Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò then chốt trong cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam, đóng góp lớn vào nguồn cung thực phẩm và giải quyết việc làm cho người chăn nuôi. Tuy nhiên, sự phát triển tập trung của các mô hình chăn nuôi quy mô lớn cũng đi kèm với nguy cơ dịch bệnh gia tăng. Một trong những bệnh lý phổ biến và gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng nhất đối với đàn lợn con là bệnh phân trắng (tiêu chảy do vi khuẩn, đặc biệt là Escherichia coli). Bệnh thường phát sinh trong giai đoạn từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi, trong đó giai đoạn nặng nhất và đe dọa tỷ lệ sống cao nhất là từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (thời kỳ theo mẹ). Khi mắc bệnh, lợn con bị ỉa phân màu trắng đục hoặc trắng xám, mất nước nghiêm trọng, lông xù, còi cọc, chậm lớn và có thể chết với tỷ lệ cao nếu không được hộ lý, can thiệp điều trị kịp thời.
Xuất phát từ thực trạng chăn nuôi gia công và áp lực dịch bệnh trên đàn lợn theo mẹ, đề tài "Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng tại trại lợn ông Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và biện pháp phòng trị bệnh" được tác giả Nguyễn Thị Kim Liên thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Từ Trung Kiên tại Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (khóa 2012 – 2016).
Văn bản khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Theo dõi và điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng trên đàn lợn con tại cơ sở thực tập (Trại lợn nái Trần Văn Tuyên).
- Đánh giá hiệu quả công tác phòng và điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trang trại.
- Trực tiếp tham gia công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, hộ lý và điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ; rèn luyện tay nghề và đúc kết bài học chuyên môn thực tế nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi cho cơ sở.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi và bệnh lý phân trắng trên đàn lợn theo mẹ. Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành tại Trại lợn nái gia công của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam do ông Trần Văn Tuyên làm chủ, đặt tại xóm Cửa Lũy, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình (quy mô thiết kế 1.200 nái cơ bản, diện tích 2 ha). Phạm vi thời gian nghiên cứu và theo dõi thực địa diễn ra từ ngày 18 tháng 11 năm 2015 đến ngày 25 tháng 5 năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên các nền tảng lý thuyết chuyên ngành Thú y và Chăn nuôi:
- Đặc điểm sinh lý học lợn con giai đoạn bú sữa: Lợn con sinh trưởng rất nhanh (khối lượng lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần, 21 ngày tuổi gấp 4 lần sơ sinh theo Trần Thị Dân, 2008), tuy nhiên bộ máy tiêu hóa và điều tiết thân nhiệt chưa hoàn thiện. Lợn sơ sinh có hàm lượng nước chiếm 82% cơ thể, lớp mỡ dưới da mỏng, lượng glycogen thấp khiến thân nhiệt giảm từ 5 - 10°C chỉ sau 30 phút sinh nếu không được sưởi ấm. Dạ dày lợn con dưới 1 tháng tuổi ở tình trạng thiếu axit HCl tự do (hypohydric), men pepsinogen chưa được hoạt hóa hoàn toàn khiến việc tiêu hóa protein thức ăn ngoài sữa gặp trở ngại và giảm khả năng diệt khuẩn tự nhiên của dịch vị. Lợn con phụ thuộc hoàn toàn vào miễn dịch thụ động từ kháng thể $\gamma$-globulin trong sữa đầu lợn mẹ qua cơ chế ẩm bào trong 24 giờ đầu sau sinh (đạt 20,3 mg/100 ml máu sau 24 giờ, giảm dần còn 24 mg/100 ml ở 3 tuần tuổi). Bên cạnh đó, nhu cầu sắt của lợn con đạt 6 - 7 mg/con/ngày trong khi sữa mẹ chỉ cung cấp khoảng 1 mg/con/ngày, dẫn đến nguy cơ thiếu máu thiếu sắt nếu không được tiêm bổ sung.
- Căn nguyên vi sinh vật học (Escherichia coli): Trực khuẩn Gram âm hiếu khí và yếm khí tùy tiện, kích thước 2 - 3 $\times$ 0,6 $\mu$m. Vi khuẩn có hệ kháng nguyên phức tạp gồm kháng nguyên thân O (chịu nhiệt, mang nội độc tố endotoxin), kháng nguyên lông H (bản chất protein, chịu nhiệt kém), kháng nguyên bề mặt K (polysaccharide bảo vệ vi khuẩn). Vi khuẩn lên men sinh hơi glucose, lactose, galactose, mannitol; phản ứng Indol và Methyl Red (MR) dương tính; phản ứng $H_2S$, VP, Urease âm tính; mọc trên các môi trường chẩn đoán vi sinh vật thông thường như MacConkey (khuẩn lạc đỏ hồng), EMB (khuẩn lạc đen tím ánh kim), Endo (khuẩn lạc đỏ).
- Cơ chế bệnh sinh: Khi lợn con gặp các yếu tố bất lợi (nhiệt độ lạnh, độ ẩm chuồng cao, thiếu sắt, sữa mẹ kém hoặc giảm đột ngột lúc 20 ngày tuổi), chủng E. coli cường độc bám dính vào lớp biểu mô nhung mao ruột non thông qua kháng nguyên bám dính, nhân lên và tiết độc tố ruột (enterotoxin), gây rối loạn cân bằng điện giải, mất nước nghiêm trọng và viêm ruột cấp tính.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa điều tra gián tiếp và điều tra trực tiếp:
- Phương pháp điều tra gián tiếp: Thu thập, hồi cứu số liệu chăn nuôi, cơ cấu đàn lợn và báo cáo dịch bệnh của trang trại trong giai đoạn từ năm 2014 đến tháng 5/2016.
- Phương pháp điều tra trực tiếp: Theo dõi lâm sàng trên toàn bộ 478 lợn con thuộc các lứa đẻ sinh ra trong thời gian thực tập; ghi nhận triệu chứng, phân loại mức độ bệnh theo tháng, theo tuần tuổi (sơ sinh - 7 ngày, 8 - 15 ngày, 16 - 21 ngày) và theo giống lợn mẹ (Landrace, Yorkshire, Duroc).
- Phương pháp xác định chỉ tiêu: Đánh giá dựa trên các công thức dịch tễ học thú y chuẩn xác gồm: Tỷ lệ mắc bệnh (%), Tỷ lệ chết (%), Tỷ lệ khỏi bệnh (%), Tỷ lệ tái phát (%) và Thời gian điều trị khỏi trung bình ($\bar{X} = \frac{\sum x_i n_i}{n}$).
- Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu điều tra được tổng hợp và phân tích thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi lợn tập trung, phân tích bệnh phân trắng như một trở ngại lớn gây giảm tỷ lệ nuôi sống và làm còi cọc đàn lợn con. Xác lập rõ ràng mục đích, mục tiêu, ý nghĩa khoa học (bổ sung dẫn liệu dịch tễ học thú y tại cơ sở) và ý nghĩa thực tiễn (đưa ra giải pháp vệ sinh chuồng trại, phòng bệnh bằng vaccine và xây dựng phác đồ điều trị phù hợp cho trại lợn gia công).
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Nội dung chương này tổng hợp toàn diện các điều kiện cơ sở và nền tảng lý thuyết:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa phương: Xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình là huyện miền núi đá vôi tiếp giáp Ninh Bình và Thanh Hóa, dân số 65.780 người (người Mường chiếm 67,57%), khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, ít lũ lụt nhưng mùa đông - xuân độ ẩm cao.
- Điều kiện cơ sở vật chất trang trại: Trại lợn nái Trần Văn Tuyên nuôi gia công cho Công ty C.P. Việt Nam trên diện tích 2 ha, cách khu dân cư hơn 1 km; gồm 3 chuồng đẻ, 2 chuồng nái chửa, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống; trang bị hệ thống làm mát giàn lạnh, lọc khí phòng bụi, quạt thông gió, hầm biogas xử lý chất thải và hệ thống cấp nước uống tự động. Giống nái sử dụng là Landrace thuần và con lai Yorkshire $\times$ Duroc, đạt năng suất 2,2 - 2,5 lứa/năm, từ 10 - 12 con/lứa, cai sữa ở 21 - 23 ngày tuổi.
- Biến động cơ cấu đàn lợn: Thống kê số lượng lợn nuôi tại trại từ năm 2014 đến tháng 5/2016.
| Năm |
Tổng số nái (con) |
Tổng số lợn đực (con) |
Tổng số lợn con (con) |
Tổng đàn (con) |
| 2014 |
1.189 |
41 |
28.800 |
30.030 |
| 2015 |
1.352 |
36 |
30.150 |
31.538 |
| 5 tháng đầu 2016 |
1.434 |
36 |
16.360 |
17.830 |
- Cơ sở khoa học và tổng quan tài liệu: Phân tích chi tiết đặc điểm sinh lý học lợn con (tiêu hóa, thân nhiệt, miễn dịch), vi khuẩn học E. coli và tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước (Trần Thị Dân, Phạm Khắc Hiếu, Nguyễn Thị Nội, Đậu Ngọc Hào...) cũng như quốc tế (Luther, Glawischnig, Jones, Smith...).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày rõ quy trình theo dõi 478 lợn con theo mẹ (từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi) từ 18/11/2015 đến 25/5/2016 tại cơ sở. Xác định cụ thể 7 nhóm chỉ tiêu nghiên cứu dịch tễ, quy chuẩn quan sát lâm sàng, phương thức bố trí lô thí nghiệm điều trị và các công thức toán học dùng trong phân tích số liệu.
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Chương này phản ánh toàn bộ dữ liệu thực tế và phân tích của tác giả qua 2 mảng công tác:
- Công tác phục vụ sản xuất:
- Chăm sóc nuôi dưỡng: Quy định khẩu phần thức ăn cho nái chửa theo tuần tuổi thai: tuần 1 - 12 dùng cám 566 (1,5 - 2,0 kg/ngày), tuần 13 - 14 dùng cám 566 (2,5 - 3,0 kg/ngày), tuần 15 trở đi dùng cám 567SF (3,5 - 4,0 kg/ngày). Nái chờ đẻ chuyển chuồng đẻ trước 7 - 10 ngày ăn 3 kg/ngày, giảm còn 0,5 kg/bữa trước đẻ 3 ngày; sau đẻ 2 ngày tăng dần thức ăn từ 1 - 5 kg/ngày (nái gầy hoặc nuôi nhiều con cho ăn tới 6 kg/ngày).
- Vệ sinh sát trùng: Lịch phun tiêu độc định kỳ bằng Omnicide (pha 320 ml/1.000 lít nước, phun 2 lần/ngày trong chuồng), quét vôi đường đi, rắc vôi bột gầm chuồng, xả vôi xút; tấm đan chuồng đẻ sau cai sữa được tháo dỡ ngâm dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, cọ rửa và phơi khô.
- Phòng bệnh bằng vaccine: Lợn con 2 - 3 ngày tuổi tiêm Fe + $B_{12}$ (1 ml/con) và Nova-Ampisur (1 ml/con); 3 - 6 ngày tuổi uống Nova-Coc 5% (1 ml/con) phòng cầu trùng; 16 - 18 ngày tuổi tiêm bắp vaccine dịch tả Coglapest (2 ml/con). Toàn đàn nái, đực, hậu bị được tiêm phòng định kỳ các vaccine Parvo (khô thai), Coglapest (dịch tả), Begonia (giả dại), Aftopor (lở mồm long móng).
- Tham gia can thiệp lâm sàng: Ghi nhận triệu chứng và phác đồ điều trị bệnh viêm phổi lợn do Mycoplasma hyopneumoniae (tiêm bắp Vetrimoxin 1 ml/10 kg thể trọng, 2 ngày/lần, 3 - 5 ngày) và viêm tử cung lợn nái (tiêm Oxytocin 3 - 5 ml/con, Analgin 1 ml/10 kg thể trọng/ngày, Vetrimoxin 1 ml/10 kg thể trọng/lần/2 ngày trong 3 - 5 ngày).
- Kết quả chuyên đề nghiên cứu bệnh phân trắng: Phân tích cụ thể tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết theo tháng (tháng 1 cao nhất với tỷ lệ mắc 26,55%, chết 20,00%), theo giai đoạn tuổi (giai đoạn 8 - 15 ngày tuổi mắc cao nhất đạt 8,99%) và theo giống (Landrace mắc 22,79%, Yorkshire mắc 21,52%, Duroc mắc 19,23%). Đồng thời giới thiệu đặc tính các hóa dược trị liệu dùng tại trại như Norfloxacin 50 (cho uống 1 g/lít nước liên tục 3 - 5 ngày), Nova-Amcoli và Nor 100.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đúc kết các phát hiện dịch tễ chính tại trại lợn ông Trần Văn Tuyên và đề xuất các biện pháp kỹ thuật quản lý, giữ ấm, vệ sinh tiêu độc nhằm giảm thiểu tối đa tỷ lệ phát sinh bệnh phân trắng trên đàn lợn con.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất được hệ thống số liệu dịch tễ học thực địa đầy đủ trên đàn lợn con theo mẹ tại trang trại qua 3 chỉ tiêu phân loại chính:
Tỷ lệ mắc và chết do bệnh phân trắng theo các tháng theo dõi
Dữ liệu theo dõi liên tục 478 lợn con từ tháng 12/2015 đến tháng 4/2016 cho thấy sự biến động rõ rệt theo điều kiện khí hậu mùa đông - xuân miền Bắc:
| Tháng |
Số lợn theo dõi (con) |
Số lợn mắc bệnh (con) |
Tỷ lệ mắc (%) |
Số lợn chết (con) |
Tỷ lệ chết/mắc (%) |
| 12/2015 |
95 |
24 |
25,26 |
3 |
12,50 |
| 01/2016 |
113 |
30 |
26,55 |
6 |
20,00 |
| 02/2016 |
97 |
20 |
20,62 |
2 |
10,00 |
| 03/2016 |
82 |
16 |
19,51 |
1 |
6,25 |
| 04/2016 |
91 |
16 |
17,58 |
2 |
12,50 |
| Tổng |
478 |
106 |
22,18 |
14 |
13,21 |
Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất tập trung vào tháng 1 (26,55%) và tháng 12 (25,26%), sau đó giảm dần vào tháng 3 (19,51%) và tháng 4 (17,58%). Nguyên nhân do tháng 12 và tháng 1 có nhiệt độ môi trường xuống thấp kết hợp mưa phùn ẩm ướt, làm giảm thân nhiệt và suy yếu sức đề kháng của lợn sơ sinh.
Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi lợn con
Phân chia giai đoạn theo dõi lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi thành 3 mốc tuổi ghi nhận:
| Lứa tuổi (ngày) |
Số lợn theo dõi (con) |
Số lợn mắc bệnh (con) |
Tỷ lệ mắc (%) |
Số lợn chết (con) |
Tỷ lệ chết/mắc (%) |
| Sơ sinh – 7 ngày |
478 |
36 |
7,53 |
4 |
11,11 |
| 8 – 15 ngày |
478 |
43 |
8,99 |
8 |
18,60 |
| 16 – 21 ngày |
478 |
27 |
5,64 |
2 |
7,41 |
| Tổng |
478 |
106 |
22,18 |
14 |
13,21 |
Lợn con ở giai đoạn 8 - 15 ngày tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (8,99%) và tỷ lệ chết cao nhất (18,60%). Tác giả chỉ ra nguyên nhân là do lượng kháng thể thụ động từ sữa mẹ sụt giảm mạnh, lợn con bắt đầu tập ăn cám ngoài (4 - 7 ngày tuổi) gây xáo trộn tiêu hóa, kết hợp tình trạng thiếu hụt sắt huyết sắc tố và tập tính gặm liếm chuồng nuôi. Ở giai đoạn 16 - 21 ngày tuổi, tỷ lệ mắc giảm xuống thấp nhất (5,64%) do hệ thần kinh và hệ tiêu hóa đã thích ứng dần với thức ăn bổ sung.
Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo giống lợn
Khảo sát trên 3 nhóm giống lợn nuôi tại trại cho kết quả:
| Giống lợn |
Số con điều tra (con) |
Số con nhiễm bệnh (con) |
Tỷ lệ mắc (%) |
| Landrace |
215 |
49 |
22,79 |
| Yorkshire |
237 |
52 |
21,52 |
| Duroc |
26 |
5 |
19,23 |
| Tính chung |
478 |
106 |
22,18 |
Tỷ lệ mắc giữa các giống chênh lệch không lớn, dao động từ 19,23% đến 22,79%, chứng minh bệnh phân trắng phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện chăm sóc, tiểu khí hậu chuồng nuôi và sinh lý lứa tuổi hơn là tính cảm nhiễm theo giống.
Đóng góp thực tiễn và so sánh học thuật
- So sánh nghiên cứu: Kết quả quy luật lứa tuổi mắc bệnh phù hợp với công bố của Nguyễn Thị Kim Anh (2015) khi cùng ghi nhận tuần tuổi thứ hai (8 - 14 hoặc 8 - 15 ngày tuổi) là giai đoạn mắc bệnh cao nhất. Diễn biến bệnh mùa đông - xuân tương đồng với nhận định của Lê Thị Châm (2014) và Nguyễn Chí Dũng (2013) về mối liên quan giữa nhiệt độ thấp, ẩm độ cao với sự bùng phát tiêu chảy E. coli.
- Đóng góp kỹ thuật: Cung cấp bức tranh thực tế về quy trình chăm sóc khép kín nái - con theo tiêu chuẩn chăn nuôi gia công của C.P. Việt Nam tại vùng đồi núi Hòa Bình; chuẩn hóa quy trình vệ sinh chuồng đẻ (ngâm đan bằng NaOH 10%, phun Omnicide 320 ml/1.000 lít nước) và lịch tiêm phòng dịch tả Coglapest, lở mồm long móng Aftopor, giả dại Begonia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn gắn liền với phạm vi nghiên cứu thực địa:
- Đề tài chỉ thực hiện điều tra trên một cơ sở chăn nuôi gia công duy nhất (Trại lợn nái Trần Văn Tuyên) trong khoảng thời gian từ tháng 11/2015 đến tháng 5/2016, chủ yếu phản ánh tình hình dịch tễ mùa đông và xuân, chưa theo dõi được đầy đủ diễn biến dịch tễ vào các tháng mùa hè nắng nóng trong năm.
- Giới hạn nghiên cứu dừng lại ở đàn lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại chuồng đẻ, chưa theo dõi tiếp tục giai đoạn lợn con sau cai sữa (từ 22 đến 60 ngày tuổi) khi chuyển sang trại nuôi lợn con cai sữa và hậu bị.
- Về mặt kỹ thuật vi sinh, nghiên cứu tập trung vào quan sát dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và hiệu quả sử dụng thuốc tại trang trại; văn bản chưa triển khai các bước lấy mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy, phân lập định danh huyết thanh chủng E. coli chuyên sâu hay thử nghiệm kháng sinh đồ tại phòng thí nghiệm chuyên khoa.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên là tài liệu tham khảo thực tiễn hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Thú y và Chăn nuôi Thú y: Nắm bắt phương pháp điều tra dịch tễ học lâm sàng trên đàn gia súc non, cách thức tổ chức thu thập số liệu tại trang trại và phương pháp tính toán các chỉ tiêu mắc, chết, khỏi bệnh.
- Kỹ thuật viên và người quản lý trang trại lợn nái: Ứng dụng quy trình chăm sóc nái mang thai theo từng tuần chửa, chế độ dinh dưỡng trước và sau đẻ, kỹ thuật đỡ đẻ, bấm nanh, cắt đuôi, tiêm sắt ($Fe + B_{12}$) và quy trình sát trùng chuồng đẻ bằng NaOH 10%.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng lịch phòng bệnh bằng vaccine chi tiết cho từng đối tượng lợn (lợn con, lợn hậu bị, lợn nái chửa, lợn đực giống) và phân tích nguyên nhân lợn con dễ mắc bệnh phân trắng nhất ở giai đoạn 8 - 15 ngày tuổi giúp người chăn nuôi chủ động điều chỉnh nhiệt độ lồng úm và chế độ tập ăn sớm.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ lợn con mắc và chết do bệnh phân trắng tại trại lợn Trần Văn Tuyên trong toàn bộ đợt khảo sát là bao nhiêu?
Trong tổng số 478 lợn con theo dõi từ tháng 12/2015 đến tháng 4/2016, có 106 con mắc bệnh phân trắng, chiếm tỷ lệ mắc 22,18%. Số lợn bị chết do bệnh là 14 con, chiếm tỷ lệ chết 13,21% trên tổng số lợn mắc bệnh.
2. Lứa tuổi nào lợn con có tỷ lệ mắc bệnh phân trắng cao nhất và nguyên nhân do đâu?
Lợn con ở lứa tuổi 8 - 15 ngày tuổi mắc bệnh cao nhất, chiếm 8,99% (chết 18,60% trên số mắc). Nguyên nhân do lượng kháng thể thụ động từ sữa mẹ suy giảm mạnh trong khi hệ miễn dịch chủ động chưa hoàn thiện; lợn con bắt đầu tập ăn thức ăn ngoài (4 - 7 ngày tuổi) gây kích ứng đường ruột; nhu cầu sắt tăng cao (6 - 7 mg/ngày) dẫn đến nguy cơ thiếu máu; đồng thời lợn con vận động nhiều và liếm láp nền chuồng khiến vi khuẩn xâm nhập.
3. Tỷ lệ mắc và chết do bệnh phân trắng cao nhất vào tháng nào trong đợt điều tra?
Tỷ lệ lợn con mắc bệnh cao nhất vào tháng 1/2016 với 26,55% (30/113 con) và tỷ lệ chết cao nhất cũng ở tháng 1 với 20,00% (6/30 con). Đứng thứ hai là tháng 12/2015 với tỷ lệ mắc 25,26% và tỷ lệ chết 12,50%. Đây là thời điểm nhiệt độ môi trường vùng Yên Thủy xuống thấp, có mưa phùn ẩm ướt làm giảm khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn non.
4. Trang trại thực hiện lịch phòng bệnh bằng thuốc và vaccine cho lợn con sơ sinh như thế nào?
Lợn con sơ sinh được quản lý theo lịch nghiêm ngặt: lứa tuổi 2 - 3 ngày được tiêm 1 ml/con chế phẩm Fe + $B_{12}$ phòng thiếu máu thiếu sắt và tiêm 1 ml/con Nova-Ampisur phòng tiêu chảy; lứa tuổi 3 - 6 ngày được cho uống 1 ml/con Nova-Coc 5% phòng bệnh cầu trùng; lứa tuổi 16 - 18 ngày được tiêm bắp 2 ml/con vaccine dịch tả lợn Coglapest.
5. Trang trại sử dụng thuốc sát trùng gì và xử lý tấm đan chuồng đẻ sau cai sữa ra sao?
Chuồng nuôi hàng ngày được phun sát trùng bằng thuốc Omnicide pha tỷ lệ 320 ml/1.000 lít nước (2 lần/ngày). Riêng tại các chuồng đẻ, sau khi lợn con cai sữa và chuyển đi, toàn bộ các tấm đan chuồng được tháo dỡ đem ngâm trong hố sát trùng chứa dung dịch NaOH 10% trong vòng 1 ngày, sau đó cọ sạch, phơi khô 1 ngày trước khi lắp lại vào khung chuồng đã khử trùng bằng vôi xút.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Kim Liên đã phản ánh chi tiết thực trạng dịch tễ học bệnh phân trắng trên đàn lợn con theo mẹ tại Trại lợn nái gia công C.P. quy mô 1.200 nái của ông Trần Văn Tuyên (Yên Thủy, Hòa Bình). Kết quả theo dõi 478 lợn con khẳng định bệnh phân trắng phát sinh mạnh nhất vào các tháng mùa đông lạnh có ẩm độ cao (tháng 12 và tháng 1) và ở nhóm tuổi 8 - 15 ngày tuổi do sự biến đổi sinh lý tiêu hóa, thiếu sắt và suy giảm miễn dịch thụ động. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực địa xác thực, làm sáng tỏ hiệu quả của việc kết hợp chăm sóc hộ lý, giữ ấm lồng úm, tuân thủ lịch vaccine định kỳ và vệ sinh tiêu độc chuồng trại bằng dung dịch sát trùng trong việc kiểm soát bệnh phân trắng ở lợn con.