Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và số lượng. Con lợn đã cung cấp 70 - 80% nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và xuất khẩu đồng thời cung cấp nguồn phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi lợn quy mô trang trại theo hướng tập trung công nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ trong phạm vi cả nước. Đặc biệt là sau khi dịch tả lợn châu Phi xảy ra từ đầu năm 2019 đến nay trên phạm vi cả nước thì chăn nuôi lợn nông hộ gần như đã xóa bỏ và chăn nuôi lợn trang trại đã phát triển mạnh mẽ ở khắp các địa phương.
Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải chọn được con giống tốt. Mà muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản đóng một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái sinh sản là rất quan trọng. Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn nái sẽ không tốt, vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của lợn và hiệu quả chăn nuôi sẽ không cao. Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sau khi đẻ còn gặp rất nhiều khó khăn, khó khăn đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái sau khi đẻ.
Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn nái trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa không tốt, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn sau này. Chính vì vậy, thực hiện tốt và có hiệu quả quy trình phòng và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản là rất cần thiết và quan trọng. Luan van 2 Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Hoàng Thị Thái, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục đích của chuyên đề - Thực hiện quy trình phòng bệnh và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản. - Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản tại trại lợn Hoàng Thị Thái, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. - Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản. Yêu cầu của chuyên đề - Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản đồng thời học tập bổ sung những kiến thức mới từ thực tiễn chăn nuôi tại trang trại.
- Ứng dụng các biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả tốt cho lợn nái sinh sản vào thực tiễn chăn nuôi lợn tại trang trại. Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên của trang trại 2.
Vị trí địa lý Trang trại lợn Hoàng Thị Thái nằm tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Xã Ngọc Châu nằm ở phía Tây Nam của huyện Tân Yên có vị trí địa lý như sau: Phía Đông giáp với xã Cao Xá. Phía Tây giáp với xã Nam Cốt và Song Vân. Phía Nam giáp với xã Ngọc Thiện.
Phía Bắc giáp với xã An Dương. Điều kiện địa hình, đất đai Trang trại được xây dựng trên khu đất rộng gần 10ha, có địa hình khá bằng phẳng. Điều kiện khí hậu Trại chăn nuôi nằm trong địa bàn của Ngọc Châu nằm trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 - 24oC.
Mùa đông: trời rét và khô, nhiệt độ xuống thấp, bình quân từ 10 - 18oC. Mùa hạ: nắng nóng và mưa nhiều có khi lên tới 400C. Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm tập trung nhiều và tháng 7 và tháng 8. Độ ẩm không khí ở trại tương đối cao, trung bình từ 83 - 85%, tháng cao nhất tập trung vào các tháng 3 và tháng 4, tháng thấp nhất khoảng 65% vào tháng 12.
Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển. Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại lợn Hoàng Thị Thái 2. Cơ cấu tổ chức của trại lợn Hoàng Thị Thái Trang trại Hoàng Thị Thái là trại lợn tư nhân, lợn ăn cám của hai công ty là Công ty thức ăn chăn nuôi Deheus và Công ty thức ăn chăn nuôi CP Việt Nam. Trang trại hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân.
Chủ trại mua lợn giống, thức ăn, thuốc thú y của các công ty lớn đảm bảo về chất lượng. Các cán bộ kỹ thuật là những cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm lâu năm trong ngành chăn nuôi lợn. Hiện nay, trang trại do Bà Hoàng Thị Thái làm chủ trại, quản lý trại là anh Trần Văn Tuân kiêm kỹ thuật trưởng cùng các kỹ thuật của Công ty thức ăn chăn nuôi Deheus Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại. Nhân lực của trang trại gồm 01 chủ trại, 01 quản lý trại, 01 kế toán, 02 tổ trưởng (1 tổ trưởng ở chuồng đẻ, 1 tổ trưởng ở chuồng bầu,), 03 kĩ sư trại, 26 công nhân và 03 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trang trại.
Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại được xây dựng trên diện tích gần 10 ha, gồm 4 khu chính là khu nhà điều hành; khu nhà ăn, ở cho công nhân; khu nhà để cám và kho thuốc, khu để dụng cụ chăn nuôi và khu chăn nuôi. Diện tích đất còn lại là vườn và ao hồ bao quanh trại. Trại lợn Hoàng Thị Thái có quy mô 1.400 lợn nái sinh sản, 20 lợn đưc giống và khoảng 140 lợn cái hậu bị. * Khu nhà điều hành và khu nhà ăn, ở của công nhân: Được trang bị đầy đủ tiện nghị phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, vui chơi, giải trí của toàn bộ cán bộ và công nhân trong trang trại sau giờ làm việc.
Ngoài cổng vào trang trại có 1 nhà sát trùng, vào cổng 100m có 2 phòng sát trùng, cổng vào khu chăn nuôi có 2 phòng sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, có 1 nhà ăn và 6 phòng nghỉ trưa cho kỹ sư và công nhân. Luan van 5 * Khu chăn nuôi gồm khu chuồng nái chửa, khu chuồng nái đẻ khu chuồng cách ly, khu cai sữa và khu đực giống. - Khu chuồng nái chửa và chờ phối gồm 3 chuồng mỗi chuồng mỗi chuồng chia thành 5 dãy mỗi dãy 70 con được chia thành các ô chăm sóc riêng, tổng diện tích đất dành cho lợn nái mang thai và nái chờ phối chiếm diện tích lớn nhất. Kích thước một ô là 2,4m x 0,65m.
Cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau. Lợn đực giống phục vụ việc lấy tinh được nuôi ở một chuồng riêng biệt, bên cạnh đó chuồng phối còn có 02 lợn đực hỗ trợ khi phối giống được đặt ở đầu chuồng phối ở dãy đầu. Lợn nái cai sữa được đưa về nơi chờ phối trong chuồng lợn nái có chửa nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra và lên giống. Đầu chuồng nái chửa là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối.
Khu lấy tinh, cạnh khu lấy tinh có phòng nhỏ để kiểm tra tinh được gọi là phòng tinh. Phòng tinh được trang bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt kế,… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện. Đầu các chuồng đều có hệ thống giàn mát, cuối chuồng đều có hệ thống quạt thông gió 8 quạt đối với chuồng lợn bầu và lợn chờ phối, hệ thống hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng. Ngoài ra bên trong chuồng còn được trang bị đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất.
- Khu chuồng đẻ gồm 3 bộ. Bộ I được sắp xếp thành chuồng đẻ 1, chuồng đẻ 2. Bộ II được sắp xếp thành chuồng đẻ 3, chuồng đẻ 4. Bộ III chia thành chuồng đẻ 5, chuồng đẻ 6.
Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió (mỗi chuồng 3 quạt). Mỗi chuồng đẻ gồm 2 ngăn, mỗi ngăn gồm 2 dãy. Mỗi ngăn chuồng lại chia thành 30 ô chia với kích Luan van 6 thước mỗi ô là 2,4m x 1,6m. Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông, sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng.
Mỗi một ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn con. Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung sắt và đan bao tải cám đã được ngâm sát trùng. Mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm. Trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ cho lợn con tập ăn.
Trong mỗi chuồng đều có nhiệt kế đo nhiệt độ chuồng nuôi. Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa, phun vôi để trống chuồng 1 tuần và phun lại sát trùng trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên. - Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn cái hậu bị mới nhập về để thay thế đàn và lợn nái loại thải. Vị trí chuồng cách ly nằm gần chuồng bầu thuận tiện cho việc vận chuyển lợn lên chuồng bầu khi đã đủ điều kiện phối giống.
Khu chuồng cách ly được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm 12 ô nhỏ được trang bị khá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn tự động bên trong các ô. Khu bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối chuồng có 5 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi.