Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi nước ta. Theo USDA, năm 2015 nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam vào khoảng 2,245 triệu tấn, tăng 1,8% so với năm 2014. Vì vậy, chăn nuôi lợn cần được ưu tiên phát triển hơn nữa. Chăn nuôi lợn không những cung cấp thịt trong nước mà còn dùng để xuất khẩu.
Ngoài ra, nó còn là cơ hội cải thiện sinh kế cho những người có thu nhập thấp thông qua chăn nuôi, chế biến, thương mại các sản phẩm từ chăn nuôi. Để hướng tới phát triển chăn nuôi hàng hóa bền vững, người chăn nuôi cần phải cải tạo đàn lợn giống để có chất lượng con giống tốt và mang lại giá trị kinh tế cao. Tại các trại chăn nuôi cũng như chăn nuôi hộ gia đình đang được đẩy mạnh chăn nuôi lợn ngoại. Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại không những cho năng suất cao, tăng khối lượng nhanh mà còn đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.
Nắm được yếu tố đó, tại trại lợn của bà Trần Thị Mai ở xóm Soi Vàng - xã Tân Cương - thành phố Thái Nguyên đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất có 1. Tuy nhiên, trong quá trình chăn nuôi luôn gặp phải những khó khăn ngoài các nguyên nhân như các chính sách, chi phí đầu vào. còn phải đối mặt với dịch bệnh, đặc biệt là bệnh sản khoa. Một trong những bệnh sản khoa thường gặp là bệnh viêm tử cung ở lợn nái.
Bệnh này tuy không xảy ra ồ ạt như bệnh truyền nhiễm nhưng gây chết thai, lưu thai, sẩy thai, nghiêm trọng hơn là bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại 2 tại trại Trần Thị Mai - xóm Soi Vàng - xã Tân Cương - thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị” 1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại và đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả cao. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ xác định được tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả. Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục lợn cái Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái gồm bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và bộ phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng). Mỗi bộ phận này đều đảm nhiệm một chức năng khác nhau và giữ một vai trò quan trọng khác nhau. Bộ phận sinh dục bên ngoài Âm môn (Vulva) Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn.
Bên ngoài có hai môi dính với nhau ở mép trên và mép dưới. Bờ trên của hai môi có sắc tố màu đen và nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng, hơi dính và tuyến tiết mồ hôi. Âm vật (Clitoris) Âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực thu nhỏ lại. Trên âm vật có nếp da tạo thành mũ âm vật, ở giữa âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung các đầu mút các dây thần kinh.
Tiền đình (Vetstibulum vaginae simusinogenitalism) Là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng trinh. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật. Bộ phận sinh dục bên trong Âm đạo Cấu tạo như một ống cơ có thành dày, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh.
Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp: lớp liên kết bên ngoài, lớp cơ trơn, lớp niêm mạc. 4 Các loại gia súc khác nhau có chiều dài âm đạo cũng khác nhau. Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm. Âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống thải của các chất dịch từ trong tử cung.
Tử cung Tử cung gồm hai sừng tử cung, một thân và một sừng tử cung. Tỷ lệ tương đối của mỗi một bộ phận cũng như hình dáng và sự sắp xếp của các sừng biến động theo loài. Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương (2002) [8] thì cổ tử cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lược với nhau do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai. Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2] thì cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm.
Thân tử cung dài 3 - 5cm nối giữa sừng tử cung và cổ tử cung. Sừng tử cung hình ruột non, thông với ống dẫn trứng. Ống dẫn trứng Ống dẫn trứng (vòi Fallop) nằm ở màng treo buồng trứng. Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng, tiết các chất để nuôi dưỡng trứng, duy trì sự sống và tăng khả năng sống của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi vào tử cung.
Cấu tạo của ống dẫn trứng cũng phù hợp với chức năng này, một đầu ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có loa kèn là một màng mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy trứng. Trứng được vận chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra quá trình thụ tinh và phân chia phôi. Thời gian tế bào trứng di chuyển 5 trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày. Trên đường di hành, tế bào trứng có thể ở lại các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng.
Có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: đoạn tua điểm, đoạn phễu, phồng của ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng. Buồng trứng Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc ovan dẹt, không có lõm rụng trứng. Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hoocmon: Estrogen, Progesteron và Inhibin. Các hoocmon này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái.
Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương (2002) [8] thì buồng trứng của lợn dài 1,5 - 2,5 cm, khối lượng khoảng 3 - 5g. Cấu tạo: phía ngoài được bao bọc bởi một lớp màng bằng tổ chức liên kết sợi, bên trong chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, hai miền đó được cấu tạo bằng lớp mô liên kết sợi xốp tạo ra cho buồng trứng một chất đệm. Ở miền tủy có nhiều mạch máu và tổ chức xốp cũng dày hơn. Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng.
Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 2. Sự thành thục về tính Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. So với thành thục thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thường sớm hơn, nên người ta thường bỏ qua chu kỳ động dục đầu tiên, mà phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện về thể vóc, bộ phận sinh dục và có thể bước vào hoạt động sinh sản. Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh.
Đầu tiên hai mép âm môn sưng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và keo dính. Thần kinh 6 có sự biến đổi từ hưng phấn chuyển sang giai đoạn mê ì. Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các noãn bào nổi lên trên bề mặt trứng và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch. Ở lợn tuổi thành thục về tính là 6 - 8 tháng (Trần Tiến Dũng và cs 2002 [2]).
Chu kỳ tính Theo Nguyễn Thị Thúy Mỵ và Trần Thanh Vân (2014) [7] cho biết: lợn cái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15 - 16 ngày lại động dục, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ. Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt buồng trứng. Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng trứng con vật có biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục. Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng sau.
Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau. Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong phạm vi từ 18 - 25 ngày. Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn không động dục lại. Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày.
Sinh lý đẻ Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2] thì gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ dưới tác động của hệ thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn 7 đẻ để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ. Quá trình sinh đẻ của gia súc cái do co bóp của tử cung, cơ thành bụng, sức rặn toàn thân đẩy thai, màng nhau thai cùng với nước thai ra ngoài.