CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quát về bệnh LMLM 1. Đặc điểm chung về bệnh LMLM Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của động vật móng guốc chẵn như trâu, bò, lợn, dê, hươu, nai,. Bệnh do virus thuộc họ Picornaviridae gây ra virus hướng thượng bì, có khả năng lây lan nhanh, ở phạm vi rộng, không chỉ do tiếp xúc giữa động vật khỏe với động vật mắc bệnh mà còn qua nhiều đường khác nhau, kể cả qua không khí.
Vì vậy, bệnh thường phát thành dịch và gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi, ảnh hưởng đến kinh tế xã hội, môi trường của nhiều nước trên thế giới. Lịch sử bệnh Năm 1544 ổ dịch đầu tiên đã được ghi nhận tại Bắc Italia, Pháp, Anh và sau đó lây lan sang các nước khác ở châu Âu. Tuy nhiên phải tới những năm đầu thế kỷ 19, người ta mới công nhận tính truyền nhiễm mạnh mẽ của nó [9]. Cuối thế kỷ 19, trong vòng vài tháng bệnh đã lây lan nhanh chóng từ Nga sang các nước Tây Âu như Đức, Hà Lan, Pháp, Bỉ, Thuỵ Sĩ, Áo, Italia, Đông Âu như Hungary và bán đảo Scandinavo như Đan Mạch làm chục triệu trâu bò mắc bệnh, bệnh kéo dài hàng chục năm không tắt.
Trong đợt dịch này chỉ trừ khu vực Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Úc, New Zealand, Nhật Bản thông báo là không có dịch [31]. Trong các năm từ 1870 đến 1929, tại Mỹ đã xuất hiện 9 ổ dịch LMLM mà chủ yếu là do nhập khẩu trâu bò mắc bệnh từ các nước khác. Bệnh xuất hiện ở nhiều bang của Mỹ như New England, Proland, Maine (1880), Boston, New England (1884) [31]. Tại khu vực Bắc Mỹ, bệnh LMLM xảy ra ở Canada năm 1870 sau đó lần cuối cùng xuất hiện vào năm 1951- 1952, tại Mexico vào năm 1946- 1954.
Các nước Trung Mỹ và vùng Caribe như Panama không có bệnh này. Trong những năm từ 1890- 1900, Loeffer và Fosch đã xác định được nguyên nhân gây bệnh LMLM là một virus qua lọc. Việc nghiên cứu bệnh có những thuận lợi hơn khi Waldman và Pape chứng minh được tính cảm thụ của chuột lang với virus LMLM. Những năm đầu thập niên 1920, có rất nhiều khám phá mới về virus LMLM: năm 1922 Vale’e và Carre’ tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống virus (type O và Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 A), năm 1926 Waldman và Trautwein tìm ra virus type C, cùng năm Lawrence phát hiện ra type SAT1, SAT2, SAT3 từ các bệnh phẩm từ Châu Phi gửi đến phòng thí nghiệm Pirbright, type Asia 1 từ các bệnh phẩm ở Ấn Độ, Miến Điện, Hongkong [35].
Từ đầu thế kỷ XX tình hình bệnh LMLM như sau: Châu Mỹ: bệnh xuất hiện tại Mỹ trong các năm 1902, 1908, 1914, 1929 và 1932, tại Mexico năm 1946, tại Canada năm 1952, tại nhiều nước Nam Mỹ như Argentina năm 1953 [65]. Châu Phi: xuất hiện tại Bắc và Nam Phi. Châu Âu: năm 1951 bệnh xuất hiện tại Tây Đức sau đó lan sang các nước khác như Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Pháp, Anh, Italia, Áo, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Na Uy, Ba Lan kéo dài cho đến những năm 1953- 1954 [63]. Châu Á: bệnh phát ra tại Ấn Độ năm 1929, 1952, tại Myanma năm 1948, Thái Lan, Indonesia, Campuchia năm 1952, Trung Quốc năm 1951 [19].
Những năm từ 1926 - 1936 nhiều quốc gia đã rất nỗ lực nghiên cứu vaccine, thành lập các chương trình phòng chống bệnh LMLM. Trong giai đoạn 1937- 1939 Waldman và Kobe thành công trong việc chế tạo vaccine vô hoạt bằng formol hấp thụ keo phèn đã mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc phòng chống bệnh LMLM trên toàn thế giới. Năm 1947, một loại vaccine được nuôi cấy trên tế bào thượng bì lưỡi bò đã nhanh chóng được sử dụng rộng rãi tại các quốc gia công nghiệp như Hà Lan, Pháp, Đức. Kỹ thuật chế vaccine cũng được nâng cao nhờ nhiều phương pháp nuôi cấy virus mới [26].
Nhiều viện nghiên cứu LMLM đã thành lập trên toàn cầu: tại Pháp là viện Alfort (thành lập năm 1901), viện IFFA Merieux (1947) đặt tại Lyon, Anh- Pirbright (1924), Mỹ- Laboratory de Plum, Brazin- Sao Paolo, Thái Lan- Nong Sarai [47]. Phân bố serotype virus LMLM trên thế giới Nhìn chung, sự phân bố của các type virus LMLM thường có tính đặc trưng vùng lãnh thổ: Virus LMLM type O, A, C có mặt trên khắp thế giới; type Asia 1 có nguồn gốc châu Á [41]. Các type SAT 1, SAT 2, SAT 3 chỉ có ở châu Phi, hiếm khi thoát ra ngoài (ngoại trừ trường hợp dịch do SAT1 ở Trung Đông năm 1962) [33]. Diễn biến của type O cũng trở nên phức tạp trong những năm gần đây: Type O có mặt ở nhiều quốc gia ở khắp 4 châu lục: châu Phi (Sudan, Mali và Togo), châu Á (Iran, Pakistan, Arập Xê Út, Nepan, Bhutan, Philippin, Việt Nam, Myanmar và Thái Lan), Nam Mỹ (Brazil, Southern Cone, Ecuador và Venezuela)… [20].
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Hình 1. Phân bố serotype virus LMLM trên thế giới [39] Virus LMLM type O xuất hiện nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Á: Malaysia, Lào, Việt Nam, Philippin, Hồng Kông, Myanmar và Thái Lan. Ổ dịch do virus LMLM type Asia1 cũng được báo cáo ở Iran, Afganistan, Georgia, Azerbezan, Mông Cổ. Chưa có những hiểu biết rõ ràng về dịch tễ học type C virus LMLM.
Virus LMLM type C xảy ra ít nhất so với các type khác trong khu vực trên thế giới, virus LMLM type này là nguyên nhân gây 8% các vụ dịch xảy ra vào năm 1977-1990 và 1,6% các vụ dịch trong năm 1991-1994 [53] [56]. Từ năm 1995 có ít nhất là 10 vụ dịch nghi ngờ do virus LMLM type C gây ra trên thế giới; châu Á (1967-2004) tiêu biểu ở Angola, 1973 châu Âu (1953-1989), Bắc Mỹ (1944 và 1996, 1971-1993), Trung Đông (1967-1970) [58]. Tình hình dịch bệnh LMLM tại Đông Nam Á Theo tài liệu tổng kết về LMLM của OIE năm 2002 thì trong số 10 nước Đông Nam Á, từ năm 1996 -2001 virus type O đã gây ra các ổ dịch LMLM. LMLM là dịch bệnh địa phương phổ biến tại 7 quốc gia (Campuchia, Lào, Malaysia, Myanmar, Phillipines, Thái Lan, Việt Nam) và 3 quốc gia không xuất hiện bệnh (Brunei, Indonesia và Singapore).
Một phần của Phillipines được tổ chức Dịch tễ thế giới công nhận là không có bệnh LMLM, cũng tương tự như vậy một phần phía đông của Malaysia giáp với Kalimantan thuộc lãnh thổ Indonesia, từ lâu đã được công nhận là Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 không có bệnh. Nói chung, O, A, Asia 1 là ba type huyết thanh chủ yếu gây bệnh trong vùng Đông Nam Á [57]. Các ổ dịch LMLM tại Châu Á năm 2000[39] Trong toàn vùng Đông Nam Á nói chung đã ghi nhận được 3 biến chủng khác nhau của type O: topotype Đông Nam Á (South - East Asian - SEA), topotype đã thích ứng trên lợn còn được gọi là topotype Cathay (the pig- adapted or Cathay topotype) và topotype liên Á (pan-Asian topotype). Trước năm 1999, một nhóm virus thuộc topotype SEA đã xuất hiện tại vùng phía Đông của Đông Nam Á và một nhóm khác tại vùng phía Tây.
Tuy nhiên, trong năm 1999, biến chủng liên Á pan-Asian đã du nhập vào trong vùng và trở thành phổ biến. Topotype Cathay đã được báo cáo là xuất hiện tại Việt Nam trong năm 1997 và cũng là virus duy nhất gần đây gây ra dịch địa phương tại Phillipines [44]. Type huyết thanh Asia 1 chưa từng xuất hiện tại Phillipines, song đã xuất hiện tại tất cả các quốc gia trong vùng Đông Nam Á (trừ Việt Nam trong những năm 1996 và 2001). Virus type A đã không xuất hiện trong sáu năm qua tại phía Đông của sông Mekong và xuất hiện rất hạn chế tại Thái Lan, đôi khi lan sang Malaysia Type C, từng gây bệnh địa phương nhưng đã không thấy xuất hiện tại Phillipines kể từ năm 1995 [41].
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Bảng 1. Serotype virus LMLM trong khu vực Đông Nam Á từ 1996 - 2001 Nước Số ổ dịch 1996 1997 1998 1999 2000 2001 Serotype O O, Asia1 O O O O Campuchia tổng 17 9 2 28 32 3 serotype O Asia 1 O, Asia1 O, Asia1 O O, Asia1 Lào tổng 7 4 8 37 140 64 O, A, serotype O, A, Asia1 A O,Asia1 O O Malaysia Asia1 tổng 10 39 10 10 3 14 O, A, serotype O, Asia1 O, Asia1 O,Asia1 Asia1 O, Asia1 O, Asia1 Myanma tổng 15 10 10 24 11 28 serotype O O O O O O Phillipines tổng 388 421 269 340 328 221 O, A, O, A, serotype O, Asia1 O, A, Asia1 Asia1 O, A O, A Asia1 Thái Lan tổng 21 15 32 48 103 160 Như vậy, hiện nay có tối thiểu hai topotype khác biệt của type huyết thanh O là Cathay và pan-Asian tồn tại tại các quốc gia nằm sâu trong nội địa vùng Đông Nam Á. Cathay topotype đang xuất hiện tại Phillipines song không có chủng nào thuộc type O đã từng thấy trên các đại gia súc nhai lại trong 10 năm qua. Tuy nhiên, trong số các quốc gia ở sâu trong nội địa thì chỉ duy nhất có topotype Cathay đã được định dạng tại Việt Nam cho đến nay.
Còn topotype liên Á pan-Asian đang là virus type O tồn tại ở các nước sâu trong nội địa, thay thế cho topotype SEA trong các quần thể gia súc nhai lại. Ngoài ra còn có một topotype SEA khác của type huyết thanh A có quan hệ lịch sử với chủng A22 có nguồn gốc từ Trung Đông [41]. Virus type A đã không xuất hiện tại phần phía Đông sông Mekong trong nhiều năm và chúng đã không xuất hiện ở các nước thuộc bán đảo Đông Dương (Lào, Campuchia và Việt Nam). Virus type A đã không phát hiện thấy tại Phillipines trong Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 9 10 năm qua.
Gần đây Asia 1 không xuất hiện tại Đông Dương và cũng chưa từng thấy tại Phillipines. Vì vậy, việc phân bố và di chuyển của virus LMLM đã phản ánh sự dịch chuyển của gia súc, được thúc đẩy bởi lợi ích kinh tế, trên toàn vùng Đông Nam Á [43]. Chi tiết về hiện trạng bệnh LMLM tại các nước trong vùng và số ổ dịch, chi tiết type huyết thanh được trình bày tại bảng 1. Tình hình dịch bệnh lở mồm long móng tại Việt Nam Bệnh LMLM được phát hiện ở nước ta từ gần một thế kỷ nay.
Sau đó bệnh lan ra khắp cả ba vùng Bắc, Trung, Nam, bệnh xảy ra ở cả miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Ở Việt Nam, dịch LMLM được phát hiện lần đầu tiên năm 1898 ở Nha Trang.