Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi nước ta trong những năm gần đây đã và đang phát triển mạnh với nhiều hình thức và quy mô khác nhau, từ chăn nuôi hộ gia đình đến các mô hình chăn nuôi trang trại với số lượng vật nuôi lớn. Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, sự gia tăng đàn gia súc, người chăn nuôi gặp không ít khó khăn do dịch bệnh gây ra. Một trong những bệnh thường gặp gây nhiều thiệt hại trong chăn nuôi là bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis).
Bệnh này phát triển mạnh, đặc biệt ở các trang trại chăn nuôi lợn tập trung. Nếu không được quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể tới 100% và tỷ lệ chết cũng rất cao, nhất ở giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi. Nguyên nhân chính gây bệnh lợn con phân trắng trong giai đoạn lợn con theo mẹ chủ yếu là do trực khuẩn Escherichia coli (E. coli) sống ở ruột già gây nên.
coli là vi khuẩn Gram (-), có sức đề kháng cao đối với điều kiện ngoại cảnh. Ngoài ra, điều kiện thời tiết, khí hậu thay đổi thất thường, chuồng trại, điều kiện vệ sinh, chế độ nuôi dưỡng kém… cũng là nguyên nhân gây ra bệnh phân trắng lợn con. Nếu không điều trị kịp thời thì sẽ dẫn tới còi cọc chậm lớn, sức khỏe yếu và có thể dẫn tới tử vong. Từ đó làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng con giống cũng như năng suất chăn nuôi và gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi.
2 Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm phòng và điều trị bệnh phân trắng lợn con, nhưng hiệu quả đạt được vẫn chỉ ở một mức độ nhất định. Xuất phát từ thực tế trên, được sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài: “Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ tại trại Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình và biện pháp điều trị”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con, từ đó có biện pháp phòng bệnh phù hợp. - Xác định được phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con hiệu quả. Yêu cầu - Hiểu biết bệnh lợn con phân trắng về: đặc điểm, nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và phương pháp phòng trị bệnh. - Tìm hiểu cơ chế tác dụng, liều lượng của thuốc dùng trong điều trị.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của trại Trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng nằm trên một quả đồi, cách xa khu dân cư, thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Đây là một trong những trại có quy mô lớn.
Trại có tổng diện tích khoảng hơn 2 ha, trong đó diện tích hơn 1 ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và gần 1 ha trồng cây xanh và ao hồ xung quanh. Trại nằm cách đường mòn Hồ Chí Minh 100m, đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển thức ăn, thuốc thú y, tiêu thụ sản phẩm cũng như chuyển giao khoa học kỹ thuật. Trại được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2005 với số vốn đầu tư lên tới gần 40 tỷ đồng, trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 3 giống lợn Landrace, Yorkshire và Duroc. Khu sản xuất gồm 6 dãy chuồng đẻ và 2 dãy chuồng bầu, 2 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái, 30 lợn đực, 120 lợn hậu bị cùng 2500 lợn con đã tách mẹ.
Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng. Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 con lợn giống. Trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi. Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng loại lợn.
Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế độ dinh dưỡng khác nhau. Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ. 4 Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm: 2 kỹ sư chính, 1 quản lý, 4 tổ trưởng và 14 công nhân phụ trách, trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này. Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực.
Trại đã chủ động liên hệ với cơ sở thú y địa phương tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn. Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày. Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt. Muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng.
Xung quanh trại được trồng cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất. Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng. Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải. Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở 2.
Đối tượng sản xuất Trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 3 giống lợn là Landrace, Yorkshire và Duroc. Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng. Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây Trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một trong những trại có quy mô lớn. Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao.
Dưới đây là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây: 5 Bảng 2.1: Số liệu sản xuất chăn nuôi lợn tại trại Số lợn qua các năm Năm 2016 Chỉ tiêu Năm Năm (từ tháng 6 đến 2014 2015 tháng 10) Nái hậu bị (con) 120 130 90 Nái được phối (con) 1.184 Tỷ lệ đậu thai (%) 88.70 Tổng số lợn con sinh ra (con) 22.324 Tổng số lợn con sinh sống (con) 21.944 Số lợn con chết, loại sau sinh (con) 767 729 380 Số lợn con cai sữa/nái/năm (con) 21.489 Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: Số lợn nái hậu bị từ năm 2014 là 120 nái, tới năm 2015 tăng lên 130 nái. Tỷ lệ phối đậu thai từ 88,50% (năm 2014) tăng lên 90,70% (năm 2016). Số heo con sinh ra, sống tới lúc cai sữa tăng lên, từ năm 2014 là 21.958 con tới năm 2015 là 22. Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch”.
Trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một gương sáng điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay.Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nƣớc có liên quan đến đối tƣợng của chuyên đề 2. Tổng quan tài liệu 2. Đặc điểm của bệnh phân trắng lợn con Bệnh lợn con ỉa phân trắng xảy ra ở lợn con đang theo mẹ, đặc biệt là lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi. Có con mắc ngay sau khi sinh 2 - 3 giờ và một số con mắc muộn hơn khi đã 4 tuần tuổi.
6 Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng hay gặp nhất khi thời tiết thay đổi: nóng lạnh thất thường, mưa nhiều, độ ẩm cao,… Vi khuẩn tập trung chủ yếu ở ruột già nên phân gia súc là nguồn mang vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là phân của gia súc mắc bệnh. Vi khuẩn cũng tồn tại trong đất, nước, chất thải và chất độn chuồng. Theo Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (2000) [14], bệnh lợn con ỉa phân trắng là một bệnh cấp tính làm chết nhiều lợn con trong giai đoạn đang bú mẹ, thể hiện đặc trưng bằng triệu chứng ỉa chảy phân trắng, trắng vàng kèm theo bại huyết. * Đường nhiễm bệnh Theo Lê Văn Năm (1998) [18], nguồn lây bệnh nhiều nhất các nái chờ phối (96,9%), ít nhất là nái chửa kỳ II (45%).
Trong các trường hợp này lợn con bị nhiễm E. coli từ những ngày đầu tiên sau khi đẻ và đến giai đoạn sau cai sữa giảm còn 76%. Lợn ốm sau khi chữa khỏi trở thành vật mang trùng. Đường nhiễm bệnh của bệnh lợn con phân trắng chủ yếu thông qua đường tiêu hoá, thông qua thức ăn, nước uống, ít khi qua đường hô hấp, niêm mạc mắt.
Trong một vài trường hợp có thể bị nhiễm E. coli qua đường bào thai. Ở trong cơ sở chăn nuôi, E. coli có thể lan truyền bằng con đường cơ học (do chuột, chó, mèo, côn trùng…) hoặc do người đưa thức ăn, dụng cụ bị nhiễm E.
coli từ nơi này sang nơi khác. Khi bị nhiễm bệnh, vi khuẩn E. coli phát triển nhanh trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra độc tố. Độc tố này xâm nhập vào dòng lympho làm máu bị nhiễm độc khiến con vật chết.
Từ khi mới sinh, lợn con có hệ vi sinh vật đường ruột rất đa dạng, tỷ lệ, số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau nên chỉ cần tác dụng bất lợi của điều kiện ngoại cảnh là chúng đã gây bệnh. 7 * Quá trình sinh bệnh Đối với lợn con khoẻ mạnh, vi khuẩn E. coli và các vi khuẩn khác cư trú ở đoạn ruột già và phần cuối đoạn ruột non. Phần đầu và phần giữa ruột non hầu như không có vi khuẩn.
Chỉ có rất ít liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, Lactobacillus (Nguyễn Hữu Vũ, 2000 [34]).