mở đầu cho bệnh lý xuất huyết (Dixon và cs, 2008). Khi có sự nhiễm virus ASF, một vài quan thé đại thực bào hoạt hoá sự thực bào và phân tiết. Tế bào đơn nhân/đại thực bào hoạt hoá tiết ra một lượng lớn những chất trung gian gồm các cytokine tiền viêm như là IL-1, IL-6 và TNF-a. Những cytokine này có thé kích hoạt phản ứng pha cấp tính, viêm, hoạt hoá tế bào nội mô va quá trình chết tế bào theo chương trình (apoptosis).
Trong những cytokine nay thì TNF-a đặc biệt quan trong, nó gây ra những thay đổi mach máu (giãn mach và làm tăng tính thấm thành mạch) và làm giảm hoạt hoá tế bào nội mô mạch máu (tiền đông máu/kháng đông máu). Hon thé nữa, TNF-a có liên quan đến kiểm soát apoptosis. Điều này chứng minh rang tăng tiết TNF-a, IL-1ø, IL-1B va IL-6 đồng thời là khởi đầu sốt, hư hại mach máu và thay đổi câu trúc mô bạch huyết (Blome và es, 2013). Sự suy giảm nghiêm trọng của các tế bào T vào giai đoạn sớm của bệnh.
Tế bào B được hoạt hoá khi virus nhiễm vào cơ thể nhưng bởi vì sự suy giảm của tế bào T, nên kết quả là tế bao B apoptosis. Sự suy giảm nghiêm trọng bạch cầu lympho T và B làm suy yếu đáp ứng miễn dịch khi có sự nhiễm trùng (Dixon và cs, 2008). Mặc dù virus ASF có xuất hiện trong tế bào lympho nhưng lại không nhân lên ở đó (Carrasco và cs, 1996b), virus không nhân lên thì sẽ không có hiện tượng ly giải tế bao do nhiễm trùng xảy ra (hiện tượng tế bào bị mat cân bằng áp suất thâm thấu sẽ tự phá vỡ). Do đó, số lượng tế bào lympho giảm có thé là do hiện tượng khác, chang hạn như quá trình chết tế bào theo chương trình (Carrasco và cs, 1996a).
Và giả thuyết tế bao lympho bị apoptosis do các chất tiền viêm cytokine tiết ra bởi đại thực bao nhiễm virus ASF được chứng minh thêm bởi Salguero và cộng sự (2005). Ở hạch tonsil, thé cấp tính có sự tăng lên số lượng bạch cầu đơn nhân/đại thực bào và đi kèm với sự tăng các cytokine tiền viêm (đặc biệt là TNF-a và IL-1ø). Ngoài ra còn thay các tế bào lympho bị apoptosis. Tương tự với những phát hiện ở hạch amidan, sự xuất hiện apoptosis ở các tế bao lympho trong cấu trúc lách và tuyến ức cũng như hạch lympho trùng hợp với sự biểu hiện của các cytokine (TNF-a, IL-1ơ và IL-I) do các bạch cầu đơn nhân/đại thực bào hoạt hoá.
Do đó, các cytokine tién viém chiu trach nhiệm gây apoptosis khi virus nhiễm vào. Ở heo hồi phục tim thay virus vẫn tồn tai trong hạch lympho và hạch amidan lên đến 48 ngày sau khi nhiễm (Blome và cs, 2013). Giống như nhiều bệnh xuất huyết, bệnh tích do virus ASF gây nên ở heo có liên quan đến sự biểu hiện quá mức của các cytokine như IFN và TNFa (Netherton và cs, 2019). Bên cạnh đó, so sánh những đáp ứng của cytokine trong đại thực bào nhiễm giữa chủng độc lực cao với độc lực thấp cho thấy phản ứng thay đổi có lợi từ các cytokine liên quan đến miễn dịch trung gian tế bào được đặt tên IEFN-ơ và IL12p40.
Do đó, heo hồi phục có phụ thuộc một phần nào đó vào các đáp ứng cytokine từ miễn dịch (Blome và cs, 2013). Dấu hiệu lâm sàng và bệnh tích Diễn biến lâm sàng của ASF có thé đa dạng, từ thé quá cấp, cấp tính đến thé mãn tính tùy thuộc vào độc lực của virus, đường lây nhiễm, liều lượng gây nhiễm và đặc điềm vật chủ (Sanchez-Vizcaino, 2015). Các triệu chứng khác nhau khi các chủng virus độc lực khác nhau. Chung virus độc lực trung bình gây thé bán cấp với tỷ lệ chết thấp hơn.
Chủng độc lực thấp gây thể mãn tính, chỉ vài trường hợp chết, đặc trưng là không có tôn thương mạch máu nhưng có các dấu hiệu như chậm lớn, sưng khớp, loét da và ton thương do nhiễm trùng thứ cap (Netherton va cs, 2019). Độc lực các chủng virus ASF được phân loại thành độc lực cao, độc lực trung bình, độc lực thấp. Chung độc lực cao thường gây thé quá cấp, heo chết từ 1 - 4 ngày sau khi nhiễm; thé cấp tính, heo chết từ 3 - 8 ngày sau khi nhiễm. Chung độc lực trung bình, heo chết từ 11 - 15 ngày sau khi nhiễm; thé bán cấp, heo chết sau 20 ngày.
Thể mãn tính thường gây ra bởi chủng độc lực từ trung bình tới thấp. Những chủng này xuất hiện trong các 6 dịch nội vùng tại Tây Ban Nha, Bồ Dao Nha và Cộng hoa Dominica (Sánchez-V1zcaíno, 2015). Thể quá cấp Thể quá cấp do chủng độc lực cao gây ra với đặc điểm là sốt cao (thân nhiệt từ 41 - 42°C), bỏ ăn, nằm bat động, khó thở, xuất huyết da. Tỷ lệ chết có thé tới 100%.
Heo nhiễm bệnh thường chết đột ngột từ 1 - 3 ngày mà không có bat kỳ triệu chứng nào xảy ra và không có bệnh tích đặc trưng (FAO, 2017). Thể cấp tính Thẻ lâm sang nay do các chủng độc lực cao hoặc chủng độc lực trung bình gây ra. Tỷ lệ chết từ 90 - 100%. Diễn biến lâm sàng được đặc trưng bởi sốt cao (thân nhiệt dao động 40 - 42°C), nằm bat động, bỏ ăn.
Heo có thé chết trong vòng 6 - 9 ngày đối với các chủng độc lực cao hoặc 11 - 15 ngày đối với các chủng có độc lực trung bình (FAO, 2017). Ở thé cấp tính heo bệnh có biểu hiện tím tái ở tai, mdm, các chi, bụng, đuôi và vùng quanh hậu môn. Các vấn đề về hô hấp thường được quan sát thấy khi phù thủng phối nang (Sierra và cs, 1990; Carrasco và cs, 2002). Da xuất hiện các chấm xuất huyết hoặc bam máu tim đen.
Các dấu hiệu lâm sàng khác bao gồm chảy nước mũi, đôi khi có lẫn máu. Say thai có thé xảy ra ở heo nai đang mang thai và tỷ lệ chết có thé lên đến 100% ở các trại bị ảnh hưởng trong vòng 7 ngày bộc phát. Bệnh tích đặc trưng nhất của ASF cấp tính là lách sưng to, nhồi huyết (Konno và cs, 1972). Lách có những phần đỉnh tròn, cấu trúc dễ bở, màu tím đến đen.
Các 10 hạch bạch huyết xuất huyết nhiều và lan rộng, nhất là hạch ở da day-gan và thận xuất huyết ở phan tủy. Vỏ thận và bé thận có những đốm xuất huyết. Đốm xuất huyết ở niêm mạc bang quang, màng tim và màng phối. Thể bán cấp tính Thể bán cấp tính do chủng độc lực trung bình gây ra.
Heo bệnh có các dấu hiệu lâm sàng tương tự như các dấu hiệu được quan sát thấy ở thé cấp tính (Sánchez- Vizcaíno, 2015). Heo bị bệnh có biểu hiện sốt vừa đến cao, tỷ lệ chết từ 30 - 70%. Bệnh tích đặc trưng như tích nước xoang bụng, tích nước mảng bao tim, phù màng túi mật và ống dẫn mật, phù màng bao thận. Lach lúc đầu sưng to xung huyết, dan dan hồi phục lại, những điểm tồn thương, nhôi huyết giảm hoặc có thé biến mat.
Hach lympho chủ yếu là hạch da day-gan, thận, phối, hạch trung thất, hạch mang treo ruột, hạch bẹn xuất huyết và tích dịch dẫn đến tụ huyết đỏ hoặc đen. Thận xuất huyết nặng (đốm xuất huyết và tụ máu) và lan rộng (vùng vỏ, tủy, bé thận) tram trọng hơn so với thể cấp tính, nhưng không có tôn thương nội bào như thê cấp tính (Sánchez-Vizcaíno, 2015). Hạch bạch huyết ở các vùng trên cơ thé xuất hiện các nốt xuất huyết và hình dang “đá hoa cương” (Gomez-Villamandos và cs, 2003). Thể mãn tính Thể mãn tính do nhiễm các chủng độc lực thấp, các dấu hiệu lâm sang bắt đầu từ 14 - 21 ngày sau khi nhiễm, sốt nhẹ, hô hấp nhẹ, viêm da hoại tử và viêm khớp, chậm lớn, hốc hac, suy hô hap va say thai (Sanchez-Botija, 1982).
Thể mãn tính không có bệnh tích ở mạch máu nhưng các bệnh tích do phụ nhiễm gây ra như viêm sợi huyết màng phôi, mang bao tim, viêm dính màng phổi, viêm phổi hoại tử, viêm màng bao khớp sợi huyết, viêm da hoại tử, viêm hạch amidan hoại tử và hoại tử lưỡi thường được ghi nhận (Sánchez-Vizcaíno, 2015). Diễn tiễn bệnh kéo dai từ 2 - 15 tháng, một số con sông sót trở thành vật mang tring (OIE, 2019). Dịch té Nam 1921, virus ASF được mô ta lần đầu tiên tại bốn trang trai ở Kenya (Đông châu Phi) gây ra xuất huyết cấp tính với ty lệ chết lên đến 100% và sau đó bệnh được ghi nhận ở các nước quanh khu vực Sahara và khắp Châu Phi. Năm 1957, ASF lần 11 đầu tiên xuất hiện ở Bồ Đào Nha, đánh dấu sự lây lan đầu tiên ngoài lục dia châu Phi, tuy nhiên ASF được kiểm soát và nhanh chong bị tiêu diét.
Sau đó, ASF đã tiếp tục xâm nhập trở lại Bồ Đào Nha vào năm 1960 và lây sang toàn bộ bán dao Iberia va hiện diện ở đây hơn 30 năm (Arias và cs, 2008). Trong khoảng thời gian này, các đợt bùng phát ASF được báo cáo ở một số quốc gia châu Âu khác, bao gồm Malta (1978), Ý (1967, 1980), Pháp (1964, 1967, 1977), Bi (1985) và Hà Lan (1986). Hầu hết virus ASF đều bị tiêu diệt khỏi các quốc gia này ngoại trừ Sardinia (Y), bệnh vẫn lưu hành kể từ khi xuất hiện vào năm 1982 (Plowright và cs, 1994). Cùng thời điểm đó, ở khu vực Caribe (Nam Mỹ), Cuba là quốc gia đầu tiên trong khu vực được báo cáo nhiễm virus ASF vào năm 1971 (Seifert, 1996) và sau đó bệnh xuất hiện ở một số quốc đảo Caribe bao gồm Cộng hoa Dominica (1978), Haiti (1979) (Wilkinson, 1989) và Brazil (1978).
Cac 6 dich nay sau đó được kiểm soát trong thời gian ngắn và bị tiêu diét vào giữa những năm 1990. Sự lây lan xuyên lục dia thứ hai được báo cáo tai Georgia vào năm 2007, sau đó virus ASF bắt đầu lây lan sang các nước khác ở Đông Âu bao gồm Nga (2007), Ukraine (2012), Belarus (2013), Estonia, Latvia, Litva, Ba Lan (2014), Moldova (2016), Cộng hòa Séc, Romania, Hungary (2017), Bulgary, Moldova, Bi (2018) (Cwynar va cs, 2019). Ở châu A, ca bệnh ASF đầu tiên xảy ra tại Trung Quốc được ghi nhận vào thang 08 năm 2018 (Ge va cs, 2018). Bệnh đã lây lan sang Mông Cổ (tháng 01 năm 2019), Việt Nam (tháng 02 năm 2019), Campuchia (tháng 03 năm 2019), Hồng Kông, Hàn Quốc (tháng 05 năm 2019), Lào (tháng 06 năm 2019), Philippines (tháng 07 năm 2019), Myanmar (tháng 08 năm 2019), Đông Timor (tháng 09 năm 2019), Indonesia (tháng 11 năm 2019), Papua New Guinea (tháng 03 năm 2020) và gan đây là An Độ (tháng 05 năm 2020), Malaysia, Bhutan, Thái Lan và hai quốc gia ở châu Đại Dương là Timor-Leste, Papua New Guinea (FAO, 2022).