Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Hệ thống vi sinh vật trong đường tiêu hoá của gà Thông thường khi gà mới nở ra cho đến 24 giờ thì không có vi sinh vật trong đường tiêu hoá, nhưng khi gà tiếp xúc với môi trường bên ngoài như thức ăn, nước uống, không khí. thì vi sinh vật bắt đầu xâm nhập vào hệ tiêu hoá của gà.
Số lượng vi sinh vật như E. coli, cầu trực khuẩn và các vi sinh vật khác tăng lên rất nhanh trong tá tràng và manh tràng. Vài giờ sau khi ăn đã tìm thấy vi khuẩn Lactobacillus trong đường tiêu hoá, đến 3 ngày tuổi thì số lượng các vi khuẩn này tăng lên rất nhanh. Bình thường trong hệ tiêu hoá của gà có trạng thái cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và vi khuẩn gây bệnh, khi gặp các yếu tố bất lợi như stress (vận chuyển, thay đổi thức ăn đột ngột, quá nóng hoặc quá lạnh, gà đẻ đang ở giai đoạn đẻ nhiều.) làm giảm sức đề kháng của cơ thể, phá vỡ sự cân bằng, các vi khuẩn gây bệnh tăng nhanh về số lượng và độc lực và gây bệnh cho gà.
Ngoài yếu tố stress do tiểu khí hậu chuồng nuôi bị ô nhiễm nặng làm cho mầm bệnh phát triển mạnh, thông qua thức ăn, nước uống, không khí. vào đường tiêu hoá của gà và gây bệnh, môi trường bị ô nhiễm cũng làm cho nồng độ các khí độc NH3 và H2S tăng cao trong thời gian dài, làm sức đề kháng cơ thể gà giảm, là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn có hại gây bệnh. Khí Amoniac sinh ra do sự biến đổi của axit uric có trong phân gà dưới sự tác động của vi khuẩn Bacteria trong vật liệu lót nền, nồng độ khí amoniac lớn hơn 20 ppm có thể kích thích niêm mạc phế quản của gà và dễ gây ra: n 4 - Bệnh đường hô hấp như: ND, CRD, IB. coli tăng lên tới mức gây viêm túi khí.
- Gà chậm lớn, chỉ số tiêu tốn thức ăn (FCR) tăng. - Viêm mắt gà. Nồng độ Amoniac và H2S cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chỉ tiêu kỹ thuật cũng như chỉ tiêu kinh tế của gà đẻ. Từ những nguyên nhân gây dẫn đến hiện tượng loạn khuẩn ở đường ruột gà, dẫn đến ỉa chảy.
Các biện pháp hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh: - Vệ sinh môi trường nuôi sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, kín về mùa đông, tránh gió lùa, vệ sinh thức ăn nước uống, điều chỉnh nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. - Không thay đổi khẩu phần ăn và phương thức cho ăn đột ngột. - Tăng cường sức đề kháng cho gà bằng cách thường xuyên bổ sung các vitamin, axit amin, khoáng. cần thiết phù hợp.
- Sử dụng kháng sinh để điều trị. - Tăng cường tiêu hoá bằng cách bổ sung các men có chứa các enzym tiêu hoá hoặc các men vi sinh có chứa Lactobacillus. - Sử dụng một số chế phẩm sinh học có lợi cho đường tiêu hoá, ức chế vi khuẩn gây bệnh, tạo điều kiện thuận lợi tối ưu cho vi khuẩn có lợi phát triển. Một số đặc tính của vi khuẩn Clostridium perfringens và bệnh do vi khuẩn này gây ra 1.
Giới thiệu chung về giống Clostridium Giống Clostridium gồm những trực khuẩn yếm khí, bắt màu gram dương, có kích thước 0,3 - 1,3 x 3 - 10 μm (Quinn và cs, 1999) [36]. Vi khuẩn có khả năng hình thành nha bào và nha bào thường lớn hơn bề ngang của vi khuẩn. Chỉ riêng loài Cl. spiroform có hình hơi cong hoặc hình xoắn ốc, còn n 5 tất cả các loài gây bệnh trong giống Clostridium đều có dạng trực khuẩn thẳng.
Vi khuẩn sau khi hình thành nha bào hoặc trong canh trùng nuôi cấy lâu thường có xu hướng khó bắt màu. Trong khi hầu hết các loài trong giống Clostridium đều có khả năng di động nhờ lông rung thì Cl. perfringens là loài duy nhất không di động, có hình thành giáp mô, có khả năng hình thành nha bào trong môi trường trung tính hoặc kiềm, kích thước nha bào lớn hơn chiều ngang thân vi khuẩn nên thường làm biến dạng vi khuẩn, thường nằm ở giữa hoặc gần ở 1 đầu (Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương, 2001) [18]. Trong thực tế nha bào của 1 số chủng có sức đề kháng cao với nhiệt độ, đun sôi ở 100oC trong vòng hơn 1 giờ mới bị vô hoạt (Nguyễn Vĩnh Phước, 1976) [12].
Vi khuẩn Clostridium có khả năng lên men đường, phản ứng oxidase và catalase âm tính. Yêu cầu mức độ yếm khí tuyệt đối thay đổi tuỳ theo loài, nhưng hầu hết đều thích hợp phát triển trong điều kiện môi trường có 2 - 10% CO2, pH gần trung tính và nhiệt độ nuôi cấy thích hợp là 37oC. Các môi trường nuôi cấy vi khuẩn Clostridium thường được bổ sung amino acid, carbohydrate, vitamin và máu hoặc huyết thanh. Vi khuẩn Clostridium phân bố rộng rãi khắp nơi trên thế giới, thường có mặt trong đất, nước và cát; một số loài hoặc một số chủng chỉ có ở các vùng địa lý nhất định.
Nhiều loài gây bệnh tồn tại trong đường tiêu hoá của người và động vật, chúng thường gây nhiễm trùng từ bên trong. Các loài khác phân bố trong đất và gây nhiễm trùng từ ngoài qua các vết thương hoặc qua đường tiêu hoá. Hiện đã có trên 40 loài Clostridium được công bố là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh ở người, gia súc và gia cầm. Đã tóm tắt các bệnh do vi khuẩn Clostridium gây ra trong bảng 1.
Bệnh do vi khuẩn Clostridium gây ra ở người và động vật Vi khuẩn Clostridium Loài vật mắc bệnh Tên bệnh CLOSTRIDIUM GÂY ĐỘC TỐ THẦN KINH Ngựa, loài nhai lại và các động vật Clostridium tetani Uốn ván (Tetanus) khác Clostridium botulinum (typ Nhiều loài động vật và người Trúng độc thịt A - F) Clostridium argentinense (C. Người (Argentina) Trúng độc thịt botulinum typ G) CLOSTRIDIUM GÂY ĐỘC MÔ BÀO Clostridium chauvoei Bò, cừu (lợn) Ung khí thán (blackleg) Bò, cừu và lợn Phù thũng ác tính Clostridium septicum Cừu Braxy Gia cầm Chứng viêm da hoại tử Clostridium novyi Cừu Chứng Cừu con đầu to typ A Bò và cừu Hoại thư sinh hơi typ B Cừu, (bò) Bệnh đen (Viêm gan hoại tử) typ C Trâu Viêm tuỷ xương Clostridium haemolyticum Bò, (cừu) Chứng đái ra huyết sắc tố (C. novyi typ D) Clostridium sordellii Bò, cừu, ngựa Hoại thư sinh hơi Clostridium colinum Chim cảnh, gà con và gà tây Viêm loét ruột BỆNH NHIỄM ĐỘC TỐ RUỘT HUYẾT Clostridium perfringens Người Trúng độc thức ăn, hoại thư sinh hơi typ A Chứng vàng da do nhiễm độc tố Cừu ruột huyết Cừu (dưới 3 tuần tuổi) Bệnh lỵ typ B Bê non và ngựa non Nhiễm độc tố ruột huyết Cừu trưởng thành Run cơ typ C Lợn choai, cừu, bê, ngựa con Nhiễm độc tố ruột huyết Gà Viêm ruột hoại tử typ D Cừu (trừ con sơ sinh), dê, bê Bệnh nhũn thận typ E Bê và cừu (ít gặp) Nhiễm độc tố ruột huyết BỆNH DO CLOSTRIDIUM GÂY RA SAU KHI SỬ DỤNG KHÁNG SINH Thỏ Viêm ruột có màng nhày Clostridium spiroform Thỏ và chuột lang Tiêu chảy sau khi sử dụng kháng sinh Ngựa con và lợn Viêm ruột non Viêm ruột non do sử dụng kháng Người, chuột hamster, thỏ, chuột lang Clostridium difficile sinh Chó, ngựa con, lợn, động vật thí nghiệm Tiêu chảy n 7 1. Vi khuẩn Clostridium perfringens Clostridium perfingens (Cl.
perfingens) còn có tên là Clostridium welchii được Welch và Natan phân lập từ năm 1892 trong tổ chức của xác người chết (Nguyễn Lân Dũng và cs, 1998) [1].Với tên gọi lúc đầu là Bacillus aerogenescapsulatus. Sau này, vi khuẩn được đổi tên thành Bacillus enteritidis sporogenes, Bacillus perfringens, Bacterium welchii và Clostridium welchii. Mặc dù tên gọi không chính thức là C. welchii, nhưng được sử dụng từ năm 1939 và hiện nay vẫn có thể tìm thấy trong cách viết của người Anh.
Từ năm 1980, tên khoa học chính thức của vi khuẩn là Clostridium perfringens (Cl. Vi khuẩn phân bố rộng rãi trong đường tiêu hoá của người và gia súc, môi trường (đất, nước, phân, thức ăn.) và là nguyên nhân gây nhiều bệnh như hoại thư sinh hơi, ngộ độc thực phẩm, bệnh nhiễm độc tố ruột huyết, viêm ruột hoại tử và hội chứng đột tử. * Hình thái và tính chất nuôi cấy Cl. perfringens là vi khuẩn yếm khí triệt để, mọc tốt trên các môi trường yếm khí thông thường, nhiệt độ thích hợp là 37oC, pH thích hợp là 7,2 - 7.
Vi khuẩn không di động, hình thành giáp mô trong mô bào; là trực khuẩn to, thẳng, hai đầu tròn, đứng riêng lẻ hoặc thành đôi, có kích thước từ 0,6 - 0,8 x 2 - 4 μm, bắt màu gram dương (Quinn và cs, 1999) [36]. Một số điều kiện nuôi cấy thích hợp của vi khuẩn này được tóm tắt trong bảng 1. Điều kiện nuôi cấy thích hợp của vi khuẩn Cl. perfringens Điều kiện nuôi cấy Tối thiểu Thích hợp Tối đa Nhiệt độ (oC) 10 - 12 43 - 47 50 - 55 pH 5,0 - 5,5 6,0 - 7,2 8,0 - 9,0 NaCl (%) - 5,0 - 8,0 - NaNO3 (ppm) - 60 - 2560 - aw (water activity) 0,93 0,95 - 0,96 0,97 n 8 Khi nuôi cấy trên các môi trường, tính chất mọc của vi khuẩn có đặc điểm: - Môi trường nước thịt gan yếm khí: sau 24 giờ nuôi cấy trong điều kiện yếm khí ở 37oC, vi khuẩn phát triển mạnh, làm đục môi trường và sinh hơi.
- Môi trường thạch máu trong điều kiện yếm khí ở 37oC: sau khi nuôi cấy Cl. perfringens từ 18 - 24 giờ, lấy đĩa ra khỏi tủ ấm và để ở nhiệt độ phòng trong 2 giờ để có thể quan sát đầy đủ đặc tính dung huyết của vi khuẩn. Hình thái đặc trưng của vi khuẩn Cl. perfringens trên môi trường thạch máu là hình thành các khuẩn lạc tròn, trơn bóng, lấp lánh, mờ đục, có vùng dung huyết đôi đặc trưng (quan sát rõ hơn khi dùng máu cừu hoặc thỏ).
- Môi trường thạch lòng đỏ trứng (Egg Yolk Agar - EYA): vi khuẩn Cl. perfringens với hoạt tính của men lecithinase sẽ tạo thành một vùng trắng đục xung quanh khuẩn lạc do men này tác động lên chất lecithin có trong môi trường. Những chủng vi khuẩn Cl. perfringens sản sinh men lipase sẽ tạo nên một lớp sáng như ngọc trai hoặc óng ánh nhiều màu xung quanh khuẩn lạc; trong một số trường hợp còn lan ra cả phần thạch ở xung quanh.
- Môi trường Litmus milk: Litmus milk là môi trường dùng để giữ và nuôi cấy vi khuẩn sinh acid lactic. Đây là môi trường đặc biệt dùng để xác định một số đặc tính của vi khuẩn: lên men đường lactose, phân giải casein và đông vón casein. Chất chỉ thị pH là Litmus được bổ sung vào môi trường. Sữa có đường lactose và 3 loại protein chính: casein, lactalbumin và lactoglobulin.
Vi khuẩn Cl.