Đặt vấn đề Nƣớc ta vốn là một nƣớc nông nghiệp, trong đó chăn nuôi là một ngành nghề rất quan trọng và thu hút đƣợc nhiều lao động. Chăn nuôi lợn cung cấp một nguồn thực phẩm tƣơi ngon có giá trị dinh dƣỡng cao, nhƣ thịt, trứng, sữa.cho con ngƣời, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, các phụ phẩm da, lông, sừng, tiết…, cho công nghiệp chế biến. Chính vì thế tại các địa phƣơng ngày càng đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, tự túc truyền thống chuyển sang mô hình chăn nuôi trang trại theo hƣớng công nghiệp hiện đại. Cùng với việc chăn nuôi lợn ngày càng đƣợc mở rộng và phát triển mạnh mẽ theo hƣớng công nghiệp hóa thì tình hình dịch bệnh xảy ra cũng rất phức tạp, làm ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất, chất lƣợng hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi lợn.
Do điều kiện thời tiết nƣớc ta mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên tình hình dịch bệnh thƣờng hay xảy ra và lây lan nhanh cho đàn lợn. Một trong những bệnh mà lợn con hay mắc phải là bệnh phân trắng ở lợn con giai đoạn từ 01 đến 45 ngày tuổi. Bệnh phân trắng ở lợn con là bệnh truyền nhiễm cấp tính. Lợn con mắc bệnh này sẽ bị ỉa chảy, bệnh do vi khuẩn E.coli gây nên, khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị không kịp thời sẽ dẫn đến còi cọc, chậm lớn, làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng con giống, khả năng sinh trƣởng, phát triển chậm, gây tổn thất kinh tế lớn cho ngƣời chăn nuôi.
Do đó ngoài yếu tố dinh dƣỡng, chế độ chăm sóc nuôi dƣỡng thì công tác thú y là khâu rất quan trọng. Việc phòng và điều trị bệnh phân trắng cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản và đảm bảo cho sự tăng trƣởng trong cơ cấu đàn. n 2 Mặc dù đã đƣợc quan tâm chăm sóc rất tốt, song do ảnh hƣởng của thời tiết và một phần công tác thú y chƣa mang lại hiệu quả, nên tại địa bàn huyện Đồng Hỷ bệnh phân trắng ở lợn con vẫn xảy ra thƣờng xuyên và gây hậu quả nghiêm trọng. Xuất phát từ thực tiễn trên, đƣợc sự hƣớng dẫn của thầy giáo TS Đỗ Quốc Tuấn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi tại một số trang trại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị” 1.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá đƣợc tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con nuôi tại một số trang trại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên - Xác định đƣợc đƣợc hiệu lực điều trị bệnh của hai loại thuốc Norcoli và fatra 1.Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, học tập và nâng cao tay nghề, rèn luyện kỹ năng. - Tiếp cận với thực tế sản xuất, học tập và bổ sung thêm những kiến thức từ thực tiễn sản xuất. - Nắm bắt đƣợc tình hình chăn nuôi, dịch bệnh tại cơ sở thực tập.
Ý nghĩa thực tiễn. - Qua điều tra nắm bắt đƣợc tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con từ sơ sinh đến 45 ngày tuổi - Xác định đƣợc hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc, từ đó có thể khuyến cáo ngƣời dân sử dụng hai loại thuốc floxacin và fatra điều trị phân trắng cho lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Đặc điểm sinh lý của lợn con Nguyễn Đức Lƣu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), [19] khi nghiên cứu về sinh trƣởng ta không thể không đề cập đến quá trình phát triển. Sự phát dục của gia súc là quá trình tăng thêm, hoàn chỉnh thêm về chức năng của từng cơ quan, bộ phận để cơ thể có thể phát triển sinh trƣởng và phát dục, là 2 mặt của quá trình phát triển của cơ thể. Hai mặt này không có ranh giới, có phát dục đồng thời có sinh trƣởng và ngƣợc lại. Lợn con ở giai đoạn này có khả năng sinh trƣởng, phát dục rất nhanh.
So với khối lƣợng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi trọng lƣợng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp 12 - 14 lần. Do sinh trƣởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn con rất mạnh, lợn con sau 20 ngày tuổi, mỗi ngày cần tích lũy 9 - 14 gram protein/1kg khối lƣợng cơ thể, trong khi đó lợn trƣởng thành chỉ tích đƣợc 0,3 - 0,4 gram/1kg khối lƣợng cơ thể (Hà Thị Hảo và Trần Văn Phùng, 2003) [7]. Điều đó cho thấy, nhu cầu dinh dƣỡng của lợn con cao hơn lợn trƣởng thành rất nhiều, đặc biệt là protein. Mặt khác, ta biết lợn con trong thời kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính.
Vì vậy, tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn trƣởng thành. Tác giả Nguyễn Khánh Quắc và cs (1993) [24], cho biết: Các thành phần trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lƣợng nƣớc trong cơ thể giảm dần theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều. Hàm lƣợng lipit tăng nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi. Hàm lƣợng protein cũng tăng nhanh theo tuổi n 4 nhƣng với hàm lƣợng không nhất định.
Hàm lƣợng khoáng có biến đổi liên quan đến quá trình tạo xƣơng. Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có hàm lƣợng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21 - 56 ngày tuổi giảm không đáng kể. Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa ở lợn con. Cùng với sự tăng lên của khối lƣợng, cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhƣng chƣa hoàn thiện.
Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhƣng chƣa đƣợc hoàn thiện, chủ yếu là sự tăng về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già. Dung tích dạ dày của của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần, dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít. Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít). Sự tăng chiều dài và thể tích ruột non có quan hệ đến khả năng tiêu hóa cellulose khá cao trong thức ăn bổ sung.
Vì vậy, lợn con tập ăn sớm là biện pháp tốt nhất trong chăn nuôi. Cơ quan tiêu hoá của lợn phát triển hơn các cơ quan khác, khi còn trong bào thai, bộ máy tiêu hoá đã phát triển đầy đủ, song dung tích còn bé. Ở miệng lợn mới sinh những ngày đầu, hoạt tính amylaza trong nƣớc bọt cao. Men amylaza chủ yếu tiêu hoá thức ăn bột đƣờng còn lại, thức ăn xuống dạ dày tiêu hoá tiếp.
Dạ dày tiết ra các dịch vị , các men tiêu hóa , khi thƣ́c ăn xuố ng da ̣ dày , cơ trơn co bóp nhào trô ̣n thƣ́c ăn , cùng với đó các men tiêu hóa đƣơ ̣c thêm vào thức ăn. Men tripsinogen nhờ tác du ̣ng của HCl chuyể n thành tripsin có tác dụng thủy phân protit , peptit. Dịch vị tiêu hóa trong dạ dày lợn là khác nhau: ở lợn con bú sữa dịch vị tiết ra ban ngày là 31%, ban đêm là 69%, trong khi đó ở lơ ̣n trƣởng thành lƣơ ̣ng dich ̣ vi ban ̣ ngày tới 62%, ban đêm chỉ 38%. n 5 Nguyễn Thiê ̣n và cs (1998) [29] thì hàm lƣợng HCl của lợn con là 0,05 - 0,15%, ở lợn 90 ngày tuổi là 0,2 - 0,25%, lợn trƣởng thành 0,35 - 0,40%.
Số lƣơ ̣ng và chấ t lƣơ ̣ng thƣ́c ăn tố t sẽ làm tăng tính ngon miê ̣ng , dịch vị tiết ra nhiề u, tỷ lệ tiêu hóa cao. Ban đêm tỷ lê ̣ tiêu hóa cao hơn ban ngày , ban ngày dịch vị lại tiết ra nhiều hơn. Ở lợn từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở trạng thái sinh lý bình thƣờng nữa (Đào Trọng Đạt và cs. Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn đƣợc giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Lợn con dƣới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lƣợng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tƣợng này đƣợc gọi là hypoclohydric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ dày lợn con. Vì thiếu HCl tự do nên dịch không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây nhiều bệnh đƣờng tiêu hóa ở lợn con (Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995) [8]. Dịch ruột do các tuyến Bruner ở màng nhầy tá tràng tiết ra.
Dịch ruột cùng với dịch tụy và dịch mật giúp cho quá trình trung hòa nhũ chấp xuống từ dạ dày, nhƣ vậy nó giúp bảo vệ thành ruột khỏi tác động của độ axit cao xuống từ dạ dày. Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non tiêu hóa chƣa triệt để. Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải, hấp thu lại nƣớc và chất khoáng. Thời gian thức ăn dừng lại ở ruột già từ 12 - 16 giờ.
Song ở đây chỉ 9% gluxit, 3% protein đƣợc tiêu hóa. Các chất không tiêu hóa hết đƣợc các vi khuẩn gây thối tạo thành các sản phẩm độc nhƣ crezol, phenol… Các sản phẩm này đƣợc hấp thu vào máu và đƣợc giải độc ở gan, phần cặn bã đi vào kết tràng, đƣợc tạo thành khuôn phân và đƣợc thải ra ngoài. Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chƣa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chƣa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chƣa cân bằng. Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân: - Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt hoạt động kém vì vỏ đại não phát triển chƣa hoàn chỉnh, năng lực phản ứng còn yếu, dễ bị ảnh hƣởng khi khí hậu bên ngoài thay đổi đột ngột.