Đặt vấn đề Trong những năm gần đây chăn nuôi nước ta có những bước phát triển đáng kể với những tiến bộ vượt bậc trong công tác giống, thức ăn, thuốc phòng và trị bệnh. Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho người dân. Đây cũng là ngành kinh tế giúp cho nông dân tăng thu nhập, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động, là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như thịt, trứng, sữa, mật ong.
nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của người dân. Ngành chăn nuôi trong đó có chăn nuôi lợn đóng vai trò chủ yếu trong phát triển ngành chăn nuôi của Việt Nam. Trong 5 năm gần đây, sản lượng thịt lợn chiếm 76% sản lượng thịt hơi các loại. Sản phẩm thịt lợn là sản phẩm quen thuộc và không thể thiếu đối với người Việt Nam ta, nó đã trở thành loại thức ăn phổ biến nhất so với những loại thịt khác trên thị trường như thịt bò, thịt trâu, thịt gà, tôm, cua.
v…Chính vì thế ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam trong những năm qua đã góp phần chủ đạo vào việc đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng cho người dân, đặc biệt là người dân ở nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên dịch bệnh xảy ra ngày một nhiều làm cho năng suất chăn nuôi giảm. Đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm như bệnh tụ huyết trùng, đóng dấu., và một bệnh nguy hiểm đáng quan tâm là bệnh viêm khớp, ngoài việc thiệt hại về kinh tế còn ảnh hưởng tới sức khỏe con người và đời sống xã hội của cả quốc gia. Viêm khớp là yếu tố gây què ở lợn.
Các yếu tố khác gây què ở lợn gồm liên quan đến mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất, những tổn thương ở chân do chấn thương, hình thành không đúng và thoái hóa xương và các thay đổi khớp. Bệnh viêm khớp do nhiễm trùng khớp và các mô bao e 2 quanh bởi vi khuẩn (S. coli, Staphylococcus…) và Mycoplasma. Bệnh làm ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi, đồng thời bệnh làm cho lợn tăng trọng kém và giảm số lượng lợn con sau cai sữa trong đàn.
Xuất phát từ tình hình dịch bệnh thực tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi lợn trong nước ngày càng phát triển, việc nghiên cứu một cách đầy đủ về vi khuẩn S. suis và khả năng gây bệnh của chúng là một vấn đề cần thiết và cấp bách. Các kết quả có được từ nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về vai trò gây bệnh của vi khuẩn này, từ đó giúp các nhà chăn nuôi chủ động được các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình bệnh viêm khớp do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm phác đồ điều trị”.
Mục đích nghiên cứu - Xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S. suis gây bệnh viêm khớp ở lợn nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm khớp ở lợn cho hiệu quả cao. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S.
suis gâybệnh viêm khớp ở lợn nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. - Xây dựng một số phác đồ điều trị bệnh viêm khớp ở lợn. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Cung cấp các dữ liệu khoa học về vi khuẩn S.
suis gây bệnh viêm khớp ở lợn. - Đề tài là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế, là cơ hội tiếp cận với thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề. e 3 - Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với thực tiễn sản xuất, xác định được một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S. suis gây bệnh viêm khớp ở lợn nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Kết quả của đề tài góp phần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, đồng thời cung cấp các dữ liệu khoa học về vi khuẩn S. suis gây bệnh viêm khớp ở lợn. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề xuất và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm khớp ở lợn cho hiệu quả cao. - Đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn về phòng trị bệnh viêm khớp ở lợn.
- Xác lập cơ sở khoa học cho những nghiên cứu khác về bệnh viêm khớp ở lợn của Việt Nam góp phần trong công tác phòng và trị bệnh của lợn nuôi tại các địa bàn khác trên cả nước. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn ở các giai đoạn Theo Trần Đình Miên và cs (1975)[3] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước.
Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến sự sinh trưởng có nghĩa là nói đến sự phát dục vì 2 quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục và sự tích luỹ về chất. Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu là tích luỹ mỡ, còn phát dục xem như ở trạng thái ổn định.
Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật: - Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều. Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi. - Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật này được chia ra làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. + Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày.
e 5 Trong thực tế sản xuất người ta chia ra lợn chửa kỳ I là bắt đầu từ khi thụ thai đến 84 ngày. Lợn chửa kỳ II từ 84 ngày đến trước khi đẻ 1 tuần, giai đoạn này rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II. Theo Trương Lăng (1995)[2]bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 33,5 lần so với tháng thứ nhất, tháng thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần. Nếu lợn chửa kỳ II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh dù nuôi dưỡng tốt, lợn con vẫn chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối lượng xuất chuồng.
+ Giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ) gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi. Thời kỳ bú sữa của lợn ở Việt Nam thông thường là 60 ngày. Hiện nay một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày tuổi, thức ăn của lợn con chủ yếu ở thời kỳ này là bú sữa mẹ.Tuy nhiên muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn ta phải bổ sung thêm thức ăn. Sau khi tách mẹ những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ.
Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn. Đây là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con có kết quả. Trên cơ sở nắm vững những đặc điểm và quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc, có thể trong một mức độ nào đó chúng ta tạo điều kiện cho con vật phát triển tốt ngay lúc còn là bào thai, nâng cao sức sản xuất và phẩm chất giống sau này. - Dựa vào đặc điểm sinh lý, quy luật sinh trưởng của lợn thịt mà chia quá trình nuôi lợn thịt ra 3 giai đoạn: + Giai đoạn 1 (giai đoạn sau cai sữa) 2 - 3 tháng tuổi (1 - 2 tháng nuôi): Đặc điểm giai đoạn này: Lợn chuyển từ sống theo mẹ, bằng sữa mẹ sang sống tự lập, chịu sự nuôi dưỡng, chăm sóc của con người.
Lợn có tốc độ phát e 6 triển nhanh (đặc biệt là tổ chức cơ bắp và xương cốt). Bộ máy tiêu hoá phát triển chưa hoàn thiện, khả năng tiêu hoá thức ăn còn hạn chế. Vì vậy thức ăn giai đoạn này đòi hỏi phải có phẩm chất tốt, tránh thức ăn ôi mốc, lên men. Tỷ lệ thức ăn tinh chiếm 80 - 90%, thức ăn giàu đạm 15 - 18% trong khẩu phần thức ăn.
Dùng đạm động vật để bổ sung. Tỷ lệ xơ thô trong khẩu phần thấp (4 - 5%), khoáng và vitamin cao (bổ sung chúng dưới dạng premix khoáng, vitamin 0,5 - 1% trong thức ăn tinh). Có thể bổ sung thức ăn đậm đặc, kháng sinh thô trong khẩu phần để kích thích sinh trưởng và phòng bệnh cho lợn. Ngoài ra, thức ăn giai đoạn này phải chế biến tốt để lợn dễ tiêu hoá, hấp thu dinh dưỡng và tránh ỉa chảy.
Giai đoạn này lợn cần phải được vận động, tắm nắng tự do. + Giai đoạn lợn choai 4 - 7 tháng tuổi (3 - 5 tháng nuôi): Giai đoạn này lợn phát triển rất mạnh về xương, cơ bắp. Bộ máy tiêu hoá đã phát triển hoàn thiện nên lợn có khả năng tiêu hoá, hấp thu tốt các loại thức ăn. Khả năng thích nghi tốt với điều kiện sống.