Đặt vấn đề Trong chiến lược phát triển chăn nuôi, nước ta sẽ hướng tới sự tập trung công nghiệp, sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã được Chính phủ giao cho xây dựng chiến lược phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020 nhằm các mục tiêu: Các sản phẩm của ngành chăn nuôi phải đảm bảo vệ sinh môi trường, đặc biệt đáp ứng được nhu cầu về an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Như vậy, việc giám sát quy trình sản xuất từ đầu vào của chăn nuôi tới thành phẩm cho người tiêu dùng đòi hỏi phải chặt chẽ hay nói cách khác là từ “chuồng trại tới bàn ăn” phải đồng bộ. Chăn nuôi lợn ngoại đang được đẩy mạnh trong chăn nuôi nông hộ cũng như ở các gia trại, trang trại quy mô công nghiệp hiện nay.
Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại có năng xuất cao, tăng trọng nhanh, phẩm chất thịt tốt (tỷ lệ nạc cao, độ dày mỡ lưng thấp) đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng đang đòi hỏi, nhất là ở khu vực thành phố và các khu công nghiệp. Cho đến nay, lợn Landrace và Yorkshire là hai giống lợn đóng vai trò chủ yếu trong khâu sản xuất lợn giống và lợn lai nuôi thịt, hai giống lợn này đã và đang góp phần quan trọng vào các chương trình “nạc hóa” đàn lợn ở nước ta. Để đáp ứng nhu cầu trên, trại lợn nái ông Nguyễn Thanh Lịch được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để nuôi lợn gia công cho Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam với quy mô trên 1.200 lợn nái sinh sản, trong đó dòng CP90 chiếm tỷ lệ chính, chiếm trên 30% tổng đàn. Đàn lợn nái ngoại này đang phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng đàn con tốt.
Tuy nhiên, để thu 2 được hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn nái sinh sản ngoài phụ thuộc vào sức sản xuất của lợn nái, còn phụ thuộc vào tình hình dịch bệnh có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là chất lượng sản phẩm. Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa lợn mẹ, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển. Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản. Không những thế lợn nái bị bệnh viêm tử cung là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch - Huyện Ba Vì, Hà Nội và biện pháp điều trị ”. Mục tiêu của chuyên đề - Đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại tại trại Nguyễn Thanh Lịch – xã Ba Trại, Huyện Ba Vì, Hà Nội. - Đưa ra phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại. Ý nghĩa của chuyên đề Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh viêm tử cung ở lợn.
Là cơ sở khoa học cho công tác phòng và điều trị bệnh, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn nói chung. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cở sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Thanh Lịch nằm trên một quả đồi, cách xa khu dân cư, thuộc Huyện Ba Vì, Hà Nội.
Đây là một trong những trang trại có quy mô lớn. Trang trại có tổng diện tích khoảng hơn 2 ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ. Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2009 với số vốn đầu tư lên tới gần 20 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 3 giống lợn Landrace – Yorkshire và Duroc. Khu sản xuất gồm 3 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 3 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái, 23 lợn đực, 120 lợn hậu bị cùng 2500 lợn con đã tách mẹ.
Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng. Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 25.000 con lợn giống. Trang trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi. Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng loại lợn và thời gian mang thai.
Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế độ dinh dưỡng khác nhau. Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 2 kỹ sư chính, 2 tổ trưởng và 20 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này. 4 Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực.
Kỹ sư của trại đã chủ động tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn. Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày. Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt. Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo và đi ủng chuyên dụng.
Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng. Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất. Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng. Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải.
Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 2. Đối tượng sản xuất Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản gồm 3 giống bố mẹ chính 3 giống lợn là Landrace – Yorkshire và Duroc, lợn con sinh ra thuộc giống CP 31. Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng. Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Thanh Lịch là một trong những trang trại có quy mô lớn.
Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao. Dưới đây là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây: 5 Bảng 2. Chỉ tiêu đạt đƣợc của trại trong 3 năm gần đây: Số lợn qua các năm Chỉ tiêu Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Nái hậu bị (con) 340 360 384 Nái được phối (con) 3201 3253 3302 Tỷ lệ đậu thai (%) 89,32% 91,32% 91,25% Tổng số lợn con sinh ra (con) 32.204 Tổng số lợn con sinh sống (con) 30.012 Số lợn con chết, loại sau sinh (con) 1.604 1607 Số lợn con cai sữa/năm (con) 29.108 Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: số lợn nái hậu bị từ năm 2014 là 340 nái, tới năm 2016 tăng lên 384 nái, tăng 113%. Tỷ lệ phối đậu thai từ 89,32% (năm 2014) tăng lên 91,25% (năm 2016).
Số lợn con sinh ra, sống tới lúc cai sữa tăng lên, từ năm 2014 là 29.220 con tới năm 2015 là 30. Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch”. Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Thanh Lịch là một trong những trang trại gia công có kết quả chăn nuôi khá tốt trong hệ thống chăn nuôi lợn gia công của công ty CP Việt Nam. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nƣớc có liên quan đến nội dung của chuyên đề 2.Tổng quan tài liệu.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái Theo Đặng Quang Nam (2002) [7], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận sau: - Buồng trứng (Ovarium): Gồm một đôi (dài 1,5 - 2,5cm, khối lượng 3 - 5 gam) nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4.
Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên. Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loạt chất đệm. Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín. Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng.
Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết ra hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái). - Ống dẫn trứng (Oviductus): Ống dẫn trứng dài 15-20cm, uốn khúc nằm ở cạnh trước dây chằng rộng. Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và được chia làm 2 phần: Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2-0,3cm nối với sừng tử cung. Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào trong gồm có: Màng tương mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ (2 lớp: Cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài), lớp niêm mạc trong cùng có nhiều gấp nếp chạy dọc và không có tuyến.
- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi cung cấp dinh dưỡng và phát triển của thai. Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái. 7 Tử cung gồm 3 phần: Sừng, thân, cổ tử cung.