa, giun chui lên dạ dày, giun chui vào ống tai) [1], [11], [12]. Chu kỳ phát triển của giun đũa 1. Triệu trứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun đũa Khoảng 85% các trường hợp nhiễm giun đũa không có triệu chứng; tuy nhiên, triệu chứng thường gặp nhất là khó chịu ở bụng với mức độ khác nhau.

Các triệu chứng như hen suyễn, mất ngủ, đau mắt và phát ban gây ra do phản ứng, dị ứng của vật chủ với chất bài tiết và dịch tiết của giun trưởng thành, cũng như giun chết và sắp chết. Sự xâm nhập của ấu trùng ít gây hủy hoại niêm mạc ruột vật chủ. Tuy nhiên, ấu trùng di hành đến các cơ quan như lá lách, gan, hạch bạch huyết và não thường gây ra phản ứng viêm. Ngoài ra, ấu trùng thoát khỏi mao mạch trong phổi và đi vào các phế nang gây ra các nốt 7 xuất huyết nhỏ kèm theo ho, sốt và khó thở.

Khi bị nhiễm ấu trùng với số lượng lớn có thể tạo ra nhiều cục máu nhỏ, dẫn đến viêm phổi, có khả năng gây tử vong nếu khu vực lớn của phổi bị ảnh hưởng [16]. Số lượng lớn giun trưởng thành đôi khi gây tắc ruột và giun trưởng thành xâm nhập vào thành ruột hoặc ruột thừa có thể gây xuất huyết cục bộ, viêm phúc mạc hoặc viêm ruột thừa. Giun đũa ngoài chiếm đoạt chất dinh dưỡng của cơ thể con người, còn gây ra rối loạn các chức năng về tiêu hoá và dinh dưỡng, rối loạn quá trình thẩm thấu thức ăn do làm tổn thương niêm mạc ruột tại vị trí ký sinh, chiếm vitamin, đặc biệt là vitamin A và vitamin D. Do đó, làm ảnh hưởng đến thể lực, tuổi thọ của mỗi người, đặc biệt làm giảm khả năng phát triển thể lực và trí lực của trẻ em.

Ở trẻ em hay gặp những triệu chứng: gầy còm, bụng chướng, biếng ăn, kinh giật, chảy nước bọt do chất độc của giun đũa gây ra nhiễm độc thần kinh. Giun cái trưởng thành thậm chí có thể đi lên ống dẫn mật đến gan, gây áp xe, hoặc xuống ống tụy, gây xuất huyết viêm tụy, thậm chí tử vong. Nhiễm nặng cũng gây mất cảm giác ngon miệng và không hấp thụ thức ăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài báo khoa học "Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản tại Trạm Tấu, Yên Bái năm 2018" là một nghiên cứu quan trọng về vấn đề sức khỏe cộng đồng ở vùng cao. Bài báo đã phân tích thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản tại Trạm Tấu, Yên Bái và những ảnh hưởng của nó đến sức khỏe sinh sản. Thông qua việc thu thập dữ liệu và phân tích, bài báo đã cung cấp những thông tin quý báu về tình hình nhiễm giun, nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, tác động đến sức khỏe và các giải pháp phòng ngừa.

Bài báo này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, cán bộ y tế, các cơ quan quản lý và người dân địa phương. Nó cung cấp thông tin về thực trạng nhiễm giun, từ đó giúp nâng cao nhận thức về vấn đề này, thúc đẩy các hoạt động phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả. Ngoài ra, những thông tin về các yếu tố nguy cơ giúp xác định đối tượng cần được ưu tiên can thiệp và hỗ trợ.

Để tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực sức khỏe sinh sản và dịch bệnh, bạn có thể tham khảo các bài báo sau:

Những bài báo này giúp bạn mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe, môi trường và kinh tế xã hội.