Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang là một trong những địa phương phát triển mạnh nghề chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là các mô hình nuôi gà đồi, gà thả vườn. Tuy nhiên, việc áp dụng phương thức chăn thả với mật độ cao, kỹ thuật chăn nuôi chưa đồng bộ cùng điều kiện vệ sinh thú y tại nhiều cơ sở còn hạn chế đã tạo môi trường thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng phát sinh và lan rộng. Trong đó, sự lưu hành của giun kim (Heterakis gallinarum) đóng vai trò là ký chủ trung gian truyền lây đơn bào Histomonas meleagridis, gây ra bệnh đầu đen (Histomonosis) trên đàn gà.

Bệnh đầu đen là bệnh truyền nhiễm do đơn bào ký sinh chủ yếu tại manh tràng và nhu mô gan, gây hoại tử niêm mạc manh tràng tạo kén bã đậu và làm biến đổi cấu trúc mô gan. Gia cầm mắc bệnh thường sốt cao, tiêu chảy phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu thâm tím hoặc xanh đen. Bệnh diễn tiến kéo dài, gà chết rải rác về đêm khiến người nuôi dễ chủ quan; tuy nhiên tỷ lệ chết tích lũy cuối cùng có thể lên tới 85 - 95%, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm địa phương.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Nguyễn Đức Toàn đã thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp ngành Thú y với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể được xác định như sau:

  1. Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào Histomonas meleagridis ở gà nuôi tại 3 xã thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang: xã An Thượng, xã Đồng Kỳ và xã Hồng Kỳ.
  2. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà và đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị bệnh.
  3. Làm sáng tỏ đặc điểm dịch tễ học của bệnh đầu đen trên đàn gà tại địa bàn và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao trên thực địa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra trên đàn gà ở các lứa tuổi, nuôi theo các phương thức khác nhau; các mẫu bệnh phẩm đại thể và vi thể (gan, manh tràng) thu thập từ gà khỏe và gà mắc bệnh; trứng giun kim và giun kim ký sinh.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát dịch tễ tại các nông hộ và trang trại chăn nuôi gà ở 3 xã (An Thượng, Đồng Kỳ, Hồng Kỳ) thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang; công tác xét nghiệm mẫu, làm tiêu bản mô bệnh học được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thu thập số liệu và thực nghiệm từ ngày 25/05/2015 đến ngày 25/11/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống phân loại học động vật nguyên sinh và các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng học thú y trong và ngoài nước:

  • Vị trí phân loại của Histomonas meleagridis: Theo phân loại của Cepicka và cs. (2010), mầm bệnh thuộc Giới Protozoen, Ngành Parabasalia, Lớp Tritrichomonadea, Bộ Tritrichomonadida, Họ Dientamoebidae, Giống Histomonas, Loài Histomonas meleagridis. Đơn bào tồn tại ở hai dạng hình thái chính: dạng amip (đường kính 8 - 14 µm, ký sinh xâm lấn trong tổ chức mô gan và thành manh tràng) và dạng trùng roi (kích thước lên tới 30 µm, có 4 roi vận động xoay ngược chiều kim đồng hồ, quan sát thấy trong lòng manh tràng).
  • Ký chủ trung gian và phương thức truyền lây: Giun tròn Heterakis gallinarum (thuộc họ Heterakidae) ký sinh ở manh tràng gia cầm đóng vai trò là vật chủ trung gian truyền bệnh. H. meleagridis xâm nhập vào tế bào ruột, ống sinh tinh và buồng trứng của giun kim cái, truyền vào trong trứng giun kim. Trứng giun kim có sức đề kháng cao, tồn tại nhiều năm ngoài môi trường đất và có thể được giun đất thu gom, tích lũy. Đường truyền lây bệnh gồm lây trực tiếp (qua đường tiêu hóa hoặc tiếp xúc qua lỗ huyệt với phân tươi) và lây gián tiếp (qua việc nuốt phải trứng giun kim hoặc giun đất mang mầm bệnh).
  • Bệnh lý và chẩn đoán: Quá trình sinh bệnh diễn ra khi đơn bào nhân lên tại niêm mạc manh tràng gây viêm loét, xuất huyết, tạo kén đặc màu trắng như pho mát; sau đó theo mạch máu xâm nhập vào nhu mô gan tạo các ổ hoại tử hình hoa cúc lõm ở trung tâm hoặc vân đá hoa cương. Chẩn đoán xác định dựa vào triệu chứng lâm sàng (phân màu lưu huỳnh, đầu thâm đen), mổ khám bệnh tích đại thể gan - manh tràng, soi tươi chất chứa manh tràng tìm đơn bào chuyển động, xét nghiệm mô bệnh học nhuộm Hematoxilin - Eosin (HE) và chẩn đoán phân biệt với bệnh cầu trùng (Eimeria tenella), bệnh do Trichomonas, bệnh lao gà.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm được bố trí cụ thể:

  • Phương pháp điều tra dịch tễ học: Kết hợp quan sát trực tiếp chuồng trại và phát phiếu điều tra, phỏng vấn tại 265 hộ chăn nuôi trên địa bàn 3 xã nhằm đánh giá thực trạng công tác phòng chống dịch bệnh.
  • Phương pháp lấy mẫu và mổ khám: Áp dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên với tổng số 270 con gà mổ khám (mỗi xã 90 con). Cụ thể phân bổ theo các tiêu chí:
    • Theo 4 nhóm lứa tuổi: nhóm ≤1 tháng tuổi (48 con), nhóm >1 - 3 tháng tuổi (102 con), nhóm >3 - 5 tháng tuổi (63 con) và nhóm >5 tháng tuổi (57 con).
    • Theo 3 phương thức chăn nuôi: chăn thả hoàn toàn (89 con), bán chăn thả (105 con) và nuôi nhốt (76 con).
    • Theo 2 kiểu nền chuồng: nền đất (101 con) và nền xi măng hoặc lát gạch (169 con).
    • Theo 3 mức độ vệ sinh thú y (VSTY): VSTY tốt (85 con), VSTY trung bình (121 con) và VSTY kém (64 con).
  • Phương pháp xét nghiệm mẫu bệnh phẩm:
    • Soi tươi dịch niêm mạc manh tràng dưới kính hiển vi quang học (độ phóng đại 10x20 và 10x40) trên giọt nước cất để phát hiện chuyển động của đơn bào H. meleagridis.
    • Cắt mô học bằng máy Microtome, đúc khối parafin và nhuộm tiêu bản gan, manh tràng bằng kỹ thuật nhuộm Hematoxilin - Eosin (HE).
    • Thu thập và định lượng giun kim bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943) từ chất chứa manh tràng và ruột già; phân loại cường độ nhiễm theo 3 mức (nhẹ: ≤100 giun/con; trung bình: >100 - 500 giun/con; nặng: >500 giun/con).
    • Kiểm tra 200 mẫu đất và chất cặn (100 mẫu cặn nền chuồng, 100 mẫu đất vườn thả) để tìm trứng giun kim bằng phương pháp tuyển nổi Gefter sử dụng dung dịch NaOH 5% và dung dịch NaNO3 bão hòa kết hợp ly tâm 3000 vòng/phút.
  • Thử nghiệm điều trị: Bố trí 02 phác đồ điều trị phối hợp bao gồm thuốc đặc trị diệt đơn bào, thuốc điều trị triệu chứng và thuốc trợ sức nâng cao thể trạng trên đàn gà mắc bệnh ngoài thực địa.
  • Xử lý số liệu: Tính toán các tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ cường độ nhiễm bằng phương pháp thống kê sinh học (theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện, 2008) trên phần mềm Microsoft Excel 2003.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của ngành chăn nuôi gà tại huyện Yên Thế đối với kinh tế địa phương, chỉ rõ những hạn chế trong phương thức nuôi thả vườn khiến bệnh đầu đen bùng phát và gây thiệt hại nặng nề. Xác định rõ mục tiêu, mục đích, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu dịch tễ học thú y và ý nghĩa thực tiễn giúp người chăn nuôi nhận biết và phòng trị bệnh hiệu quả.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện cơ sở khoa học của bệnh đầu đen:

  • Lịch sử nghiên cứu bệnh trên thế giới từ năm 1893 (Cushman, Smith, Tyzzer) và các ghi nhận tại Việt Nam từ năm 2010 (Lê Văn Năm, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan).
  • Đặc điểm sinh học, hình thái, chu trình phát triển của đơn bào Histomonas meleagridis và ký chủ trung gian Heterakis gallinarum.
  • Cơ chế bệnh sinh, triệu chứng lâm sàng (ủ bệnh 15 - 21 ngày, sốt 43 - 44°C, phân vàng lưu huỳnh, sưng phù mào tích thâm đen), bệnh tích đại thể và vi thể ở gan (hoại tử hình hoa cúc) và manh tràng (đóng kén bã đậu).
  • Các phương pháp chẩn đoán lâm sàng, mổ khám bệnh tích, nhuộm tổ chức học (HE, PAS), sinh học phân tử (PCR) và chẩn đoán phân biệt với bệnh cầu trùng (Eimeria tenella), bệnh do Trichomonas, bệnh lao gà.
  • Các biện pháp phòng ngừa và các nhóm hóa dược điều trị bệnh đầu đen.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết danh mục trang thiết bị, hóa chất thí nghiệm (formaldehyd 5%, cồn 90°, dung dịch Barbagallo, hệ thống nhuộm HE, máy Microtome, kính hiển vi quang học). Quy định các tiêu chuẩn phân loại vệ sinh thú y (tốt, trung bình, kém), quy trình lấy mẫu phân tầng 270 con gà tại 3 xã An Thượng, Đồng Kỳ, Hồng Kỳ; quy trình soi tươi, kỹ thuật làm tiêu bản mô bệnh học; phương pháp lắng cặn Benedek thu thập giun kim, phương pháp Gefter xét nghiệm 200 mẫu đất/nền chuồng và các công thức toán học tính tỷ lệ nhiễm.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương này công bố và thảo luận toàn bộ số liệu thu được:

  • Thực trạng phòng chống dịch bệnh tại địa phương: Trong 265 hộ điều tra, tỷ lệ thực hiện vệ sinh chuồng trại đạt 58,11%; định kỳ sát trùng chuồng và khu chăn thả đạt 40,38%; tẩy giun sán định kỳ cho gà đạt 60,38%; sử dụng vắc xin và thuốc phòng bệnh đạt 49,81%.
  • Tình hình nhiễm H. meleagridis ở gà: Tổng tỷ lệ nhiễm qua mổ khám là 35,93% (97/270 con). Tỷ lệ nhiễm theo địa phương: xã Đồng Kỳ cao nhất (40,21%), tiếp đến là xã An Thượng (35,05%) và xã Hồng Kỳ (27,84%).
  • Biến động tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi: Gà >1 - 3 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (53,92%), nhóm >3 - 5 tháng tuổi đạt 33,33%, nhóm >5 tháng tuổi đạt 24,56% và nhóm ≤1 tháng tuổi thấp nhất (14,58%).
  • Biến động theo phương thức chăn nuôi: Phương thức chăn thả hoàn toàn có tỷ lệ nhiễm cao nhất (52,81%), bán chăn thả đạt 34,29% và nuôi nhốt thấp nhất (18,42%).
  • Ảnh hưởng của kiểu nền chuồng: Gà nuôi trên nền đất có tỷ lệ nhiễm 48,51%, cao hơn rõ rệt so với nền xi măng hoặc lát gạch (28,40%).
  • Ảnh hưởng của điều kiện VSTY: Gà nuôi ở điều kiện VSTY kém có tỷ lệ nhiễm 48,44%, VSTY trung bình là 40,50%, trong khi điều kiện VSTY tốt chỉ chiếm 20,00%.
  • Tương quan giữa bệnh đầu đen và giun kim: Tỷ lệ nhiễm giun kim toàn đàn là 38,52% (104/270 con); trong đó cường độ nhiễm nhẹ chiếm 25,00%, trung bình chiếm 39,42%, nặng chiếm 35,58%. Đặc biệt, tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở nhóm gà có nhiễm giun kim lên tới 71,15% (74/104 con), trong khi ở nhóm gà không nhiễm giun kim chỉ là 13,86% (23/166 con).
  • Thử nghiệm phác đồ điều trị: Đánh giá hiệu lực can thiệp thực địa của 02 phác đồ phối hợp diệt đơn bào và trợ sức cho đàn gà mắc bệnh.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết các chỉ số dịch tễ học cơ bản của bệnh đầu đen trên đàn gà tại 3 xã nghiên cứu của huyện Yên Thế. Đưa ra các khuyến cáo thực tiễn về chu kỳ tẩy giun kim định kỳ, cải tạo nền chuồng, vệ sinh khử trùng khu chăn thả và áp dụng phác đồ điều trị kịp thời khi bệnh xuất hiện.

Kết quả và đóng góp

Số liệu dịch tễ học thực nghiệm

Bảng 1: Thực trạng công tác phòng chống dịch bệnh cho gà tại huyện Yên Thế (n = 265 hộ)

Biện pháp sử dụng Số hộ áp dụng (hộ) Tỷ lệ áp dụng (%)
Vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh 154 58,11
Định kỳ sát trùng chuồng trại và khu vực chăn thả 107 40,38
Tẩy giun, sán định kỳ cho gà 160 60,38
Sử dụng vắc xin và thuốc phòng bệnh 132 49,81

Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm Histomonas meleagridis ở gà theo địa phương và các yếu tố dịch tễ (n = 270 con)

Chỉ tiêu phân loại Nhóm khảo sát Số gà mổ khám (con) Số gà nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%)
Địa phương Xã An Thượng 90 34 35,05
Xã Đồng Kỳ 90 39 40,21
Xã Hồng Kỳ 90 24 27,84
Lứa tuổi ≤ 1 tháng tuổi 48 7 14,58
> 1 – 3 tháng tuổi 102 55 53,92
> 3 – 5 tháng tuổi 63 21 33,33
> 5 tháng tuổi 57 14 24,56
Phương thức nuôi Chăn thả hoàn toàn 89 47 52,81
Bán chăn thả 105 36 34,29
Nuôi nhốt 76 14 18,42
Kiểu nền chuồng Nền đất 101 49 48,51
Nền xi măng/lát gạch 169 48 28,40
Điều kiện VSTY Tốt 85 17 20,00
Trung bình 121 49 40,50
Kém 64 31 48,44
Tính chung toàn đàn — 270 97 35,93

Bảng 3: Tương quan giữa tình trạng nhiễm giun kim (Heterakis gallinarum) và nhiễm H. meleagridis

Địa phương Tỷ lệ nhiễm giun kim Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong nhóm CÓ giun kim Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong nhóm KHÔNG giun kim
Xã An Thượng 38,89% (35/90 con) 71,43% (25/35 con) 16,36% (9/55 con)
Xã Đồng Kỳ 45,56% (41/90 con) 75,61% (31/41 con) 16,32% (8/49 con)
Xã Hồng Kỳ 31,11% (28/90 con) 64,29% (18/28 con) 9,68% (6/62 con)
Tổng số / Tỷ lệ chung 38,52% (104/270 con) 71,15% (74/104 con) 13,86% (23/166 con)

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Thực hiện vệ sinh chuồng trại định kỳ, phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh xung quanh khu chăn nuôi; định kỳ phun thuốc khử trùng và cuốc xới, rắc vôi bột khu vực vườn chăn thả để tiêu diệt trứng giun kim trong đất.
  • Khuyến khích cải tạo nền chuồng sang nền xi măng hoặc lát gạch có đệm lót sinh học thay thế nền đất, giúp việc thu gom phân và ủ nhiệt diệt mầm bệnh được thuận tiện.
  • Thiết lập quy trình tẩy giun kim định kỳ bằng thuốc thú y thích hợp cho đàn gà, tập trung kiểm soát chặt chẽ giai đoạn chuyển từ chuồng úm ra vườn thả (từ 1 đến 3 tháng tuổi).
  • Tuyệt đối không nuôi chung gà với gà tây hoặc thả chung với thủy cầm để ngăn ngừa sự lây nhiễm chéo đơn bào đường tiêu hóa.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu thực địa khách quan, chi tiết về đặc điểm dịch tễ của bệnh đầu đen do Histomonas meleagridis tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Công trình làm sáng tỏ mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa mức độ nhiễm giun kim Heterakis gallinarum và nguy cơ bùng phát bệnh đầu đen trên đàn gà thả vườn, đóng góp cơ sở dữ liệu dịch tễ phục vụ công tác thú y dự phòng tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian nghiên cứu của đề tài diễn ra trong vòng 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2015), do đó chưa bao quát trọn vẹn sự biến động dịch tễ của bệnh qua tất cả các mùa trong năm (đặc biệt là các tháng mùa đông - xuân). Địa bàn nghiên cứu mới tập trung tại 3 xã thuộc huyện Yên Thế nên tính đại diện cho các vùng sinh thái chăn nuôi khác còn hạn chế. Ngoài ra, việc xác định đơn bào và bệnh tích chủ yếu dựa trên soi tươi quang học, mổ khám bệnh tích và nhuộm mô bệnh học HE thông thường, chưa triển khai các kỹ thuật phân tử chuyên sâu (như PCR) để xác định kiểu gen mầm bệnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi diễn biến dịch tễ bệnh đầu đen theo chu kỳ năm trọn vẹn; mở rộng phạm vi khảo sát sang các huyện chăn nuôi gia cầm lân cận; ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử (PCR, giải trình tự gen) để giám định các chủng Histomonas meleagridis lưu hành và đánh giá độ mẫn cảm của các hoạt chất kháng đơn bào mới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y và Ký sinh trùng học: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm dịch tễ học phân tầng, kỹ thuật mổ khám toàn diện - không toàn diện đường tiêu hóa, phương pháp lắng cặn Benedek tách giun tròn và kỹ thuật tuyển nổi Gefter phát hiện trứng giun trong môi trường đất.
  • Cán bộ kỹ thuật thú y và Trạm thú y cơ sở: Sử dụng các dẫn liệu dịch tễ học, triệu chứng và bệnh tích mô bệnh học điển hình (hoại tử gan hình hoa cúc, kén manh tràng bã đậu) để thực hiện chẩn đoán lâm sàng phân biệt và xây dựng phác đồ can thiệp dịch bệnh tại cơ sở.
  • Người chăn nuôi gia cầm quy mô trang trại và nông hộ: Nắm vững các yếu tố nguy cơ dịch tễ (tuổi mẫn cảm 1 - 3 tháng, nền chuồng đất, mật độ thả vườn, tình trạng nhiễm giun kim) để chủ động thực hiện các biện pháp an toàn sinh học và phòng bệnh định kỳ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác nhân gây bệnh đầu đen trên gà là gì và chúng có đặc điểm hình thái học như thế nào?
Tác nhân gây bệnh là đơn bào Histomonas meleagridis, thuộc họ Dientamoebidae, lớp Tritrichomonadea. Đơn bào có tính lưỡng hình: dạng amip (đường kính 8 - 14 µm) ký sinh xâm lấn trong nhu mô gan và niêm mạc manh tràng; dạng trùng roi (kích thước tới 30 µm, có 4 roi vận động xoay ngược chiều kim đồng hồ) phân bố trong lòng manh tràng.

2. Nhóm tuổi nào của gà có tỷ lệ nhiễm Histomonas meleagridis cao nhất theo kết quả khảo sát?
Gà ở lứa tuổi từ >1 đến 3 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất, đạt 53,92% (55/102 con). Nhóm ≤1 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (14,58%), nhóm >3 - 5 tháng tuổi đạt 33,33% và nhóm >5 tháng tuổi đạt 24,56%.

3. Phương thức chăn nuôi và kết cấu nền chuồng ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh đầu đen?
Gà nuôi theo phương thức chăn thả hoàn toàn có tỷ lệ nhiễm cao nhất (52,81%), tiếp đến là bán chăn thả (34,29%) và nuôi nhốt thấp nhất (18,42%). Về nền chuồng, gà nuôi trên nền đất có tỷ lệ nhiễm lên tới 48,51%, trong khi gà nuôi trên nền xi măng hoặc lát gạch chỉ có tỷ lệ nhiễm là 28,40%.

4. Mối liên quan giữa sự hiện diện của giun kim (Heterakis gallinarum) và bệnh đầu đen ở gà được thể hiện qua những con số nào?
Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ nhiễm giun kim toàn đàn là 38,52% (104/270 con). Trong số 104 con gà có nhiễm giun kim, tỷ lệ nhiễm H. meleagridis đạt tới 71,15% (74 con). Ngược lại, trong số 166 con gà không nhiễm giun kim, tỷ lệ nhiễm đơn bào chỉ chiếm 13,86% (23 con).

5. Bệnh tích đại thể đặc trưng nhất của bệnh đầu đen được ghi nhận qua mổ khám là gì?
Bệnh tích tập trung chủ yếu ở hai cơ quan: gan sưng to gấp 2 - 3 lần, xuất hiện các ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng/vàng nhạt với tâm ổ loét lõm xuống (hoặc bề mặt lỗ chỗ như đá hoa cương); manh tràng sưng to, thành dày, lòng manh tràng chứa khối kén bã đậu đặc màu trắng đục như pho mát.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đức Toàn đã phản ánh toàn diện đặc điểm dịch tễ học của bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra trên đàn gà tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang với tỷ lệ nhiễm trung bình là 35,93%. Nghiên cứu chứng minh tỷ lệ nhiễm chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi lứa tuổi gà (cao nhất ở giai đoạn 1 - 3 tháng tuổi), phương thức nuôi thả vườn, nền chuồng đất và điều kiện vệ sinh thú y kém. Kết quả thực nghiệm khẳng định vai trò ký chủ trung gian truyền bệnh mật thiết của giun kim Heterakis gallinarum, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng cho việc áp dụng quy trình phòng trị tổng hợp bệnh đầu đen trên đàn gà tại địa phương.