Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò trọng yếu trong cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam, không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm đạm động vật chủ lực cho nhu cầu xã hội mà còn tạo ra các phụ phẩm phục vụ ngành trồng trọt và công nghiệp chế biến da. Trong bối cảnh phương thức chăn nuôi chuyển dịch mạnh mẽ từ nông hộ nhỏ lẻ sang mô hình trang trại quy mô công nghiệp, việc kiểm soát năng suất sinh trưởng và an toàn dịch bệnh trở thành vấn đề kỹ thuật mang tính sống còn.

Tại các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung, hai thách thức thường trực là nâng cao tốc độ tăng khối lượng nhằm rút ngắn thời gian nuôi và kiểm soát các hội chứng tiêu chảy đường ruột ở lợn con, tiêu biểu là bệnh phân trắng. Bệnh phân trắng lợn con thường phát sinh mạnh trong giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa, làm gia súc non suy dinh dưỡng, còi cọc, giảm chất lượng con giống và tăng chi phí dùng thuốc. Nhằm đánh giá khả năng thích nghi và hiệu quả sản xuất thực tế của tổ hợp lợn lai thương phẩm, tác giả Phạm Ngọc Cảnh (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Chăn nuôi thú y với đề tài: "Theo dõi khả năng sinh trưởng của lợn thịt giai đoạn 60 đến 152 ngày tuổi và đánh giá tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng giai đoạn từ 21 đến 60 ngày tuổi nuôi tại trại lợn CP - Hà Nội".

Văn bản xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá khả năng sinh trưởng và khả năng tiêu thụ thức ăn của lợn thịt giai đoạn từ 60 đến 152 ngày tuổi.
  2. Đánh giá tình hình vệ sinh thú y và tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn từ 21 đến 60 ngày tuổi tại trại lợn CP – Hà Nội.
  3. Xác định hiệu lực điều trị bệnh lợn con phân trắng bằng 2 loại thuốc Nova - Amcoli và Nor 100.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn thịt giai đoạn từ 60 đến 152 ngày tuổi gồm 50 cá thể con lai F3 (PiDu × Landrace), cơ cấu tính biệt 27 đực thiến và 23 cái; cùng đàn lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 21 đến 60 ngày tuổi gồm 1.012 cá thể thuộc 195 đàn.
  • Phạm vi không gian: Trang trại chăn nuôi gia công của gia đình ông Nguyễn Sỹ Bình thuộc Công ty Cổ phần Phát triển Bình Minh (hợp tác gia công với Công ty Cổ phần chăn nuôi Charoen Pokphand Việt Nam), đặt tại thôn Trung, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài và công tác thực nghiệm được triển khai từ tháng 12/2013 đến ngày 31/5/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống cơ sở sinh học và dịch tễ học thú y chuyên ngành:

  • Cơ sở sinh trưởng và phát dục: Quá trình tích lũy dưỡng chất, sự phát triển không đồng đều qua các giai đoạn tuổi ở gia súc non; mối tương quan nghịch giữa tốc độ tăng khối lượng và hệ số tiêu tốn thức ăn (TTTA); ảnh hưởng của các yếu tố di truyền từ các giống thuần ngoại (Duroc, Pietrain, Landrace, Yorkshire), phương thức nuôi dưỡng và dinh dưỡng khẩu phần.
  • Đặc điểm giải phẫu - sinh lý đường tiêu hóa lợn con: Dung tích dạ dày và ruột tăng nhanh nhưng chức năng bài tiết acid chlohydric (HCl) tự do và men pepsin chưa hoàn thiện trước 30 ngày tuổi; cơ chế điều nhiệt kém do lớp mỡ dưới da mỏng và tỷ lệ diện tích bề mặt/thể trọng lớn; tính chất miễn dịch thụ động phụ thuộc vào hàm lượng gamma-globulin hấp thu từ sữa đầu trong 24 giờ đầu sau sinh.
  • Cơ chế bệnh sinh của bệnh phân trắng lợn con: Tác nhân chính là vi khuẩn Escherichia coli có độc lực (mang các yếu tố bám dính niêm mạc ruột và sản sinh enterotoxin gây rối loạn bài tiết nước, chất điện giải), cùng sự kết hợp của các vi khuẩn kế phát như Salmonella, Proteus, Streptococcus và yếu tố bất lợi từ môi trường nuôi (nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, chuồng trại ẩm ướt).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai theo các quy chuẩn thực nghiệm chăn nuôi:

  • Phương pháp bố trí thí nghiệm sinh trưởng: Đàn lợn thịt 50 con được nuôi tập trung với mật độ 2 con/m², sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh dạng viên của công ty CP gồm thức ăn 552SF (đoạn 60–90 ngày tuổi: đạm thô tối thiểu 19,0%, ME 3.150 Kcal/kg) và 553F (đoạn 90–152 ngày tuổi: đạm thô tối thiểu 17,0%, ME 3.100 Kcal/kg). Đàn lợn được theo dõi cân khối lượng cá thể vào buổi sáng trước khi cho ăn tại 4 mốc: 60, 90, 120 và 152 ngày tuổi bằng cùng một loại cân và người cân cố định.
  • Công thức tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng:
    • Sinh trưởng tuyệt đối: $A = (P_2 - P_1) / (t_2 - t_1)$ (tính bằng g/con/ngày, với $P_1, P_2$ là khối lượng tại các mốc thời gian $t_1, t_2$).
    • Sinh trưởng tương đối: $R = \frac{P_2 - P_1}{(P_2 + P_1)/2} \times 100$ (tính bằng %).
    • Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (TTTA): Bằng tổng lượng thức ăn tiêu thụ trong kỳ chia cho tổng khối lượng tăng trong kỳ (kg thức ăn/kg tăng khối lượng).
  • Phương pháp điều tra và theo dõi bệnh học: Theo dõi lâm sàng hàng ngày trên 1.012 lợn con ở 195 đàn phân bố tại 4 dãy chuồng; xác định tỷ lệ mắc bệnh theo đàn, tỷ lệ mắc bệnh theo cá thể, tỷ lệ mắc theo 5 giai đoạn lứa tuổi (21–28, 29–36, 37–44, 45–52, 53–60 ngày tuổi).
  • Phương pháp khảo nghiệm phác đồ điều trị: Chia lợn bệnh thành 2 lô thí nghiệm (mỗi lô 50 con) sử dụng hai loại thuốc tiêm bắp: Nova - Amcoli (1 ml/10 kg thể trọng) và Nor 100 (1 ml/10 kg thể trọng), tiêm 1 lần/ngày liên tục từ 3 đến 5 ngày.
  • Nguồn dữ liệu và xử lý số liệu: Số liệu gốc ghi chép từ sổ nhật ký sản xuất của trang trại, phiếu cân đo cá thể và biểu theo dõi bệnh học thú y; số liệu được xử lý thống kê sinh học theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (2002) bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Nội dung phần này phản ánh toàn bộ hoạt động điều tra cơ sở và lao động sản xuất trực tiếp của tác giả tại trang trại chăn nuôi gia công CP của gia đình ông Nguyễn Sỹ Bình:

  • Điều tra điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất và tổ chức sản xuất: Trang trại có tổng diện tích 10,2 ha (đất xây dựng 2,5 ha, đất trồng lúa 2,4 ha, đất cây ăn quả 2,3 ha, diện tích ao hồ 3,0 ha). Hệ thống chuồng trại quy hoạch cho 1.200 lợn nái, gồm 6 chuồng đẻ (mỗi chuồng 56 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng 560 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m), 3 chuồng cách ly và 1 chuồng đực giống nuôi 23 cá thể khai thác tinh (thuộc giống Landrace và Yorkshire). Chuồng thiết kế kín hoàn toàn, đầu chuồng có giàn mát, cuối chuồng bố trí quạt hút công nghiệp (chuồng nái chửa lắp 8 quạt, chuồng đẻ lắp 3 quạt). Chỉ tiêu sinh sản tại trại đạt 2,45–2,5 lứa/năm; số con sơ sinh bình quân 11,23 con/đàn; số con cai sữa bình quân 9,86 con/đàn lúc 21–26 ngày tuổi.
  • Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và sinh sản:
    • Chăm sóc nái chửa: Khẩu phần thức ăn được kiểm soát theo tuần chửa (tuần 1 đến 12 dùng thức ăn 566 với 1,5–2,0 kg/ngày; tuần 13 đến 14 dùng thức ăn 566 mức 2,5–3,0 kg/ngày; tuần 15 trở đi chuyển sang thức ăn 567SF với 3,5–4,0 kg/ngày).
    • Chăm sóc nái đẻ: Chuyển lên chuồng đẻ trước ngày dự kiến sinh 7–10 ngày, duy trì khẩu phần 3 kg/ngày, giảm dần còn 0,5 kg/bữa trước đẻ 3 ngày; sau đẻ 2 ngày tăng dần lên mức 5,0–6,0 kg/ngày.
    • Chăm sóc lợn con theo mẹ: Tiến hành cắt rốn, bấm nanh ngay sau khi sinh; cắt số tai, cắt đuôi, tiêm sắt Dextran-Fe và cho uống kháng sinh phòng tiêu chảy lúc 2–3 ngày tuổi; uống thuốc phòng cầu trùng Nova-Coc 5% lúc 3–4 ngày tuổi; thiến lợn đực lúc 4–5 ngày tuổi; tập ăn thức ăn 550SF từ 4–6 ngày tuổi; tiêm vắc xin dịch tả lợn lúc 16–18 ngày tuổi; cai sữa lúc 21–26 ngày tuổi.
    • Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái: Áp dụng quy trình 6 bước gồm kiểm tra triệu chứng động dục bằng đực thí tình kết hợp quan sát dịch nhầy âm hộ; chuẩn bị dẫn tinh quản; chuẩn bị liều tinh đạt chuẩn 80–100 ml chứa 1,5–2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng; vệ sinh bộ phận sinh dục bằng nước muối sinh lý; kích thích phản xạ đứng ì và đưa dẫn tinh quản xoay ngược chiều kim đồng hồ; vỗ mông kích thích đóng cổ tử cung sau khi truyền tinh. Mỗi chu kỳ nái được dẫn tinh 3 lần.
  • Công tác thú y và kết quả phục vụ sản xuất:
    • Khử trùng tiêu độc chuồng trại định kỳ bằng dung dịch Ommicide (tỷ lệ 320 ml/1.000 lít nước); ngâm tấm đan chuồng đẻ trong dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, xịt vôi xút và rắc vôi bột lối đi.
    • Thực hiện nghiêm ngặt lịch phòng vắc xin cho toàn trại: Tiêm phòng vắc xin Dịch tả (Coglapest), Khô thai (Parvo), Giả dại (Begonia), Lở mồm long móng (Aftopor) cho đàn nái, hậu bị và đực giống.
    • Kết quả chẩn đoán và điều trị lâm sàng: Điều trị khỏi bệnh viêm tử cung ở lợn nái đạt tỷ lệ 83,75% (67/80 con); điều trị khỏi bệnh phân trắng lợn con đạt tỷ lệ 100% (505/505 con); điều trị viêm phổi đạt tỷ lệ 87,16% (95/109 con). Tham gia xuất bán 3.500 lợn con, tiêm Dextran-Fe cho 760 lợn con và thiến 500 lợn đực với tỷ lệ an toàn đạt 100%.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu

Nội dung phần chuyên đề tập trung vào các kết quả khảo sát thực nghiệm về sinh trưởng của lợn thịt và dịch tễ học bệnh phân trắng lợn con:

  • Tổng quan tài liệu về sinh trưởng và bệnh phân trắng: Trình bày các quy luật biến đổi sinh hóa mô cơ thể, sự thay đổi hàm lượng protein, lipid, nước và khoáng chất theo tuổi; tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong nước về các tổ hợp lai lợn ngoại 3 máu như Du × (Yr × Lr) của Lê Thanh Hải (1995), Lr × (Yr × MC) của Vũ Đình Tôn (2008), PiDu × F1(LrYr) của Phan Xuân Hảo (2009) và các công trình quốc tế. Đánh giá nguyên nhân gây bệnh phân trắng do vi khuẩn E. coli, vai trò của kháng thể sữa đầu và các yếu tố stress môi trường.
  • Khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của đàn lợn thịt F3 (PiDu × Landrace):
    • Khối lượng tích lũy: Đàn lợn theo dõi có khối lượng khởi điểm lúc 60 ngày tuổi trung bình là 24,62 ± 0,21 kg; đến 90 ngày tuổi đạt 48,42 ± 0,18 kg; đến 120 ngày tuổi đạt 71,50 ± 0,26 kg; và khi kết thúc ở 152 ngày tuổi đạt 97,82 ± 0,20 kg. Hệ số biến thiên qua các kỳ cân rất thấp (Cv giảm dần từ 3,33% xuống 0,77%), phản ánh tính đồng đều cao của đàn lợn lai nuôi bằng cám công nghiệp CP.
    • Sinh trưởng tuyệt đối: Giai đoạn 60–90 ngày tuổi đạt 800,00 g/con/ngày; giai đoạn 90–120 ngày tuổi đạt 769,33 g/con/ngày; giai đoạn 120–152 ngày tuổi đạt 822,50 g/con/ngày. Tính chung toàn bộ giai đoạn từ 60 đến 152 ngày tuổi, sinh trưởng tuyệt đối trung bình đạt 795,65 g/con/ngày.
    • Sinh trưởng tương đối: Biến thiên theo chiều hướng giảm dần phù hợp quy luật sinh học; đạt 65,16% ở giai đoạn 60–90 ngày tuổi; giảm xuống 38,49% ở giai đoạn 90–120 ngày tuổi; và đạt 31,12% ở giai đoạn 120–152 ngày tuổi. Sinh trưởng tương đối bình quân cả chu kỳ đạt 119,56%.
    • Hiệu quả sử dụng thức ăn: Tổng lượng thức ăn hỗn hợp đàn lợn 50 con tiêu thụ trong suốt giai đoạn thí nghiệm là 9.154 kg. Tổng khối lượng tăng đạt 3.660 kg (từ 1.231,3 kg đầu kỳ lên 4.891,3 kg cuối kỳ). Hệ số tiêu tốn thức ăn (TTTA) tính chung cho cả chu kỳ nuôi thịt đạt 2,50 kg thức ăn/kg tăng khối lượng.
  • Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng từ 21 đến 60 ngày tuổi:
    • Khảo sát dịch tễ theo đàn và theo cá thể: Trong 195 đàn theo dõi tại 4 dãy chuồng, có 65 đàn phát bệnh (tỷ lệ 33,33%). Khảo sát trên 1.012 lợn con theo dõi cá thể, có 357 con mắc bệnh (tỷ lệ 35,27%). Sự phân bố bệnh có sự sai khác giữa các dãy: dãy chuồng số 2 có tỷ lệ mắc cao nhất (40,81% theo đàn và 42,57% theo cá thể); dãy 1 và dãy 3 có tỷ lệ tương đương nhau (dãy 1 là 32,60% theo đàn, 33,33% theo cá thể; dãy 3 là 32,00% theo đàn, 34,28% theo cá thể); dãy chuồng số 4 có tỷ lệ thấp nhất (28,00% theo đàn và 28,63% theo cá thể). Nguyên nhân dãy 2 có tỷ lệ bệnh cao được xác định do mật độ nhốt lợn đông hơn, lượng chất thải nhiều làm tăng áp lực mầm bệnh E. coli.
    • Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi: Bệnh xuất hiện tập trung cao nhất ở giai đoạn 29–36 ngày tuổi (39,00%, 78/200 con) và giai đoạn 21–28 ngày tuổi (38,19%, 76/199 con). Sau đó tỷ lệ mắc giảm dần: giai đoạn 37–44 ngày tuổi đạt 36,36% (80/220 con); giai đoạn 45–52 ngày tuổi đạt 34,34% (68/198 con); và thấp nhất ở giai đoạn 53–60 ngày tuổi với 28,21% (55/195 con). Quy luật này phản ánh rõ giai đoạn khủng hoảng cai sữa khi lợn con vừa tách mẹ, thay đổi thức ăn và hệ tiêu hóa chưa hoàn chỉnh.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chi tiết về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của tổ hợp lợn lai F3 (PiDu × Landrace) và thực trạng bệnh lý phân trắng tại cơ sở chăn nuôi công nghiệp:

Giai đoạn theo dõi Khối lượng xuất kỳ (kg) Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) Sinh trưởng tương đối (%)
60 – 90 ngày tuổi 48,42 ± 0,18 800,00 65,16
90 – 120 ngày tuổi 71,50 ± 0,26 769,33 38,49
120 – 152 ngày tuổi 97,82 ± 0,20 822,50 31,12
Tính chung (60 – 152 ngày) 97,82 ± 0,20 795,65 119,56

Số liệu tổng hợp về hiệu quả sử dụng thức ăn và dịch tễ bệnh phân trắng:

Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị tính Số lượng / Kết quả
Số lượng lợn thịt theo dõi sinh trưởng Con 50
Tổng khối lượng bắt đầu (60 ngày tuổi) kg 1.231,3
Tổng khối lượng kết thúc (152 ngày tuổi) kg 4.891,3
Tổng khối lượng tăng kg 3.660,0
Tổng lượng thức ăn tiêu thụ kg 9.154,0
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (TTTA) kg 2,50
Tổng số đàn lợn con theo dõi bệnh phân trắng Đàn 195
Số đàn mắc bệnh phân trắng (tỷ lệ %) Đàn (%) 65 (33,33%)
Tổng số lợn con theo dõi bệnh phân trắng Con 1.012
Số lợn con mắc bệnh phân trắng (tỷ lệ %) Con (%) 357 (35,27%)
Tỷ lệ mắc phân trắng cao nhất theo lứa tuổi Ngày tuổi (%) 29 – 36 ngày (39,00%)
Tỷ lệ mắc phân trắng thấp nhất theo lứa tuổi Ngày tuổi (%) 53 – 60 ngày (28,21%)

Đóng góp của nghiên cứu:

  • Về mặt khoa học: Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về sức sản xuất của con lai F3 (PiDu × Landrace) trong điều kiện chăn nuôi chuồng kín tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Kết quả tăng trọng bình quân 795,65 g/con/ngày và tiêu tốn thức ăn 2,50 kg/kg tăng khối lượng cho thấy tiềm năng sinh trưởng vượt trội của con lai ba máu này khi so sánh với một số công thức lai lợn ngoại trước đây như Yr × Pi × Yr (537,04 g/ngày; TTTA 3,51 kg), Du × (Yr × Lr) (567 g/ngày; TTTA 3,24 kg) của Lê Thanh Hải (1995), hay Lr × (Yr × MC) (605,59 g/ngày; TTTA 3,04 kg) của Vũ Đình Tôn (2008). Đồng thời, đề tài làm sáng tỏ động thái phát sinh bệnh phân trắng theo mật độ chuồng nuôi và xác định mốc 21–36 ngày tuổi là thời kỳ rủi ro cao nhất.
  • Đề xuất và giải pháp thực tiễn từ tác giả:
    • Cán bộ kỹ thuật cần tăng cường giám sát, hướng dẫn công nhân phát hiện lợn ốm kịp thời ở giai đoạn đầu để xử lý cách ly, giảm thiểu lây lan.
    • Giám sát nghiêm ngặt quy trình sát trùng cá nhân của công nhân trước khi xuống chuồng nuôi.
    • Đảm bảo cung cấp nước uống đầy đủ, liên tục cho đàn lợn, đặc biệt trong những ngày thời tiết nắng nóng.
    • Rà soát, thay thế và sửa chữa các trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi đã cũ, hỏng nhằm giảm thất thoát và tai nạn chuồng nuôi.
    • Tuân thủ mật độ nuôi nhốt hợp lý tại các dãy chuồng nhằm hạn chế tích tụ chất thải và giảm áp lực mầm bệnh đường ruột.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo nghiệm giới hạn tại một cơ sở chăn nuôi gia công đơn lẻ (trang trại tư nhân hợp tác với CP tại xã Phù Lưu Tế, Hà Nội) trong khoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014), mang tính mùa vụ của vụ đông - xuân.
  • Đàn lợn thịt theo dõi sinh trưởng có quy mô 50 cá thể, số mẫu cân ở các kỳ là 15 con, chưa đại diện cho toàn bộ quy mô đàn thương phẩm lớn của toàn vùng.
  • Khóa luận chưa thực hiện mổ khảo sát để đánh giá các chỉ tiêu thân thịt sau giết mổ như tỷ lệ nạc, diện tích cơ thăn, độ dày mỡ lưng hay phẩm chất thịt xẻ của tổ hợp lai F3 (PiDu × Landrace).
  • Cơ sở vật chất chuồng trại tại cơ sở nghiên cứu bộc lộ một số thiết bị đã cũ, hệ thống xử lý nước thải còn gặp khó khăn, có thể ảnh hưởng phần nào đến độ ổn định của môi trường nuôi.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng theo dõi sinh trưởng trên quy mô đàn lợn thịt lớn hơn và lặp lại qua các mùa khác nhau trong năm để đánh giá toàn diện ảnh hưởng của thời tiết nhiệt đới.
  • Bổ sung chỉ tiêu khảo sát mổ thịt, phân tích tỷ lệ nạc, tỷ lệ thịt xẻ và chất lượng quặng thịt khi lợn xuất chuồng ở các khối lượng khác nhau.
  • Nghiên cứu phân lập chủng vi khuẩn E. coli tại trại, làm kháng sinh đồ để xác định mức độ mẫn cảm và kháng thuốc của vi khuẩn, phục vụ xây dựng phác đồ điều trị phân trắng lợn con chuẩn xác hơn mà không lạm dụng kháng sinh.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích sau:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y: Cung cấp tài liệu thực tế về phương pháp bố trí thí nghiệm theo dõi sinh trưởng của lợn thịt, phương pháp tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng tuyệt đối, tương đối, tiêu tốn thức ăn và phương pháp điều tra dịch tễ học bệnh truyền nhiễm trong trại chăn nuôi công nghiệp.
  • Cán bộ kỹ thuật và quản lý trang trại chăn nuôi lợn công nghiệp: Tham khảo quy trình chăm sóc nái chửa theo giai đoạn tuần thai, quy trình thụ tinh nhân tạo 6 bước, lịch tiêm phòng vắc xin tổng thể và các biện pháp tiêu độc chuồng trại bằng hóa chất Ommicide kết hợp vôi xút.
  • Người chăn nuôi lợn thịt thương phẩm: Sử dụng bảng số liệu tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của con lai F3 (PiDu × Landrace) làm căn cứ đối sánh để hoạch định định mức thức ăn hỗn hợp viên (552SF, 553F) và tính toán thời gian xuất chuồng tối ưu.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Bảng số liệu khối lượng qua các kỳ cân (Bảng 2.4), bảng tính tiêu tốn thức ăn (Bảng 2.6), biểu mẫu lịch sát trùng và phòng vắc xin (Bảng 1.1, 1.2), cùng bảng theo dõi tỷ lệ bệnh phân trắng theo độ tuổi (Bảng 2.8).

Câu hỏi thường gặp

1. Tổ hợp lai và chế độ thức ăn sử dụng để theo dõi sinh trưởng lợn thịt trong nghiên cứu là gì?

Đề tài theo dõi trên 50 con lợn lai F3 (PiDu × Landrace) với tỷ lệ 27 đực thiến và 23 cái, bắt đầu từ 60 ngày tuổi (khối lượng trung bình 24,62 kg) đến 152 ngày tuổi (khối lượng trung bình 97,82 kg). Chế độ thức ăn sử dụng là thức ăn hỗn hợp dạng viên của Công ty CP gồm 552SF (đoạn 60–90 ngày tuổi, đạm thô tối thiểu 19%, ME 3.150 Kcal/kg) và 553F (đoạn 90–152 ngày tuổi, đạm thô tối thiểu 17%, ME 3.100 Kcal/kg).

2. Tốc độ tăng khối lượng bình quân và tiêu tốn thức ăn (TTTA) của lợn thịt đạt bao nhiêu?

Tính chung cả giai đoạn từ 60 đến 152 ngày tuổi (92 ngày nuôi), sinh trưởng tuyệt đối bình quân của đàn lợn đạt 795,65 g/con/ngày; sinh trưởng tương đối đạt 119,56%. Tổng lượng thức ăn 50 lợn tiêu thụ là 9.154 kg để tạo ra 3.660 kg tăng khối lượng, tương ứng hệ số tiêu tốn thức ăn (TTTA) là 2,50 kg thức ăn/kg tăng khối lượng.

3. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng từ 21 đến 60 ngày tuổi là bao nhiêu và nhóm tuổi nào mắc cao nhất?

Khảo sát trên 1.012 lợn con thuộc 195 đàn cho thấy tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo đàn là 33,33% (65 đàn) và tỷ lệ mắc theo cá thể là 35,27% (357 con). Nhóm tuổi mắc cao nhất là 29–36 ngày tuổi (39,00%), kế tiếp là 21–28 ngày tuổi (38,19%). Tỷ lệ bệnh giảm dần ở các lứa tuổi lớn hơn và thấp nhất ở giai đoạn 53–60 ngày tuổi (28,21%).

4. Tại sao dãy chuồng số 2 có tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng cao hơn các dãy khác?

Kết quả khảo sát chỉ ra dãy chuồng số 2 có tỷ lệ cá thể mắc bệnh cao nhất (42,57% so với mức 28,63%–34,28% ở các dãy khác). Tác giả xác định nguyên nhân là do dãy chuồng này có mật độ nuôi nhốt đông hơn, dẫn đến lượng phân và nước tiểu thải ra ở mỗi ô chuồng nhiều hơn, tạo điều kiện ẩm ướt và tích tụ mầm bệnh E. coli xâm nhập vào đường tiêu hóa của gia súc non.

5. Khóa luận ghi nhận những bệnh lâm sàng phổ biến nào và kết quả điều trị trong công tác phục vụ sản xuất ra sao?

Bên cạnh bệnh phân trắng lợn con, tác giả tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh viêm bao khớp do Streptococcus suis (dùng Vetrimoxin), viêm phổi do phức hợp Mycoplasma (dùng Tylogenta, Hitamox LA, Bromhexine) và viêm tử cung ở lợn nái. Trong thực tế sản xuất tại trại, kết quả điều trị khỏi bệnh viêm tử cung đạt 83,75% (67/80 con), bệnh phân trắng đạt 100% (505/505 con), và bệnh viêm phổi đạt 87,16% (95/109 con).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Ngọc Cảnh đã phản ánh toàn diện công tác chăn nuôi thú y tại một trang trại gia công quy mô 1.200 nái của Công ty CP tại Hà Nội. Đề tài xác định được con lai F3 (PiDu × Landrace) có khả năng sinh trưởng tuyệt đối đạt bình quân 795,65 g/con/ngày và hệ số tiêu tốn thức ăn 2,50 kg/kg tăng trọng trong giai đoạn 60 đến 152 ngày tuổi. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng giai đoạn 21 đến 60 ngày tuổi là 35,27%, tập trung cao nhất vào giai đoạn khủng hoảng cai sữa từ 21 đến 36 ngày tuổi và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mật độ nuôi nhốt. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực tiễn tin cậy, đóng góp tư liệu hữu ích cho việc hoàn thiện quy trình chăm sóc, kiểm soát dịch tễ và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn công nghiệp.