Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về bệnh Lở mồm long móng Bệnh Lở mồm long móng (tên tiếng Anh: Foot and Mouth Disease) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm của loài động vật móng guốc chẵn như trâu, bò, lợn, dê, cừu, hươu, lai. Bệnh do vi rút ARN họ Picornaviridae, một loài vi rút hướng thượng bì gây ra. Bệnh có những đặc điểm đặc trưng là sốt và hình thành mụn nước ở miệng, chân và vú của gia súc cảm thụ (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [6]; (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [16]; (Donalson A.
Mặc dù bệnh xuất hiện như là một bệnh thể nhẹ, tỷ lệ chết ở gia súc trưởng thành không cao nhưng hậu quả là sự thiệt hại về kinh tế rất trầm trọng. Theo số liệu của OIE bệnh LMLM gây sảy thai khoảng 25% động vật có chửa, làm giảm sản lượng thịt 25%, giảm sản lượng sữa 50% và giảm 25% năng suất lông ở cừu. Vi rút LMLM có thể gây ra các ổ dịch rộng lớn, tỉ lệ mắc bệnh cao gần như 100% và bệnh có thể lây lan trong phạm vi một hoặc nhiều nước (Văn Đăng Kỳ và cộng sự, 2001) [10]; (Donalson A. Do tính chất nguy hiểm nên bệnh LMLM được OIE xếp vị trí số một của bảng A (bảng các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm ở động vật) và bắt buộc các thành viên phải khai báo.
Các nước đang có bệnh LMLM không được xuất khẩu động vật mắc bệnh đó và sản phẩm của chúng sang các nước khác (trích dẫn từ sổ tay dịch bệnh động vật, 2002) [20]. Từ lần ghi nhận đầu tiên đến năm 1897, các tài liệu ghi chép lại chủ yếu quan tâm đến mô tả triệu chứng (Trần Thanh Phong, 1996) [15]. Năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được vi rút gây bệnh (Nguyễn Vĩnh Phước và cộng sự, 1978) [17]. Cũng theo Trần Thanh Phong, 1996 [15], Wal dmann và Pape đã chứng minh được tính cảm thụ của chuột lang đối với vi rút.
Năm 1922, Valleé và Carré tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống vi rút (type O và type A). Năm 1926, Waldmann và Trauwein tìm ra vi rút type C. Sau đó, Lawrence xác định sự có mặt của các type SAT-1, SAT-2 và SAT-3 từ những bệnh phẩm từ Châu Phi gửi đến Phòng Thí nghiệm Tham chiếu Thế giới (Pirbright - Anh) và type Asia-1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn Độ, Miến Điện. Lịch sử bệnh Lở mồm long móng 1.
Diễn biến tình hình dịch LMLM trên thế giới Diễn biến tình hình dịch trong những năm 60 thế kỷ 20 rất trầm trọng, trung bình mỗi năm có 4. Đến những năm 70, bệnh có xu thế giảm ở Châu Âu, Châu Mỹ nhưng vẫn phổ biến ở Châu Phi (Mauritania, Senegal, Liberia, Tanzannia, Nigeria.) và Châu Á (Indonesia, Malaisia, Thái Lan. Vào những năm 80, 90 dịch LMLM có mặt ở nhiều châu lục. Trong 5 năm (1981 - 1985), dịch đã xuất hiện ở khắp 80 nước.
Ở Châu Âu có 804 ổ dịch tại 12 quốc gia do vi rút thuộc các type O, A, và C gây ra. Năm 1985, dịch LMLM do vi rút thuộc type Asia-1 sảy ra ở Hy Lạp. Cùng thời gian này, ở Châu Á, dịch đã có mặt tại 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do vi rút type Asia-1. Ở Châu Phi, dịch LMLM gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Ethiopia (1984- 1985).
Vi rút type C là căn bệnh chính của những ổ dịch ở 2 nước này. Tại các nước còn lại của châu lục này, bệnh LMLM đều do vi rút thuộc 3 type SAT 1, SAT 2, SAT 3 gây ra (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)[6]. Năm 1989, theo thông báo của OIE, dịch LMLM đã sảy ra ở 53 nước ở khắp các châu lục: Á, Âu, Phi, và Nam Mỹ. Cho đến nay, một số quốc gia đã đạt được thành quả tốt trong việc khống chế và thanh toán bệnh, như các nước thuộc khối cộng đồng Châu Âu, Bắc Mỹ, Argentina, Indonesia và gần đây là Cộng Hòa Séc.
Tuy nhiên, dịch LMLM vẫn là nguy cơ của nhiều quốc gia, uy hiếp nghiêm trọng nền chăn nuôi và thương mại quốc tế (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)[6]. Những năm 1990, ở châu Âu, các nước báo dịch gồm Italia, Bulgari, Nga và Hy Lạp. Năm 1993 có 55 ổ dịch xảy ra ở Italia, những ổ dịch đơn lẻ xảy ra ở Bulgari, Nga. Giữa năm 1994, một ổ dịch xảy ra ở Hy Lạp trên đảo Lesbos và Thrace gần biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ.
Năm 1996, có 2 ổ dịch ở Thổ Nhĩ Kỳ và 1 ở Hy Lạp. Năm 1997, chỉ có Georgia và Armenia là có bệnh. Trong năm 1998, một chủng type A mới được phát hiện tại Iran năm 1996 đã lan đến Thổ Nhĩ Kỳ sát Istanbul, dịch kéo dài đến cuối năm 1998. Ở Châu Phi, vào thập kỷ 90, vi rút LMLM type O lưu hành rộng rãi ở Tây Phi, Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania Malawi và Kenia.
Năm 1999, ổ dịch LMLM 6 type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển bò xuyên qua Sahara lan đến Algeria, Marocco và Tunisia. Vi rút LMLM type SAT 2 lưu hành ở Uganda, Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở Kenia. Ở Châu Á, dịch LMLM do vi rút type O và Asia-1 xảy ra ở Pakistan và Myanmar; type O và A tại Nepal, Buhtan; type A ở Thái Lan. Tại Malaysia, không công bố dịch từ năm 1998, nhưng trong thự tế 2 type vi rút O và Asia-1 vẫn lưu hành tại bán đảo Malay này (không gửi bệnh phẩm đến WRL).
Hai ổ dịch địa phương tại Đài Loan và Philippines (đảo Luzon) đều do vi rút type O gây ra. Tại Trung Quốc, dịch tại xảy ra tại Vân Nam nhưng không có thông tin về type vi rút (Bùi Quang Anh và Hoàng Vă Năm, 2001)[1]. Ở Tây Á, chủng Iran 98 type A gây bệnh tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và lan đến Akmenia. Vi rút type O đã gây dịch tại Lebanon, Kuwait, Iran, Iraq, Israel, Qatar, Bahrain, Yemen và Saudi Arabia; Kazakstan và Kyrgyzstan (riêng Kazakhstan có vi rút type A).
Ở Nam Mỹ, tình hình khống chế dịch LMLM có nhiều thuận lợi, Paraguay được công nhận là nước an toàn dịch (có tiêm phòng). Argentina cũng được OIE công nhận là nước có vùng không bệnh LMLM không tiêm phòng (Collen T. Năm 2001, dịch LMLM do type O tái bùng phát khắp châu Âu (Anh, Hà Lan, Pháp và Ireland); Nam Mỹ (Uruguay, Brazil và Colombia); ở châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan, Georgia, Azerbaijan, Mông Cổ, Kuwait, Bahrain, Yemen, Qatar, Ả Rập, Oman, Iran, Butan, Nepal, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Đài Loan). Tính đến cuối tháng 4/2001, Chính phủ Anh đã phải chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch, cộng với những thiệt hại do dịch gây ra lên đến trên 14 tỷ đô la Mỹ.
Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các nước châu Âu, châu Mỹ, Phi và châu Á. Tính đến tháng 7/2001, có trên 20 nước xảy ra dịch LMLM (Nguyễn Vĩnh Phước và cộng sự, 1978) [16]. Từ năm 2000-2004 có 23 nước ở Châu Á và Châu Phi gửi mẫu đến WRL. Kết quả type O vẫn là type phổ biến nhất; các type A, SAT 1 và SAT 2 có trình tự nucleotide (di truyền) biến đổi nhiều so với các chủng trước đây cùng serotype.
Tại Đông Nam Á và vùng Viễn Đông, dịch bệnh do vi rút type O được ghi nhận ở Hồng Kông và tất cả các quốc gia thành viên SEAFMD, ngoại trừ Indonesia 7 là nước không có bệnh LMLM. Type A được tìm thấy ở Malaysia, Thái Lan, Lào và Việt Nam (2004). Các chủng vi rút type O phân lập được đều thuộc topotype ME-SA và Cathay. Các vi rút phân lập từ Hồng Kông và Philippines nằm trong topotype Cathay nhưng lại thuộc dòng phụ khác.
Vi rút nhận được từ Việt Nam thuộc topotype Cathay hoặc ME-SA (chủng Pan - Asia). Vi rút type A ở Việt Nam thuộc topotype Asia, có quan hệ rất gần với các chủng gây dịch bệnh ở Thái Lan năm 2003, 2004 [37]. Trong năm 2005, bệnh LMLM đã xảy ra ở Brazil (serotype O), Colombia (serotype A), ở Nga (serotype Asia 1); ở Trung Quốc (serotype Asia-1), Hồng Kông (serotype Asia-1), Mông Cổ (serotype Asia-1); ở Botswana (serotype SAT 2), Congo (SAT 1, 2, 3 và A). Sự xuất hiện gần đây của serotype Asia-1 ở Trung Quốc, Hồng Kông, Mông Cổ, Myanmar, Nga, Tajikistan cùng với sự có mặt của serotype này ở Ấn Độ, Iran và Pakistan cho thấy rằng một chủng của Asia-1 có thể đang lây lan khắp châu Á.
Trong báo cáo của OIE năm 2005, không có dịch LMLM ở các nước trong vùng được coi là an toàn và không tiêm phòng vắc xin LMLM. Cũng trong năm này, FAO/WRLFMD đã nhận 266 mẫu bệnh phẩm LMLM từ 21 nước châu Âu, châu Á, châu Phi và kết quả phân lập và định type cho biết type O vẫn chiếm tỷ lệ lưu hành cao nhất (Chinsangaram J. Theo kết quả xét nghiệm của Phòng thí nghiệm giám định vi rút LMLM (Pirbright, UK) những năm gần đây, sự phân bố của các type và serotype vi rút LMLM trên thế giới vẫn như phân bố năm 2002 (hình 1. - Châu Âu: những ổ dịch do vi rút type O và A có serotype A Iran/96 ở Iran và Thổ Nhĩ Kỳ.
- Châu Phi: những ổ dịch do type O gây ra ở vùng Đông Bắc của lục địa (Algeria, Tunisia, Guinea, Burundi, Kenya, Tanzania và Zimbabue); type A phân bố ở Tây, Trung và Đông Phi; type C không phổ biến, các type SAT lưu hành rộng rãi, SAT 1 và SAT 2 xảy ra rộng khắp trừ phía Bắc Phi, nhưng SAT 3 chỉ xảy ra ở vùng hẹp của phía Nam.1: Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 (Nguồn FAO:http://www.org/corp/google_result/en/?cx= 018170620143701104933%3Aqq82jsfba7w&q=FMD+stituation+map+2008&cof =FORID%3A9&x=12&y=7#1247) - Nam Mỹ: phổ biến là type O, A và C. Những ổ dịch do vi rút type O gây ra ở Bolivia, Brazil, Colombia và Ecuador, type A xảy ra ở Venezuela, Colombia và Peru. - Trung Đông: type O phổ biến nhất, tiếp theo là type A, Asia 1 và thỉnh thoảng có type C. - Châu Á: các nước có dịch do type O gây ra là Bahrain, Bangladesh, Campuchia, Hồng Kông, Ấn Độ, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Malaysia, Nepal, Philippines, Qatar, Syria, Saudi Arabia, Đài Loan, Arab, các tiểu vương quốc Ả rập, Lào, Việt Nam và Yemen.
Type A ở Bangladesh và Iran, type Asia-1 ở Iran và Malaysia, type C giới hạn ở tiểu lục địa Ấn Độ và Philippines. Diễn biến tình hình dịch bệnh LMLM tại Việt Nam 1.