Nghiên cứu tình hình và biện pháp phòng trị bệnh lợn con phân trắng tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên, đề xuất biện pháp phòng trị hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi - Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

50
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2. Ý nghĩa trong khoa học

1.3. Ý nghĩa thực tiễn

1.4. Cơ sở khoa học

1.5. Đặc điểm sinh lý của lợn con

1.6. Đặc điểm của bệnh phân trắng lợn con

1.7. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.7.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.7.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

2.2.1. Các chỉ tiêu theo dõi

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.3.2. Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin

3. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

3.1. Công tác phục vụ sản xuất

3.2. Công tác chăn nuôi

3.3. Công tác chuẩn đoán và điều trị

3.4. Kết quả nghiên cứu

3.4.1. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

3.4.2. Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

3.4.3. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tháng tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

3.4.4. Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng 02 loại thuốc floxacin và fatra

4. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Bệnh lợn con phân trắng

Bệnh lợn con phân trắng là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, thường xảy ra ở lợn con từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi. Bệnh do vi khuẩn Escherichia coli (E. coli) gây ra, dẫn đến tình trạng ỉa chảy, còi cọc, và chậm lớn. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể gây tổn thất kinh tế lớn cho người chăn nuôi. Bệnh này đặc biệt phổ biến tại các trang trại ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, nơi điều kiện thời tiết nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và lây lan của vi khuẩn.

1.1. Nguyên nhân và triệu chứng

Nguyên nhân chính của bệnh lợn con phân trắng là do vi khuẩn E. coli, thường xuất hiện trong môi trường kém vệ sinh. Triệu chứng bao gồm ỉa chảy, phân có màu trắng, lợn con bị mất nước, suy nhược, và chậm lớn. Bệnh thường xảy ra ở lợn con từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi, giai đoạn mà hệ tiêu hóa và miễn dịch của lợn con chưa hoàn thiện.

1.2. Ảnh hưởng kinh tế

Bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng đàn lợn. Lợn con bị bệnh thường chậm lớn, còi cọc, và có tỷ lệ tử vong cao. Điều này dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn cho các trang trại chăn nuôi, đặc biệt là ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên, nơi chăn nuôi lợn là một trong những ngành kinh tế chính.

II. Phòng bệnh lợn con

Phòng bệnh lợn con là biện pháp quan trọng để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và thiệt hại kinh tế. Các biện pháp phòng bệnh bao gồm cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại, đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý, và tiêm phòng vaccine. Đặc biệt, việc chăm sóc lợn con trong giai đoạn sơ sinh đến 45 ngày tuổi cần được chú trọng để tăng cường sức đề kháng và giảm nguy cơ mắc bệnh.

2.1. Vệ sinh chuồng trại

Vệ sinh chuồng trại là yếu tố then chốt trong phòng bệnh lợn con. Chuồng trại cần được làm sạch thường xuyên, đảm bảo khô ráo và thoáng mát. Việc sử dụng các chất khử trùng để tiêu diệt vi khuẩn E. coli cũng là biện pháp hiệu quả.

2.2. Chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp tăng cường sức đề kháng cho lợn con. Lợn con cần được bú sữa đầu sớm để hấp thụ kháng thể từ mẹ. Ngoài ra, việc bổ sung thức ăn giàu protein và vitamin cũng giúp lợn con phát triển khỏe mạnh.

III. Trị bệnh lợn con

Trị bệnh lợn con đòi hỏi sự can thiệp kịp thời và hiệu quả để giảm thiểu tỷ lệ tử vong và thiệt hại kinh tế. Các phương pháp điều trị bao gồm sử dụng thuốc kháng sinh như floxacinfatra, kết hợp với chăm sóc đặc biệt để phục hồi sức khỏe cho lợn con.

3.1. Sử dụng thuốc kháng sinh

Hai loại thuốc kháng sinh phổ biến được sử dụng để điều trị bệnh lợn con phân trắngfloxacinfatra. Các nghiên cứu tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên cho thấy hiệu quả điều trị của hai loại thuốc này là rất khả quan, giúp giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện sức khỏe của lợn con.

3.2. Chăm sóc đặc biệt

Lợn con bị bệnh cần được chăm sóc đặc biệt, bao gồm bổ sung nước và chất điện giải để chống mất nước, và giữ ấm để tránh nhiễm lạnh. Việc theo dõi sát sao tình trạng sức khỏe của lợn con cũng là yếu tố quan trọng trong quá trình điều trị.

IV. Kỹ thuật chăn nuôi lợn

Kỹ thuật chăn nuôi lợn hiện đại đóng vai trò quan trọng trong việc phòng và trị bệnh lợn con. Các kỹ thuật này bao gồm quản lý đàn lợn, kiểm soát môi trường chuồng trại, và áp dụng các biện pháp phòng bệnh hiệu quả. Tại Thái Nguyên, việc áp dụng các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến đã giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và nâng cao năng suất chăn nuôi.

4.1. Quản lý đàn lợn

Quản lý đàn lợn hiệu quả bao gồm việc theo dõi sức khỏe, tình trạng dinh dưỡng, và môi trường sống của lợn. Việc tách riêng lợn con bị bệnh để điều trị cũng là biện pháp quan trọng để ngăn chặn sự lây lan của bệnh.

4.2. Kiểm soát môi trường

Kiểm soát môi trường chuồng trại, bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, và vệ sinh, là yếu tố then chốt trong kỹ thuật chăn nuôi lợn. Môi trường chuồng trại cần được duy trì ở mức tối ưu để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển của lợn con.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi tại một số trang trại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Nƣớc ta vốn là một nƣớc nông nghiệp, trong đó chăn nuôi là một ngành nghề rất quan trọng và thu hút đƣợc nhiều lao động. Chăn nuôi lợn cung cấp một nguồn thực phẩm tƣơi ngon có giá trị dinh dƣỡng cao, nhƣ thịt, trứng, sữa.cho con ngƣời, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, các phụ phẩm da, lông, sừng, tiết…, cho công nghiệp chế biến. Chính vì thế tại các địa phƣơng ngày càng đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, tự túc truyền thống chuyển sang mô hình chăn nuôi trang trại theo hƣớng công nghiệp hiện đại. Cùng với việc chăn nuôi lợn ngày càng đƣợc mở rộng và phát triển mạnh mẽ theo hƣớng công nghiệp hóa thì tình hình dịch bệnh xảy ra cũng rất phức tạp, làm ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất, chất lƣợng hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi lợn.

Do điều kiện thời tiết nƣớc ta mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên tình hình dịch bệnh thƣờng hay xảy ra và lây lan nhanh cho đàn lợn. Một trong những bệnh mà lợn con hay mắc phải là bệnh phân trắng ở lợn con giai đoạn từ 01 đến 45 ngày tuổi. Bệnh phân trắng ở lợn con là bệnh truyền nhiễm cấp tính. Lợn con mắc bệnh này sẽ bị ỉa chảy, bệnh do vi khuẩn E.coli gây nên, khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị không kịp thời sẽ dẫn đến còi cọc, chậm lớn, làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng con giống, khả năng sinh trƣởng, phát triển chậm, gây tổn thất kinh tế lớn cho ngƣời chăn nuôi.

Do đó ngoài yếu tố dinh dƣỡng, chế độ chăm sóc nuôi dƣỡng thì công tác thú y là khâu rất quan trọng. Việc phòng và điều trị bệnh phân trắng cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản và đảm bảo cho sự tăng trƣởng trong cơ cấu đàn. n 2 Mặc dù đã đƣợc quan tâm chăm sóc rất tốt, song do ảnh hƣởng của thời tiết và một phần công tác thú y chƣa mang lại hiệu quả, nên tại địa bàn huyện Đồng Hỷ bệnh phân trắng ở lợn con vẫn xảy ra thƣờng xuyên và gây hậu quả nghiêm trọng. Xuất phát từ thực tiễn trên, đƣợc sự hƣớng dẫn của thầy giáo TS Đỗ Quốc Tuấn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi tại một số trang trại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị” 1.

Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá đƣợc tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con nuôi tại một số trang trại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên - Xác định đƣợc đƣợc hiệu lực điều trị bệnh của hai loại thuốc Norcoli và fatra 1.Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, học tập và nâng cao tay nghề, rèn luyện kỹ năng. - Tiếp cận với thực tế sản xuất, học tập và bổ sung thêm những kiến thức từ thực tiễn sản xuất. - Nắm bắt đƣợc tình hình chăn nuôi, dịch bệnh tại cơ sở thực tập.

Ý nghĩa thực tiễn. - Qua điều tra nắm bắt đƣợc tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi - Xác định đƣợc hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc, từ đó có thể khuyến cáo ngƣời dân sử dụng hai loại thuốc floxacin và fatra điều trị phân trắng cho lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.

Đặc điểm sinh lý của lợn con Nguyễn Đức Lƣu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), [19] khi nghiên cứu về sinh trƣởng ta không thể không đề cập đến quá trình phát triển. Sự phát dục của gia súc là quá trình tăng thêm, hoàn chỉnh thêm về chức năng của từng cơ quan, bộ phận để cơ thể có thể phát triển sinh trƣởng và phát dục, là 2 mặt của quá trình phát triển của cơ thể. Hai mặt này không có ranh giới, có phát dục đồng thời có sinh trƣởng và ngƣợc lại. Lợn con ở giai đoạn này có khả năng sinh trƣởng, phát dục rất nhanh.

So với khối lƣợng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi trọng lƣợng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp 12 - 14 lần. Do sinh trƣởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn con rất mạnh, lợn con sau 20 ngày tuổi, mỗi ngày cần tích lũy 9 - 14 gram protein/1kg khối lƣợng cơ thể, trong khi đó lợn trƣởng thành chỉ tích đƣợc 0,3 - 0,4 gram/1kg khối lƣợng cơ thể (Hà Thị Hảo và Trần Văn Phùng, 2003) [7]. Điều đó cho thấy, nhu cầu dinh dƣỡng của lợn con cao hơn lợn trƣởng thành rất nhiều, đặc biệt là protein. Mặt khác, ta biết lợn con trong thời kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính.

Vì vậy, tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn trƣởng thành. Tác giả Nguyễn Khánh Quắc và cs (1993) [24], cho biết: Các thành phần trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lƣợng nƣớc trong cơ thể giảm dần theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều. Hàm lƣợng lipit tăng nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi. Hàm lƣợng protein cũng tăng nhanh theo tuổi n 4 nhƣng với hàm lƣợng không nhất định.

Hàm lƣợng khoáng có biến đổi liên quan đến quá trình tạo xƣơng. Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có hàm lƣợng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21 - 56 ngày tuổi giảm không đáng kể. Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa ở lợn con. Cùng với sự tăng lên của khối lƣợng, cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhƣng chƣa hoàn thiện.

Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhƣng chƣa đƣợc hoàn thiện, chủ yếu là sự tăng về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già. Dung tích dạ dày của của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần, dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít. Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít). Sự tăng chiều dài và thể tích ruột non có quan hệ đến khả năng tiêu hóa cellulose khá cao trong thức ăn bổ sung.

Vì vậy, lợn con tập ăn sớm là biện pháp tốt nhất trong chăn nuôi. Cơ quan tiêu hoá của lợn phát triển hơn các cơ quan khác, khi còn trong bào thai, bộ máy tiêu hoá đã phát triển đầy đủ, song dung tích còn bé. Ở miệng lợn mới sinh những ngày đầu, hoạt tính amylaza trong nƣớc bọt cao. Men amylaza chủ yếu tiêu hoá thức ăn bột đƣờng còn lại, thức ăn xuống dạ dày tiêu hoá tiếp.

Dạ dày tiết ra các dịch vị , các men tiêu hóa , khi thƣ́c ăn xuố ng da ̣ dày , cơ trơn co bóp nhào trô ̣n thƣ́c ăn , cùng với đó các men tiêu hóa đƣơ ̣c thêm vào thức ăn. Men tripsinogen nhờ tác du ̣ng của HCl chuyể n thành tripsin có tác dụng thủy phân protit , peptit. Dịch vị tiêu hóa trong dạ dày lợn là khác nhau: ở lợn con bú sữa dịch vị tiết ra ban ngày là 31%, ban đêm là 69%, trong khi đó ở lơ ̣n trƣởng thành lƣơ ̣ng dich ̣ vi ban ̣ ngày tới 62%, ban đêm chỉ 38%. n 5 Nguyễn Thiê ̣n và cs (1998) [29] thì hàm lƣợng HCl của lợn con là 0,05 - 0,15%, ở lợn 90 ngày tuổi là 0,2 - 0,25%, lợn trƣởng thành 0,35 - 0,40%.

Số lƣơ ̣ng và chấ t lƣơ ̣ng thƣ́c ăn tố t sẽ làm tăng tính ngon miê ̣ng , dịch vị tiết ra nhiề u, tỷ lệ tiêu hóa cao. Ban đêm tỷ lê ̣ tiêu hóa cao hơn ban ngày , ban ngày dịch vị lại tiết ra nhiều hơn. Ở lợn từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở trạng thái sinh lý bình thƣờng nữa (Đào Trọng Đạt và cs. Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn đƣợc giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể.

Lợn con dƣới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lƣợng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tƣợng này đƣợc gọi là hypoclohydric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ dày lợn con. Vì thiếu HCl tự do nên dịch không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây nhiều bệnh đƣờng tiêu hóa ở lợn con (Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995) [8]. Dịch ruột do các tuyến Bruner ở màng nhầy tá tràng tiết ra.

Dịch ruột cùng với dịch tụy và dịch mật giúp cho quá trình trung hòa nhũ chấp xuống từ dạ dày, nhƣ vậy nó giúp bảo vệ thành ruột khỏi tác động của độ axit cao xuống từ dạ dày. Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non tiêu hóa chƣa triệt để. Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải, hấp thu lại nƣớc và chất khoáng. Thời gian thức ăn dừng lại ở ruột già từ 12 - 16 giờ.

Song ở đây chỉ 9% gluxit, 3% protein đƣợc tiêu hóa. Các chất không tiêu hóa hết đƣợc các vi khuẩn gây thối tạo thành các sản phẩm độc nhƣ crezol, phenol… Các sản phẩm này đƣợc hấp thu vào máu và đƣợc giải độc ở gan, phần cặn bã đi vào kết tràng, đƣợc tạo thành khuôn phân và đƣợc thải ra ngoài. Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chƣa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chƣa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chƣa cân bằng. Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân: - Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt hoạt động kém vì vỏ đại não phát triển chƣa hoàn chỉnh, năng lực phản ứng còn yếu, dễ bị ảnh hƣởng khi khí hậu bên ngoài thay đổi đột ngột.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Phòng và trị bệnh lợn con phân trắng từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh phân trắng ở lợn con, một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất chăn nuôi. Tài liệu này không chỉ nêu rõ nguyên nhân và triệu chứng của bệnh mà còn đề xuất các phương pháp điều trị hiệu quả, giúp người chăn nuôi nâng cao khả năng quản lý sức khỏe đàn lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến 45 ngày tuổi.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến chăn nuôi và nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ tại trại Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình và biện pháp điều trị", nơi cung cấp thông tin chi tiết về tình hình bệnh lý tương tự. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con và biện pháp điều trị bệnh tại trại CP Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình" cũng sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các biện pháp điều trị bệnh này. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai đang tìm kiếm giải pháp hiệu quả trong chăn nuôi lợn con.