Tổng quan luận án

Bệnh tiêu chảy thành dịch do virus (Porcine Epidemic Diarrhea - PED) là bệnh truyền nhiễm cấp tính đường tiêu hóa nguy hiểm trên đàn lợn, gây tỷ lệ tử vong cao ở lợn con theo mẹ (có thể lên tới 100% ở đàn lợn dưới 7 ngày tuổi). Tại tỉnh Hà Giang, chăn nuôi lợn Mán và lợn Rừng lai (các giống lợn địa phương và đặc sản bản địa) đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng gia trại, trang trại hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các ổ dịch tiêu chảy cấp tính gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho các hộ chăn nuôi tại địa phương.

Trước thời điểm thực hiện đề tài, các nghiên cứu về PED tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các giống lợn ngoại nuôi công nghiệp ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Vấn đề dịch tễ học, đặc điểm bệnh lý lâm sàng, biến đổi đại thể, tổn thương vi thể cũng như các chỉ số huyết học cơ bản khi nhiễm PEDV trên các đối tượng vật nuôi đặc thù như lợn Mán và lợn Rừng tại các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Hà Giang nói riêng chưa được nghiên cứu hệ thống và chưa có công bố chính thức.

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thơm thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn và học thuật này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Xác định một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của lợn Mán và lợn Rừng mắc PED, bao gồm dấu hiệu lâm sàng, biến đổi bệnh lý đại thể, vi thể và các chỉ tiêu huyết học khi lợn mắc bệnh, làm căn cứ cho công tác chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán phân biệt với các bệnh tiêu chảy do mầm bệnh khác.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định tỷ lệ lợn Mán, lợn Rừng mắc tiêu chảy thành dịch (PED) trong một số trang trại nuôi lợn Mán và lợn Rừng thuộc tỉnh Hà Giang.
    2. Xác định rõ các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích (đại thể và vi thể) chủ yếu của bệnh PED.
    3. Xác định sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học ở lợn mắc PED.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn Mán và lợn Rừng nuôi tại các trang trại, gia trại mắc hội chứng tiêu chảy và mắc bệnh tiêu chảy cấp (PED), trọng tâm khảo sát là lợn con theo mẹ từ 1 đến 9 tuần tuổi.
  • Phạm vi không gian: Điều tra dịch tễ và thu thập mẫu thực địa tại 3 huyện: Vị Xuyên, Bắc Quang và Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Hà Giang. Phân tích xét nghiệm chuyên sâu, làm tiêu bản mô bệnh học và nhuộm hóa mô miễn dịch được thực hiện tại Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học và Phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh lý Thú y, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và mẫu bệnh phẩm được thu thập từ tháng 12/2014 đến tháng 8/2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn và đặc điểm của các đối tượng nuôi bản địa:

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Lịch sử và dịch tễ học: PED được ghi nhận lần đầu tiên tại Anh vào năm 1971 (dưới tên gọi dịch tiêu chảy do virus - EVD) và sau đó được xác định căn nguyên do Coronavirus tại châu Âu vào năm 1976 (Pensaert et al.). Giai đoạn 2005 - 2006, bệnh bùng phát tại Ý (Boniotti et al., 2016) và tái bùng phát tại Đức (Hanke et al., 2015). Tại châu Á, PED xuất hiện tại Trung Quốc từ năm 1973 và bùng phát nghiêm trọng giai đoạn 2010 - 2011 với tỷ lệ chết 90 - 100% trên lợn dưới 7 ngày tuổi (Chen et al., 2014). Tại Nhật Bản ghi nhận các đợt dịch năm 1993, 1996 (Sueyoshi et al., 1995); Hàn Quốc năm 1992 (Song and Park, 2012); Thái Lan năm 2007 - 2008 tại tỉnh Nakornpathom (Puranaveja et al., 2009).
  • Căn nguyên và sinh học phân tử: PEDV thuộc chi Alphacoronavirus, họ Coronaviridae, bộ Nidovirales (ICTV, 2011). Cấu trúc bộ gen là phân tử RNA sợi đơn dương (~28 kb) mã hóa các protein cấu trúc S (Spike), E (Envelope), M (Membrane), N (Nucleocapsid) và các protein không cấu trúc qua các gen ORF1a, ORF1b, ORF3 (Duarte et al., 1994; Duarte and Laude, 1994). Về phân loại di truyền, các công trình của Park et al. (2007, 2012) và Lee et al. (2015) chia PEDV thành các nhóm G1 (G1a, G1b) và G2 (G2a, G2b).
  • Cơ chế bệnh sinh và mô bệnh học: Các nghiên cứu của Debouck et al. (1981), Pospischil et al. (1981, 2002) chỉ ra virus nhân lên trong tế bào biểu mô lông nhung ruột non, làm cùn và teo lông nhung ruột non, giảm tỷ lệ chiều cao lông nhung/tuyến ruột từ 7:1 xuống 3:1, gây mất men bề mặt biểu mô và dẫn đến hội chứng kém hấp thu, mất nước cấp tính.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Dịch tễ và lâm sàng tại Việt Nam: PEDV được xác nhận xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2008. Tại miền Nam, Nguyễn Tất Toàn và Đỗ Tiến Duy (2012) ghi nhận tỷ lệ nhiễm bệnh (93,94%) và tỷ lệ tử vong (81,67%) rất cao trên lợn con theo mẹ tại Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại miền Bắc, Nguyễn Văn Điệp và cs. (2013, 2014) khảo sát 26 trại tại 6 tỉnh phía Bắc, ghi nhận bệnh tập trung vào mùa lạnh (tháng 11 đến tháng 4), gây chết 68,6% lợn con theo mẹ.
  • Nghiên cứu về lợn Mán và lợn Rừng: Các công trình của Nguyễn Thiện (2006), Võ Văn Sự (2005, 2008, 2009, 2010), Tăng Xuân Lưu và cs. (2010), Đặng Tình (2007), Lê Đình Phùng và cs. (2011) mô tả các đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng, sinh sản và tập tính chăn thả tự nhiên của giống lợn Mán và lợn Rừng lai tại các vùng sinh thái.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Dù đã có nhiều nghiên cứu về PED trên lợn ngoại nuôi thâm canh, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện tình hình nhiễm PEDV, bệnh lý lâm sàng, bệnh tích giải phẫu vi thể, phân bố kháng nguyên virus trong các cơ quan bằng kỹ thuật hóa mô miễn dịch (IHC) và các biến đổi huyết học chi tiết trên lợn Mán và lợn Rừng nuôi trang trại tại vùng núi cao phía Bắc như tỉnh Hà Giang.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tiếp cận dựa trên lý thuyết bệnh lý học thú y thực nghiệm và dịch tễ học mô tả:

  1. Lý thuyết bệnh sinh Coronavirus đường ruột: PEDV xâm nhập qua đường phân - miệng, nhân lên có tính hướng mô chọn lọc tại tế bào biểu mô nhung mao ruột non, phá hủy liên kết vòng bịt và làm teo nhung mao, gây mất hoạt tính enzym màng dẫn đến tiêu chảy thẩm thấu, mất nước, rối loạn điện giải và nhiễm độc tuần hoàn.
  2. Khung phân tích bệnh lý tích hợp: Kết hợp chẩn đoán nhanh tại thực địa (Antigen test kit), chẩn đoán phân tử (RT-PCR), giải phẫu bệnh đại thể (TCVN), mô bệnh học vi thể (nhuộm HE), định vị mô miễn dịch học (IHC) và phân tích chỉ số máu tự động.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp điều tra dịch tễ học: Sử dụng phương pháp dịch tễ học mô tả, phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại, phát phiếu điều tra dịch tễ chuẩn hóa và hồi cứu sổ sách ghi chép chăn nuôi thú y tại các cơ sở chăn nuôi thuộc 3 huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì giai đoạn 2014 - 2016.
  • Phương pháp chẩn đoán nhanh kháng nguyên: Sử dụng bộ kít Anigen Rapid PED Ag Test Kit (dựa trên nguyên lý sắc ký miễn dịch phát hiện kháng nguyên protein S) để sàng lọc nhanh các mẫu phân lợn tiêu chảy tại chuồng nuôi.
  • Phương pháp sinh học phân tử (RT-PCR): Tách chiết RNA virus từ phân và mô ruột lợn ốm; sử dụng phản ứng phiên mã ngược và khuếch đại gen (RT-PCR) với cặp mồi đặc hiệu dựa trên trình tự gen M để xác định sự có mặt của PEDV.
  • Phương pháp mổ khám bệnh lý: Mổ khám xác lợn chết do tiêu chảy theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8402:2010 để ghi nhận và đánh giá có hệ thống các tổn thương đại thể ở tất cả các cơ quan phủ tạng.
  • Phương pháp mô bệnh học vi thể: Lấy mẫu mô tươi (kích thước ~1 cm³), cố định trong dung dịch formol đệm trung tính 10%, đúc khối paraffin, cắt tiêu bản mỏng 4 - 5 $\mu$m và nhuộm Hematoxylin - Eosin (H&E) truyền thống.
  • Phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch (Immunohistochemistry - IHC): Áp dụng quy trình kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch theo Boenisch (2001) với kháng thể đặc hiệu kháng PEDV để xác định sự hiện diện và định vị mức độ cư trú của virus trong các tổ chức mô (ruột non, ruột già, dạ dày, gan, phổi, thận, lách, hạch màng treo ruột).
  • Phương pháp phân tích huyết học: Lấy máu có chất chống đông EDTA từ tĩnh mạch cổ lợn con 2 tuần tuổi (nhóm bệnh có RT-PCR dương tính và nhóm đối chứng khỏe mạnh), phân tích các chỉ số hồng cầu, bạch cầu trên máy phân tích huyết học tự động Cell-Dyn 3700. Định lượng protein huyết thanh và các phân đoạn protein (Albumin, Globulin $\alpha_1$, $\alpha_2$, $\beta$, $\gamma$) bằng phương pháp điện di sinh hóa.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thô được tổng hợp trên Microsoft Excel; phân tích thống kê mô tả, tính giá trị trung bình, sai số chuẩn và kiểm định sai khác bằng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) hoặc Student's t-test trên phần mềm Minitab 16. Mức sai khác có ý nghĩa thống kê được xác định khi $P < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Tính cấp thiết của đề tài

Nội dung phần này trình bày bối cảnh phát triển chăn nuôi lợn Mán và lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang, thực trạng phát sinh dịch bệnh đường tiêu hóa cấp tính trên đàn lợn con, xác lập tính cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cùng những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết 7 nội dung lớn:

  1. Thực trạng phát triển đàn lợn tại tỉnh Hà Giang giai đoạn 2014 - 2016 (tổng đàn, biến động cơ cấu giữa lợn ngoại lai và lợn bản địa).
  2. Đặc điểm sinh học, ngoại hình, sinh trưởng, tập tính và khả năng sinh sản của giống lợn Mán và giống lợn Rừng lai.
  3. Cơ sở lý thuyết về hội chứng tiêu chảy ở gia súc (nguyên nhân ngoại cảnh, chăm sóc nuôi dưỡng, vi khuẩn, virus, nấm mốc, ký sinh trùng).
  4. Cơ chế bệnh sinh, bệnh lý lâm sàng và hậu quả rối loạn nước - điện giải của viêm ruột tiêu chảy.
  5. Lịch sử và tình hình nghiên cứu PED trên thế giới và tại các vùng miền của Việt Nam.
  6. Đặc điểm sinh học phân tử của PEDV (hình thái, cấu trúc gen S, M, N, E, ORF3, đặc tính nuôi cấy trên dòng tế bào Vero có Trypsin, sức đề kháng, dịch tễ học phân tử phân nhóm di truyền).
  7. Các phương pháp chẩn đoán phát hiện virus (ELISA, RT-PCR, RT-LAMP, IHC, Test kit) và nguyên tắc chẩn đoán phân biệt với TGE, Rota, Deltacoronavirus.

Phần 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết danh mục trang thiết bị (máy Celldyn 3700, máy luân nhiệt PCR, hệ thống làm tiêu bản mô học), địa điểm và quy mô mẫu nghiên cứu; mô tả chi tiết 8 bước kỹ thuật: điều tra dịch tễ học, chẩn đoán bằng kít PED-Ag, quy trình RT-PCR (trình tự mồi gen M, chu trình nhiệt), quy trình mổ khám theo TCVN 8402:2010, quy trình làm tiêu bản paraffin nhuộm HE, phương pháp hóa mô miễn dịch theo Boenisch (2001), xét nghiệm huyết học và các công thức toán - thống kê trên phần mềm Minitab 16.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

1. Khảo sát tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết do tiêu chảy trên lợn Mán và lợn Rừng tại Hà Giang

Điều tra trên diện rộng tại các cơ sở chăn nuôi thuộc 3 huyện (Vị Xuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì) giai đoạn 2014 - 2016 cho thấy hội chứng tiêu chảy xảy ra phổ biến trên cả hai giống:

  • Tỷ lệ mắc tiêu chảy trung bình: Lợn Mán là 30,23 ± 0,82%; Lợn Rừng là 29,92 ± 0,68%.
  • Tỷ lệ chết/mắc ở lợn Mán cao hơn so với lợn Rừng.
  • Phân bố theo tuần tuổi: Tỷ lệ mắc và chết tập trung cao nhất ở lợn con theo mẹ từ 1 - 4 tuần tuổi, đặc biệt nghiêm trọng ở giai đoạn 1 - 2 tuần tuổi, sau đó giảm dần khi lợn đạt trên 5 tuần tuổi.
Chỉ tiêu theo dõi Lợn Mán Lợn Rừng
Tỷ lệ mắc tiêu chảy trung bình (%) 30,23 ± 0,82 29,92 ± 0,68
Tỷ lệ dương tính PED bằng Kít PED-Ag test (%) 77,8 48,3
Tỷ lệ dương tính PED bằng kỹ thuật RT-PCR (%) 72,7 (27/34 mẫu) 74,3 (26/35 mẫu)

2. Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm virus PED (PEDV)

  • Bằng kít thử nhanh (Anigen Rapid PED-Ag test): Tỷ lệ mẫu dương tính ở các đàn tiêu chảy tại các huyện nghiên cứu đạt mức cao (lợn Mán đạt 77,8%; lợn Rừng đạt 48,3%).
  • Bằng kỹ thuật RT-PCR: Xét nghiệm khẳng định trên các mẫu bệnh phẩm tiêu chảy cho thấy PEDV hiện diện tại tất cả các địa bàn khảo sát. Tỷ lệ dương tính ở lợn Mán là 72,7% (27/34 mẫu) và ở lợn Rừng là 74,3% (26/35 mẫu).

3. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể

  • Triệu chứng lâm sàng chủ yếu (lợn 1 - 4 tuần tuổi): Triệu chứng tiêu chảy phân lỏng toàn nước, màu vàng, mùi tanh chiếm tỷ lệ 100%. Các dấu hiệu kèm theo gồm: ủ rũ, mệt mỏi, lười bú/bỏ ăn, nôn mửa ra sữa chưa tiêu, sút cân nhanh, mắt trũng sâu, thân nhiệt hạ, thở nhanh, niêm mạc nhợt nhạt và lợn con có tập tính nằm co cụm đè lên bụng mẹ.
  • Bệnh tích đại thể: Tổn thương đặc trưng tập trung ở đường tiêu hóa. Dạ dày căng phồng chứa nhiều sữa vón cục không tiêu (chiếm tỷ lệ cao). Thành ruột non (tá tràng, không tràng, hồi tràng) mỏng dính, trong suốt, ruột căng phồng chứa đầy dịch màu vàng và bọt khí (tỷ lệ quan sát thấy 100%). Tĩnh mạch màng treo ruột sung huyết, hạch màng treo ruột sưng to, ứ huyết hoặc xuất huyết nhẹ. Các cơ quan nội tạng khác (phổi, gan, thận, lách) có hiện tượng sung huyết, ứ máu màu đỏ sẫm do hậu quả rối loạn tuần hoàn sau mất nước cấp.
Bệnh tích đại thể chủ yếu Tỷ lệ bắt gặp (%)
Thành ruột non mỏng, giãn rộng, chứa đầy dịch vàng và bọt khí 100
Dạ dày căng phồng, chứa sữa đông vón không tiêu Cao (80 - 95)
Hạch màng treo ruột sưng, sung huyết, xuất huyết Rõ rệt
Sung huyết, ứ huyết nội tạng (gan, phổi, thận) do mất nước 80 - 100

4. Biến đổi mô bệnh học vi thể và định vị virus bằng hóa mô miễn dịch (IHC)

  • Tổn thương vi thể: Teo cùn, đứt gãy và tiêu biến nghiêm trọng hệ thống lông nhung ruột non (rõ nét nhất ở không tràng và hồi tràng). Tế bào biểu mô hấp thu bị thoái hóa không bào, hoại tử và bong tróc hàng loạt vào lòng ruột. Tuyến Lieberkühn bị biến dạng, đứt đoạn; thâm nhiễm tế bào viêm đơn nhân ở lớp đệm và tầng hạ niêm mạc; các mảng Peyer tăng sinh. Ở gan quan sát thấy thoái hóa hạt, thoái hóa mỡ tế bào gan, sung huyết xoang mạch; ở phổi có hiện tượng viêm kẽ, sung huyết mạch quản và thâm nhiễm dịch viêm trong phế nang.
  • Kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC): Kháng nguyên PEDV bắt màu đặc hiệu trong tế bào chất của tế bào biểu mô ruột và các mô liên quan. Tỷ lệ dương tính theo cơ quan:
    • Không tràng: 100%
    • Hồi tràng: 100%
    • Hạch màng treo ruột: 100%
    • Tá tràng: 90 - 100%
    • Kết tràng, dạ dày, gan, phổi, thận: Dương tính từ 20% đến 60% số mẫu.
    • Luận án ghi nhận không có sự khác biệt rõ rệt về vị trí phân bố và mức độ xâm nhiễm của PEDV trong các cơ quan giữa lợn Mán và lợn Rừng.

5. Biến đổi các chỉ tiêu huyết học và sinh hóa máu

Khảo sát trên lợn con 2 tuần tuổi mắc PED so với nhóm đối chứng khỏe mạnh:

  • Chỉ số hồng cầu: Số lượng hồng cầu ở lợn mắc bệnh giảm rõ rệt (lợn Mán bệnh còn 4,45 ± 0,27 triệu/mm³; lợn Rừng bệnh còn 4,66 ± 0,55 triệu/mm³). Nồng độ Hemoglobin và Hematocrit có xu hướng biến động theo mức độ mất nước và tổn thương dinh dưỡng.
  • Công thức bạch cầu: Tỷ lệ bạch cầu trung tính tăng cao có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$): lợn Mán bệnh đạt 60,45 ± 4,02% (đối chứng là 38,50 ± 2,27%); lợn Rừng bệnh đạt 57,67 ± 2,69% (đối chứng là 40,67 ± 2,45%). Tỷ lệ bạch cầu ái toan và bạch cầu ái kiềm tăng nhẹ ($P < 0,05$).
  • Protein huyết thanh: Tỷ số Albumin/Globulin (A/G) ở lợn bệnh giảm xuống còn 0,62 (lợn Mán) và 0,64 (lợn Rừng). Tỷ lệ các phân đoạn $\alpha_1$-globulin, $\alpha_2$-globulin, $\beta$-globulin ở lợn bệnh đều tăng so với đối chứng, tuy nhiên sự biến đổi này chưa đạt mức ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$).
Chỉ tiêu huyết học (lợn 2 tuần tuổi) Lợn Mán bệnh Lợn Mán đối chứng Lợn Rừng bệnh Lợn Rừng đối chứng Mức ý nghĩa ($P$)
Số lượng hồng cầu ($10^6/\text{mm}^3$) 4,45 ± 0,27 Bình thường 4,66 ± 0,55 Bình thường -
Tỷ lệ bạch cầu trung tính (%) 60,45 ± 4,02 38,50 ± 2,27 57,67 ± 2,69 40,67 ± 2,45 $P < 0,05$
Tỷ lệ bạch cầu ái toan (%) 5,70 ± 1,09 5,05 ± 1,04 5,48 ± 0,97 5,20 ± 0,95 $P < 0,05$
Tỷ lệ bạch cầu ái kiềm (%) 0,75 ± 0,49 0,65 ± 0,58 0,65 ± 0,53 0,65 ± 0,58 $P < 0,05$
Tỷ số A/G 0,62 - 0,64 - $P > 0,05$

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ 5 nhóm kết luận khoa học chính của luận án và đưa ra các khuyến nghị thực tiễn về công tác phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh PED tại địa phương.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và khoa học

  1. Xác lập bộ dữ liệu thực nghiệm hệ thống đầu tiên về đặc điểm bệnh lý học (lâm sàng, giải phẫu đại thể, mô bệnh học vi thể) của bệnh PED trên hai đối tượng lợn đặc sản bản địa là lợn Mán và lợn Rừng tại vùng núi phía Bắc Việt Nam (tỉnh Hà Giang).
  2. Ứng dụng thành công phương pháp hóa mô miễn dịch (IHC) để chứng minh và định vị sự phân bố kháng nguyên virus PED trong các cơ quan nội tạng của lợn Rừng mắc bệnh; chỉ ra tính hướng mô tập trung tuyệt đối (100%) tại không tràng, hồi tràng, hạch màng treo ruột và khả năng xâm nhiễm thứ cấp (20 - 60%) tại các cơ quan ngoài đường tiêu hóa (gan, phổi, thận).
  3. Cung cấp các thông số định lượng về sự biến đổi huyết học (giảm hồng cầu, tăng bạch cầu trung tính, biến động protein huyết thanh và giảm tỷ số A/G) trên lợn Mán và lợn Rừng mắc PED trong điều kiện chăn nuôi gia trại, trang trại.

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Khẳng định virus PED lưu hành thực tế và là nguyên nhân chính gây tiêu chảy chết cấp tính ở đàn lợn Mán và lợn Rừng con theo mẹ tại Hà Giang.
  • Đưa ra cơ sở khoa học để bác sĩ thú y và người chăn nuôi nhận diện sớm triệu chứng lâm sàng (tiêu chảy phân vàng 100%, nôn mửa, nằm đè lên bụng mẹ), bệnh tích đặc trưng (ruột non mỏng trong suốt chứa dịch bọt, dạ dày chứa sữa đông) nhằm thực hiện chẩn đoán phân biệt với các bệnh tiêu chảy do vi khuẩn hoặc TGE.
  • Kiến nghị thực tiễn: Áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp an toàn sinh học, sử dụng kít chẩn đoán nhanh PED-Ag test tại thực địa để phát hiện sớm ổ dịch, không sử dụng kháng sinh điều trị nguyên phát mà tập trung bù nước, cân bằng điện giải và giữ ấm cho lợn con; tiến hành tiêm phòng vắc-xin cho đàn nái sinh sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn địa bàn nghiên cứu tại 3 huyện đại diện (Vị Xuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì) của tỉnh Hà Giang; đối tượng khảo sát huyết học và giải phẫu bệnh tập trung chủ yếu vào lợn con theo mẹ từ 1 đến 4 tuần tuổi; nghiên cứu chưa thực hiện giải trình tự toàn bộ hệ gen hoặc giải trình tự gen Spike (S) để phân tích sâu phả hệ di truyền của các chủng virus PED phân lập được tại địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục thu thập mẫu và giải trình tự gen mã hóa protein S và gen ORF3 nhằm xác định chính xác phân nhóm di truyền (G1 hay G2) của các chủng PEDV lưu hành trên đàn lợn bản địa tại Hà Giang.
    • Nghiên cứu khảo sát hiệu lực bảo hộ của các loại vắc-xin PED hiện hành trên đàn lợn Mán và lợn Rừng sinh sản nuôi trong điều kiện khí hậu vùng cao.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Thú y: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo về bệnh lý học thực nghiệm, cung cấp quy trình kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC) chuẩn mực theo Boenisch (2001) và các tiêu chí giải phẫu vi thể đường tiêu hóa ở động vật hoang dã/bản địa thuần hóa.
  • Đối với cán bộ quản lý chăn nuôi - thú y và kỹ thuật viên cơ sở: Phần triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể và dữ liệu điều tra dịch tễ học cung cấp hướng dẫn thực hành trực tiếp giúp nhận biết, phân loại ổ dịch tiêu chảy cấp và hoạch định chiến lược kiểm soát dịch bệnh gia súc tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Đối với người chăn nuôi trang trại lợn Mán, lợn Rừng: Cung cấp hiểu biết dịch tễ để chủ động cách ly đàn mới nhập, kiểm soát nguồn nước và cải thiện chuồng trại giữ ấm cho lợn sơ sinh trong mùa lạnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc và tỷ lệ dương tính với PEDV ở lợn Mán và lợn Rừng tại Hà Giang được xác định là bao nhiêu?

Theo kết quả điều tra của luận án, tỷ lệ mắc tiêu chảy chung ở lợn Mán là 30,23 ± 0,82% và ở lợn Rừng là 29,92 ± 0,68%. Khi kiểm tra các mẫu tiêu chảy bằng kỹ thuật RT-PCR, tỷ lệ dương tính với PEDV đạt 72,7% (27/34 mẫu) ở lợn Mán và 74,3% (26/35 mẫu) ở lợn Rừng. Bằng kít thử nhanh PED-Ag test, tỷ lệ dương tính ghi nhận lần lượt là 77,8% và 48,3%.

2. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể đặc trưng nhất của bệnh PED trên hai đối tượng này là gì?

Triệu chứng lâm sàng xuất hiện ở 100% lợn bệnh là tiêu chảy dữ dội, phân lỏng như nước màu vàng tanh, kèm nôn mửa ra sữa chưa tiêu, lười bú, sút cân nhanh, thân nhiệt hạ và thích nằm tụm trên bụng mẹ. Bệnh tích đại thể điển hình 100% là thành ruột non mỏng dính trong suốt, căng phồng chứa đầy dịch vàng có bọt khí; dạ dày căng to chứa sữa vón đông không tiêu; hạch màng treo ruột và các tạng nội tạng sung huyết sẫm màu do mất nước.

3. Kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC) cho thấy PEDV phân bố ở những cơ quan nào?

Kháng nguyên PEDV được phát hiện với tỷ lệ 100% tại không tràng, hồi tràng và hạch màng treo ruột; tá tràng đạt 90 - 100%. Ngoài ra, virus còn được tìm thấy ở kết tràng, dạ dày, gan, phổi, thận với tỷ lệ dương tính từ 20% đến 60% số mẫu phân tích.

4. Các chỉ số huyết học ở lợn con mắc PED biến đổi như thế nào so với lợn khỏe mạnh?

Ở lợn con 2 tuần tuổi mắc PED, số lượng hồng cầu giảm xuống mức 4,45 ± 0,27 triệu/mm³ (lợn Mán) và 4,66 ± 0,55 triệu/mm³ (lợn Rừng). Tỷ lệ bạch cầu trung tính tăng cao có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$), đạt 60,45% ở lợn Mán (so với đối chứng 38,50%) và 57,67% ở lợn Rừng (so với đối chứng 40,67%). Tỷ lệ bạch cầu ái toan và ái kiềm tăng nhẹ ($P < 0,05$). Tỷ số A/G giảm còn 0,62 - 0,64 ($P > 0,05$).


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thơm đã xác định toàn diện tình hình dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích giải phẫu đại thể - vi thể, sự phân bố kháng nguyên virus bằng kỹ thuật hóa mô miễn dịch và các chỉ số huyết học cơ bản của bệnh tiêu chảy thành dịch (PED) trên đàn lợn Mán và lợn Rừng nuôi tại tỉnh Hà Giang giai đoạn 2014 - 2017. Các phát hiện thực nghiệm khẳng định PEDV là tác nhân lây nhiễm phổ biến với tỷ lệ RT-PCR dương tính trên 72% ở đàn tiêu chảy, gây tổn thương tiêu biến nhung mao ruột non và rối loạn công thức máu điển hình ở lợn con theo mẹ. Công trình là cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác chẩn đoán phân biệt, giám sát thú y và bảo vệ nguồn gen lợn đặc sản bản địa tại các tỉnh miền núi phía Bắc.