Luận án tiến sĩ về virus viêm gan vịt và kháng thể phòng bệnh tại đồng bằng sông Cửu Long

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phân lập và định danh virus viêm gan vịt tại đồng bằng sông Cửu Long, sản xuất kháng thể phòng bệnh hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Chuyên ngành

Vi Sinh Vật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

193
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về virus viêm gan vịt

Virus viêm gan vịt là một trong những tác nhân gây bệnh nghiêm trọng cho gia cầm, đặc biệt là vịt. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân lập và định danh virus viêm gan vịt tại các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Virus này có khả năng gây ra các triệu chứng lâm sàng nghiêm trọng, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao ở vịt con. Việc hiểu rõ về bệnh viêm gan vịt và các đặc điểm của virus là rất cần thiết để phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1 Đặc điểm của virus viêm gan vịt

Virus viêm gan vịt thuộc họ virus Picornaviridae, có cấu trúc gen đơn và có khả năng gây bệnh cho vịt. Đặc điểm sinh học của virus này bao gồm khả năng lây lan nhanh chóng qua đường tiêu hóa và hô hấp. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng virus có thể tồn tại trong môi trường và lây lan qua thức ăn, nước uống, và tiếp xúc giữa các cá thể. Việc phân lập virus từ các mẫu bệnh phẩm là bước đầu tiên trong việc xác định loại virus và nghiên cứu tính chất gây bệnh của nó.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thu thập mẫu từ các ổ dịch tại năm tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Các mẫu bệnh phẩm được nuôi cấy trên môi trường phôi vịt và tế bào xơ phôi vịt. Kỹ thuật PCR được áp dụng để phát hiện và định danh các chủng virus viêm gan vịt. Phương pháp này cho phép xác định nhanh chóng và chính xác các loại virus viêm gan vịt, từ đó có thể đánh giá tình hình dịch bệnh tại khu vực nghiên cứu.

2.1 Quy trình phân lập virus

Quy trình phân lập virus bao gồm việc lấy mẫu từ các ổ dịch, xử lý mẫu và nuôi cấy trên môi trường phôi vịt. Sau khi nuôi cấy, virus được xác định bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Kết quả cho thấy tỷ lệ dương tính cao với virus viêm gan vịt type I genotype 3, cho thấy sự phổ biến của loại virus này trong khu vực. Việc phân lập thành công virus là cơ sở để nghiên cứu sâu hơn về tính chất sinh học và khả năng gây bệnh của virus.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 56/78 mẫu virus được xác định là virus viêm gan vịt type I genotype 3. Tỷ lệ dương tính ở các tỉnh khác nhau cho thấy sự phân bố rộng rãi của virus trong đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, virus có độc lực cao, gây ra các triệu chứng nghiêm trọng ở vịt con. Những phát hiện này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về tình hình dịch bệnh mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc phát triển vaccine và kháng thể phòng bệnh.

3.1 Tính độc lực của virus

Nghiên cứu đã xác định được tính độc lực của chủng virus viêm gan vịt type I genotype 3 trên phôi vịt và vịt con. Kết quả cho thấy thời gian gây chết phôi từ 18 - 78 giờ, với các triệu chứng điển hình như xuất huyết và sưng gan. Những triệu chứng này cho thấy virus có khả năng gây bệnh mạnh mẽ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của gia cầm. Việc hiểu rõ về tính độc lực của virus là rất quan trọng để xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

IV. Sản xuất kháng thể IgY

Kháng thể IgY được sản xuất từ lòng đỏ trứng gà là một trong những phương pháp hiệu quả để phòng ngừa bệnh viêm gan vịt. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kháng thể IgY có khả năng trung hòa virus viêm gan vịt, giúp bảo vệ vịt con khỏi bệnh. Việc sản xuất kháng thể này không chỉ có ý nghĩa trong việc phòng bệnh mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm sinh học phục vụ cho ngành chăn nuôi.

4.1 Ứng dụng kháng thể IgY trong phòng bệnh

Kháng thể IgY được thử nghiệm trên vịt con cho thấy hiệu quả phòng bệnh cao. Kết quả cho thấy vịt con được tiêm kháng thể IgY có tỷ lệ sống sót cao hơn so với nhóm đối chứng. Điều này chứng tỏ rằng kháng thể IgY có thể được sử dụng như một biện pháp phòng ngừa hiệu quả cho bệnh viêm gan vịt, góp phần giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Chăn nuôi vịt là một nghề chăn nuôi truyền thống, lâu đời của người dân ở một số tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Hàng năm, nghề nuôi vịt đã cung cấp một lượng thực phẩm đáng kể cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Những năm gần đây, số lượng đàn vịt gia tăng nhanh chóng và đã trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều nông hộ. Tuy nhiên, trong những năm qua tình hình dịch bệnh xảy ra trên vịt diễn biến ngày càng phức tạp và gây chết nhiều vịt của người chăn nuôi.

Những căn nguyên gây bệnh trên vịt có thể do vi khuẩn, virus như bệnh tụ huyết trùng gia cầm, bệnh dịch tả vịt, bệnh cúm gia cầm. tương tự như những bệnh truyền nhiễm này thì bệnh viêm gan vịt do virus là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, gây thiệt hại rất lớn cho nền chăn nuôi vịt đặc biệt là vịt con. Bệnh viêm gan vịt do virus thường bộc phát cấp tính, lây lan nhanh, do nhiều type virus khác nhau gây bệnh như virus viêm gan vịt type I, virus viêm gan vịt type II và virus viêm gan vịt type III; phổ biến nhất là virus viêm gan vịt type I (Kim et al, 2006; Tseng et al, 2007). Bệnh xảy ra chủ yếu ở vịt con từ 1 đến 28 ngày tuổi, với bệnh tích đặc trưng là gan sưng và xuất huyết lốm đốm trên bề mặt gan, lách và thận sưng (Woolcock, 2004), khi vịt nhiễm bệnh thì tỷ lệ chết cao từ 90-100% và gây thành dịch trên diện rộng (Shane, 2005).

Bệnh viêm gan vịt do virus gây thiệt hại nặng nề cho nền chăn nuôi vịt ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam (Woolcock, 2003). Ở Việt Nam, bệnh viêm gan vịt do virus được ghi nhận vào năm 1978 nhưng chưa phân lập được mầm bệnh. Giai đoạn 1979 – 1983, bệnh xảy ra ở nhiều địa phương và làm chết nhiều vịt con (Trần Minh Châu và Lê Thu Hồng, 1985). Theo thống kê của Tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) thì bệnh viêm gan vịt do virus gây thiệt hại nặng nề cho nền chăn nuôi vịt ở Việt Nam (OIE, 2006).

Hiện nay, bệnh viêm gan vịt do virus thường xuyên xuất hiện và đã xảy ra rất nhiều ổ dịch trên vịt con ở các tỉnh ĐBSCL với những triệu chứng thần kinh co giật hoặc chết rất nhanh không kịp thể hiện các triệu chứng. Khi chúng tôi mổ khám đã quan sát được bệnh tích rất đặc trưng của bệnh viêm gan do virus như gan nhạt màu và có nhiều điểm, đốm xuất huyết trên bề mặt gan, nhưng điều trị bằng kháng sinh không hiệu quả. Bệnh viêm gan vịt do virus có tính chất nguy hiểm như tỷ lệ chết cao và diễn biến phức tạp nhưng đến nay chưa có nghiên cứu nào về bệnh này được thực hiện ở ĐBSCL. Cho nên, bệnh vẫn còn là mối đe dọa lớn đến sức khỏe đàn vịt cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của những người chăn 1 luan an nuôi vịt trong vùng.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học phân tử, đặc biệt là kỹ thuật gen, nên việc xác định được chủng virus gây bệnh, nghiên cứu đặc điểm di truyền và mối quan hệ về nguồn gốc của chúng là cơ sở quan trọng xây dựng qui trình phòng và trị bệnh cho đàn vịt hiệu quả, là yêu cầu cấp thiết để có biện pháp phòng chống bệnh hữu hiệu nhằm bảo vệ sức khỏe đàn vịt ở địa phương, để đáp ứng những yêu cầu cấp thiết đó, đề tài: “Phân lập, định danh virus viêm gan vịt ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và sản xuất kháng thể phòng bệnh” được thực hiện.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu của đề tài là phân lập, định danh virus gây bệnh viêm gan vịt trên các đàn vịt nuôi nghi bệnh do virus viêm gan vịt, đồng thời nghiên cứu mối quan hệ di truyền về nguồn gốc của virus viêm gan vịt phân lập được và sản xuất kháng thể IgY từ lòng đỏ trứng gà, thử nghiệm phòng và trị bệnh từ chủng virus phân lập.3 Những đóng góp mới về khoa học Xác định được virus viêm gan vịt type I genotype 3 (DHAV-3) là tác nhân chủ yếu gây ra những ổ dịch viêm gan vịt trên vịt con tại ĐBSCL. Chủng DHAV-3 khá đồng nhất về trình tự nucleotide trong đoạn gen khảo sát và phân dòng thành một nhóm riêng biệt khi so sánh với chủng DHAV-3 khác trong nước và khu vực châu Á. Sản xuất thành công kháng thể IgY tinh chế từ chủng DHAV-3 phân lập ở ĐBSCL và đã thử nghiệm phòng trị bệnh viêm gan vịt đạt hiệu quả trong điều kiện thí nghiệm. 2 luan an Chương 2.

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Lịch sử phát hiện bệnh viêm gan vịt do virus Bệnh viêm gan vịt do virus được phát hiện lần đầu tiên vào mùa Xuân năm 1945 ở Mỹ, vào thời điểm này chưa phân lập được mầm bệnh. Năm 1950, Levine và Fabricant theo dõi một bệnh tương tự trên đàn vịt Bắc Kinh trắng tại Long Island (Mỹ), phát hiện nhiều vịt bệnh trong hơn 70 trại chăn nuôi vịt với qui mô lớn. Trong thời gian đầu, những trại có vịt nhiễm bệnh nặng thì tỷ lệ chết lên tới 95%, vào thời gian cuối một số trại có tỷ lệ vịt chết giảm dần chỉ còn 15%, bằng phương pháp nuôi cấy trên phôi gà đã phân lập được virus viêm gan vịt type I (Levine and Fabricant, 1950). Năm 1956, nhiều trận dịch được phát hiện ở các bang: Illinois, Michigan, Massachusetts của nước Mỹ.

Sau đó, bệnh viêm gan vịt do virus được phát hiện ở nhiều nước trên thế giới như Anh, Canada, Hà Lan, Ai Cập, Tây Ban Nha, Bỉ. Từ đó bệnh viêm gan do virus ở vịt con được xếp vào bệnh truyền nhiễm bắt buộc phải khai báo (Woolcock and Fabricant, 1991). Năm 1965, bệnh viêm gan vịt do virus lại xảy ra ở Norfolk (Anh) trên những đàn vịt con đã được tiêm phòng vaccine virus viêm gan vịt type I nhược độc. Từ các ổ dịch này, các nhà khoa học đã phân lập được một loại virus mới khác hẳn với virus viêm gan vịt type I và gọi là virus viêm gan vịt type II (Asplin, 1965).

Tại Long Island (Mỹ), bệnh viêm gan vịt do virus cũng xảy ra trên đàn vịt con đã được tiêm phòng vaccine virus viêm gan vịt type I nhược độc. Bệnh xảy ra nhẹ hơn so với bệnh do virus viêm gan vịt type I và tỷ lệ chết ở vịt con ít khi vượt quá 30%. Phân lập virus từ bệnh phẩm của đàn vịt này đã phát hiện được một loại virus mới có đặc điểm khác với virus viêm gan vịt type I và type II, nên đặt tên virus này là virus viêm gan vịt type III (Toth, 1969) Ở Việt Nam, đã ghi nhận có bệnh viêm gan vịt do virus vào năm 1978, nhưng vào thời điểm này chưa phân lập được mầm bệnh. Giai đoạn năm 1979- 1983, bệnh xảy ra ở nhiều địa phương và làm chết nhiều vịt con.

Sau đó, có nhiều nghiên cứu về bệnh này và các nhà khoa học đã xác định được căn nguyên gây ra các ổ dịch ngoài tự nhiên là virus viêm gan vịt type I (Trần Minh Châu và Lê Thu Hồng, 1985). Đến năm 2009, virus viêm gan vịt được phân lập từ một ổ dịch tại tỉnh Đồng Nai và lần đầu tiên xác định thuộc type I genotype 3 (Đoàn Thị Thanh Hương và ctv, 2009).2 Bệnh viêm gan vịt do virus 2.1 Đặc điểm tác nhân gây bệnh Bệnh viêm gan vịt gây ra bởi ba loại virus khác nhau gọi là virus viêm gan vịt type I, type II và type III. Virus viêm gan vịt type I (DHV-1) đã được phân loại là Avihepatovirus, một chi mới trong họ Picornaviridae (Tseng et al 2007) và được xác định gồm có 3 kiểu gen khác nhau của virus viêm gan vịt A (DHAV) genotype 1, genotype 2, genotype 3 (Wang et al, 2008). Tác nhân gây bệnh lây lan mạnh là virus viêm gan vịt type I genotype 1 (DHAV-1), trước đây được gọi là virus viêm gan vịt type I, hai genotype bổ sung trong chi Avihepatovirus là virus viêm gan vịt type I genotype 2 (DHAV-2) và virus viêm gan vịt type I genotype 3 (DHAV-3) (Kim et al, 2006; Tseng and Tsai, 2007a; Wang et al, 2008) Virus viêm gan vịt type II (DHV-2) đã được phân loại là một loài Avastrovirus thuộc họ Astroviridae (Gough et al, 1985) và đã được đổi tên thành Astrovirus vịt type 1 (DAstV-1).

Virus viêm gan vịt type 3 (DHV-3) cũng được phân loại là một loài Avastrovirus (Kim et al, 2008; Todd et al, 2009) và đã được đổi tên thành Astrovirus vịt type 2 (DAstV-2). Phân tích trình tự gen cho thấy, Astrovirus vịt type 1 (DAstV-1) và Astrovirus vịt type 2 (DAstV-2) có kiểu gen khác nhau và đại diện cho loài (Todd et al, 2009). Những virus viêm gan vịt này khác với virus viêm gan B ở vịt (DHBV), virus viêm gan B ở vịt (DHBV) là một Avihepadnavirus, chúng không gây bệnh lâm sàng đáng kể ở vịt (Yang et al 2008).2 Sự xâm nhập và đường lây lan Trong tự nhiên virus xâm nhập vào cơ thể vịt qua thức ăn, nước uống do nhiễm từ chất bài tiết của vịt. Virus viêm gan vịt có sức đề kháng mạnh với ngoại cảnh nên các yếu tố lây truyền gián tiếp như con người, dụng cụ chăn nuôi, máy ấp trứng bị vấy nhiễm trở thành nhân tố truyền bệnh nguy hiểm.

Trong những nơi có dịch lưu hành, vịt bệnh, vịt khỏi bệnh nhưng có mang trùng, có thể là nguyên nhân trực tiếp làm dịch phát sinh (Hwang and Dougherty, 1962). Bệnh viêm gan vịt do virus không lây truyền qua đường trứng, vịt con nở ra từ trứng của vịt mẹ bị nhiễm bệnh vẫn phát triển tốt (Asplin, 1958). Một số loài chim hoang dã như le le, vịt trời là những loài vật mang trùng, những loài vật này khi di trú có thể mang virus đi xa hàng trăm kilomet, chúng bài thải virus theo phân vào nguồn nước và làm lan truyền bệnh, điều này có thể là nguyên nhân gây ra những vụ dịch mới ở nơi xa (Priz, 1973). Trong cùng điều kiện thực địa, bệnh viêm gan vịt do virus type I truyền 4 luan an lan nhanh cho tất cả các vịt con mẫn cảm sống chung đàn, tỷ lệ gây chết cao và truyền lây nhanh giữa các trang trại chăn nuôi (Hanson and Tripathy, 1976).

Đối với virus viêm gan vịt type II, mầm bệnh có thể truyền qua đường tiêu hóa, lỗ huyệt và dưới da. Các vịt còn sống sau trận dịch thường là những con mang trùng và bài thải virus trong ít nhất 1 tuần sau khi khỏi bệnh (Guo and Pan, 1984).3 Cơ chế sinh bệnh Virus xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc đường hô hấp, tiêu hóa hoặc vết thương rồi vào máu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về virus viêm gan vịt và kháng thể phòng bệnh tại đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Phạm Công Uẩn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Hồ Thị Việt Thu, được thực hiện tại Trường Đại Học Cần Thơ vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu virus viêm gan vịt và phát triển kháng thể phòng bệnh, một vấn đề quan trọng trong ngành vi sinh vật học, đặc biệt là trong bối cảnh đồng bằng sông Cửu Long, nơi có nhiều thách thức về dịch bệnh trong chăn nuôi gia cầm. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về virus viêm gan vịt mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho việc sản xuất kháng thể, từ đó giúp cải thiện sức khỏe vật nuôi và an toàn thực phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến vi sinh vật học và sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Thực Trạng Tự Kỳ Thị và Yếu Tố Liên Quan ở Bệnh Nhân HIV/AIDS Tại Phòng Khám Đông Anh Hà Nội (2017), nơi nghiên cứu về các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe; Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang, cung cấp cái nhìn về chăm sóc sức khỏe cộng đồng; và Giá trị bộ câu hỏi GERDQ trong chẩn đoán và điều trị bệnh trào ngược dạ dày tại Bệnh viện Quân y 91, nghiên cứu về các phương pháp chẩn đoán trong y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và vi sinh vật học.