Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Hiện nay nhiều loài tiên mao trùng đã được phát hiện trong máu nhiều loài động vật, trong đó thì loài đơn bào Trypanosoma evansi ký sinh và gây bệnh cho động vật đóng vai trò quan trọng nhất. Bệnh tiên mao trùng được Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở Việt Nam. Sau đó, bệnh được thấy phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước.
Trâu, bò, ngựa,… mắc bệnh bị thiếu máu, suy nhược, giảm hoặc mất khả năng sinh sản và sức sản xuất, nếu mắc bệnh nặng súc vật dễ chết. Đặc điểm, hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 1. Đặc điểm, hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng Theo Phạm Văn Khuê và cs. evansi là loài đơn bào ký sinh ngoài hồng cầu, có hình thoi, dài 18-34 µm, giữa thân có một roi bắt nguồn là thể hình roi, cách đuôi khoảng 1,5 µm.
Roi này chạy dọc thân tạo thành nhiều màng rung động, cuối cùng roi này lơ lửng ở phần đầu thành roi tự do dài 6 µm. Nhờ có roi, màng rung động mà T. evansi chuyển động được trong máu động vật. Tiêu bản máu nhuộm Giemsa, nguyên sinh chất bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng.
Tiên mao trùng ký sinh trong máu hoặc ở một số tổ chức của động vật có xương sống, được truyền từ động vật bệnh sang động vật khoẻ theo phương thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae. (1978) [106], hiện nay người ta đã đưa ra những khái niệm để phân biệt hình thái của tiên mao trùng theo 6 dạng: 1. Trypamastigote: Tiên mao trùng có hình dạng bình thường. Spimastigote: Tiên mao trùng có hình thái như Crithidia.
Chosnomastigote: Tiên mao trùng có roi chạy thẳng theo thân, không tạo thành màng rung động, không có những nếp gấp khúc. Promastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leptomonas. Amastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leishmanian. Phaeromastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leishmania nhưng có roi có một đoạn tự do ngoài thân.
Khi rung động, roi tự do vung ra phía trước và màng rung chuyển động giúp cho tiên mao trùng di chuyển nhanh trong máu vật chủ (Phạm Sỹ Lăng, 1982) [11]. Cấu trúc cơ bản của T. evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae. Cấu trúc từ ngoài vào trong được chia thành 3 phần chính: Vỏ: Ngoài cùng là lớp vỏ hay còn gọi là màng bao (periplast) dày 8 - 10 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong; lớp ngoài và lớp trong tiếp giáp với nguyên sinh chất dày hơn lớp giữa).
Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein. Lớp vỏ (Variant Glycoprotein Surface -VGS) có khả năng biến đổi, nhờ vậy mà kí sinh trùng có thể né tránh đáp ứng miễn dịch của vật chủ. Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài của thân tiên mao trùng. Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống này nên tiên mao trùng có hình dạng suốt chỉ mảnh.
Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài. Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, mitochrondno, reticulum (lưới nội bào), mạng lưới Golgi và đặc biệt là kinetoplast (thể cơ động) - là nơi roi sinh ra và chứa ADN và cũng là một điểm rất riêng của tiên mao trùng. Lượng kADN chiếm khoảng 10 - 20% ADN của toàn bộ cơ thể, bao gồm 2 loại cấu trúc vòng ADN đó là: vòng lớn (maxicircles) và vòng nhỏ (minicircles). Nhân: Nhân tiên mao trùng có thể ở các vị trí khác nhau trong cơ thể tiên mao trùng, tuy nhiên khi xuất hiện trong máu thì thường thấy ở giữa hoặc phía bên trên của tiên mao trùng.
Chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng. Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN (kADN), có đường kính vào khoảng 0,7 micromet. Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do. Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân.
Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare C. Cấu tạo của Trypanosoma evansi (Nguồn: Desquesnes M., 2004) [41] A - Roi H - Phần thân chính B - Tổ hợp cytoskeleton I - Bộ máy Golgi C - Nhân J - Lưới nội sinh chất D - Ty thể K - Màng rung E - Thể cơ động kinetoplast L - Nơi tiếp xúc của roi với màng rung F - Thể đặc M - Nơi tiếp xúc của roi với thân G - Túi tiên mao 1. Phân loại tiên mao trùng ký sinh ở gia súc Theo Levine N. (1980) [70], dựa trên các nghiên cứu siêu cấu trúc của tiên mao trùng và theo Adl S.
Cấu trúc kháng nguyên của loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi Kháng nguyên của T. evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi (Nguyễn Thị Kim Lan, 2008 [8]). * Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi) Trong quá trình ký sinh trong cơ thể vật chủ, phần lớn các thành phần kháng nguyên của tiên mao trùng không bị biến đổi. Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết thanh thỏ tối miễn dịch với T.
evansi, các nhà khoa học đã phát hiện tới 30 thành phần kháng nguyên khác nhau. Tất cả các loại tiên mao trùng thuộc cùng một nhóm hầu như có cùng một loại kháng nguyên ổn định và chúng giống nhau một phần với các chủng tiên mao trùng khác nhóm. Thí dụ như T. brucei thuộc giống phụ Trypanozoon, loài T.
congolense thuộc giống phụ Nannomonas đến 60% giống nhau, T.vivax thuộc giống phụ Duttonella có miễn dịch chéo với Trypanozoon và Nannomonas. Có ba loại kháng nguyên không biến đổi (ISG: Invariant Surface Glycoprotein) ở màng nguyên sinh chất của tế bào. Loại ISG 65, ISG 75 được phân bố trên toàn bộ màng tế bào ước lượng số lượng khoảng 50.000 phân tử giống nhau. evansi sống, kháng nguyên này không thể kết hợp được với kháng thể của vật chủ.
Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các ISG này nằm chen vào phần VSG. Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang và phương pháp đánh dấu iode màng tế bào tiên mao trùng, có thể phát hiện và phân lập được các phân tử này. Loại thứ ba, ISG 100 gần đây mới phát hiện. Chúng có đặc tính ưa nước và không thể kết hợp được với kháng thể của vật chủ (Johanson H.
* Kháng nguyên biến đổi Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi. 8 Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà các nhà khoa học đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt. Lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử). Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type).
Kháng nguyên biến đổi có tính miễn dịch cao, chiếm khoảng 10% protein của tiên mao trùng. Loại kháng nguyên này kích thích tạo kháng thể đặc hiệu đối với từng loại sinh ra nó. Đối với kháng nguyên biến đổi, chỉ mình nó có khả năng kích thích tạo ra miễn dịch chủ động. Người ta ước lượng rằng, một con TMT có ít nhất vài trăm hoặc vài ngh́ n VSG, nghĩa là 5 - 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này.
(2001) [61], hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của Tiên mao trùng còn thấy ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch. Dịch tễ học tiên mao trùng 1. Phân bố địa lý của bệnh Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông bán cầu. Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ châu Phi đến Philippine.
Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique, Địa trung hải. Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả Rập Saudi, Yêmen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan. Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine. Tại châu Úc, các nhà khoa học cũng đã xác định được sự tồn tại của bệnh tiên mao trùng trên lục địa này (Reid S.
Ở châu Âu, lần đầu tiên người ta đã phát hiện được hai trường hợp nhiễm bệnh tiên mao trùng trên loài chuột có nguồn gốc từ Nam Mỹ và chó có nguồn gốc Nepal (Gutierrez C. Bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở châu Mỹ từ thế kỷ 16 do thực dân Tây Ban Nha mang những con ngựa bị bệnh tiên mao trùng từ Ả rập đến Colombia (Desquesnes M. 9 Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [11], bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình và Hà Tây).
Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và khác nhau giữa các vùng khác nhau. Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng * Vật chủ Trong số các loài TMT có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú thì T. evansi là loài gây bệnh phổ biến nhất. Chúng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, lợn, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch,.
nhưng không ký sinh ở người. Trâu, bò đều nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên, nhưng bò ít mẫn cảm và thường ở thể mãn tính. Lạc đà thường nhiễm T. evansi ở thể cấp tính, chết khá nhiều ở một số nước châu Phi, châu Á.
(2001) [61], đã kiểm tra và phát hiện các thú hoang châu Á nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên: hươu sao ở đảo Maurice; nai Cervus ở Indonesia; cừu hoang và hoẵng; linh dương ở Kazakistan; con tinh tinh ở đảo Saumatra; chuột Hamster ở Ấn Độ; khỉ Maracus rheusus ở một số nước.