Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử bệnh Bệnh LMLM được gọi bằng những tên tiếng Anh: Foot and mouth disease (FMD), La fièvre aphteuse (FA, Pháp), Afta epizootic (Ý), Maul und Klauenseuche (MKS, Đức), Fiebre aphtosa, glosso peda (Tây Ban Nha), Khẩu đề dịch (Trung Quốc), Lở mồm long móng (Việt Nam). Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) do vi rút thuộc họ Piconarviridae gây nên là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm. Bệnh có đặc điểm sốt, nổi mụn nước ở niêm mạc miệng, da, gờ móng, kẽ móng và trên đầu vú, bầu vú của con cái của tất cả các loài thú guốc chẵn (cả gia súc và động vật hoang dã) [13], [23].
Bệnh có tính chất dịch lớn, lây lan rất nhanh và rất mạnh, có thể xảy ra trên dịch rộng ở nhiều vùng trong một nước hay nhiều nước. Tỷ lệ gia súc mắc bệnh rất cao, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế mặc dù tỷ lệ chết ở gia súc trưởng thành thấp. Bệnh LMLM được Tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) xếp vào danh mục bệnh của nhiều loài, nằm trong danh mục những bệnh phải công bố dịch đối với tất cả các quốc gia. Mô tả đầu tiên về bệnh LMLM và tài liệu còn lưu lại đến nay là công trình của tác giả người Ý tên là Francastorius vào năm 1514.
Bệnh đã gây ra những tổn thất lớn về kinh tế trên thế giới, nhưng đến giữa thế kỷ 19 người ta mới xác định được tính chất truyền nhiễm của bệnh. Từ lúc xuất hiện bệnh đến năm 1897, các tài liệu ghi chép lại chủ yếu quan tâm đến mô tả triệu chứng (Merial Ltd. Những nghiên cứu về vi rút học và dịch tễ học khởi đầu từ năm 1897, được quan tâm và phát triển trong giai đoạn tiếp theo; năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được vi rút gây bệnh ; năm 1920 Waldmann và Pape đã chứng minh được tính cảm thụ của chuột lang đối với vi rút ; năm 1922, Valleé và Carré tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống vi rút (type O và type A) ; năm 1926, Waldmann và Trauwein tìm ra vi rút type C (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [22]. n 5 Sau đó Lawrence khám phá ra các type SAT1, SAT2 và SAT3 từ những bệnh phẩm ở Châu Phi gửi đến viện Pirbright và type Asia1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn Độ, Miến Điện (Merial Ltd.
Từ đầu thế kỷ 20 trở đi, bệnh phát ra ở nhiều nơi trên Thế giới. Ở Châu Mỹ, dịch LMLM xuất hiện ở Mỹ vào các năm 1902, 1908, 1914, 1924, 1929, 1932; ở Mexico năm 1946, Canada 1952 và nhiều nước ở Nam Mỹ như Argentina năm 1953. Bệnh cũng xuất hiện ở Venezuela năm 1950, Colombia năm 1950-1951 rồi sang Ecuador năm 1956. Ở Châu Phi, bệnh thường xẩy ra ở Bắc Phi, Nam Phi C (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [22].
Ở Châu Âu, có luồng dịch phát sinh từ Tây Đức lan sang Hà lan, Bỉ, Lucxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy và Ba Lan vào năm 1951; Bệnh kéo dài đến năm 1953, 1954 C (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [22]. Ở Châu Á, bệnh phát ra ở Ấn Độ năm 1929, 1952…, Myanmar năm 1948, Thái Lan năm 1952, Trung Quốc năm 1951, Campuchia năm (1931, 1946, 1952). Bệnh LMLM ở Châu Á không dữ dội như ở Tây Âu nhưng ảnh hưởng đến kinh tế các nước Cận Đông, Trung Đông, Nam Á và Viễn Đông (Trịnh Văn Thịnh & Phan Đình Đỗ, 1958) [25]. Từ năm 1926 đến năm 1936, giai đoạn tập trung nghiên cứu về vắc xin và chương trình quốc tế về phòng chống dịch được hình thành.
Trong 3 năm (1937 - 1939) người ta thống kê được có 2 triệu ổ dịch trên khắp các châu lục và cũng chính trong hoàn cảnh này, Waldmann và Kobe đã nghiên cứu chế tạo Vắc xin vô hoạt bằng Formol hấp phụ bởi AL2(OH)3 để tiêm phòng cho gia súc. Có thể coi đây là một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc khống chế bệnh LMLM trên phạm vi toàn cầu. Năm 1947, Frenkel đã cho ra đời loại vắc xin cải tiến, nuôi cấy trên tế bào thượng bì của lưỡi bò, gọi là vắc xin Frenkel. Loại vắc xin này nhanh chóng được sử dụng tại Hà Lan, Pháp và Đức.
Sau đó nhiều phương pháp nghiên cứu nuôi cấy vi rút đã được tìm ra giúp cho việc cải tiến kỹ thuật chế vắc xin (Đào Trọng Đạt, 2000) [14]. Các viện nghiên cứu lần lượt ra đời trên khắp các lục địa như Alfort (Pháp, 1901), Ile de Riems (Đức, 1909), Pirbright (Anh, 1924), Viện nghiên cứu về bệnh n 6 LMLM ở Lyon (Pháp, 1947), Laboratoire de Plum (Hoa Kỳ), Sao Paolo (Brazin), Nong Sarai (Thái Lan). Vào năm 1958, Pirbright trở thành phòng thí nghiệm tham chiếu thế giới về bệnh LMLM (OIE, 2005) [43]. Trong những năm gần đây, kỹ thuật chẩn đoán được cải tiến đã giúp cho việc xác định bệnh được nhanh chóng.
Vắc xin được sản xuất với chất lượng cao và cùng với chiến lược khống chế bệnh hiệu quả, nhiều nước đã khống chế hoặc thanh toán bệnh thành công. Hiện có 59 nước trên thế giới được tổ chức Thú y thế giới (OIE: Office International Epizooties) công nhận là nước an toàn dịch bệnh LMLM (OIE, 2005) [43]. Bệnh LMLM trên thế giới Theo Cục thú y (Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nước về bệnh LMLM, 2004) [4]: Tình hình LMLM trong những năm 60 của Thế kỷ 20 rất trầm trọng, trung bình mỗi năm có 4. Đến những năm 70, bệnh có xu thế giảm ở Châu Âu, Châu Mỹ nhưng vẫn phổ biến ở Châu Phi (Mauritania, Senegal, Liberia, Tanzannia, Nigeria…) và Châu Á (Indonesia, Malaisia, Thái Lan…).
Vào những năm 80, dịch LMLM có mặt ở nhiều châu lục. Trong 5 năm (1981 - 1985), dịch đã xuất hiện ở khắp 80 nước. Ở Châu Âu có 804 ổ dịch tại 12 quốc gia do vi rút thuộc các type O, A và C gây ra. Năm 1985, dịch LMLM do vi rút thuộc type Asia 1 xảy ra ở Hy Lạp (Donaldson, A.
Cùng thời gian này, ở Châu Á dịch đã có mặt tại 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do vi rút type Asia 1. Ở Châu Phi, dịch LMLM gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Ethiopia (1984 - 1985). Vi rút type C là căn bệnh chính của những ổ dịch ở 2 nước này. Tại các nước còn lại của châu lục này, bệnh LMLM đều do vi rút thuộc 3 type SAT gây ra (Lê Minh Chí, 1996)[6].
Năm 1989, theo thông báo của OIE, dịch LMLM đã xảy ra ở 53 nước ở khắp các châu lục: Á, Âu, Phi và Nam Mỹ. Cho đến nay, một số quốc gia đã đạt được thành quả tốt trong việc khống chế và thanh toán bệnh, như các nước thuộc khối cộng đồng Châu Âu, Bắc Mỹ, Argentina, Indonesia và gần đây là Cộng hòa Séc. Tuy nhiên dịch LMLM vẫn là nguy cơ của nhiều Quốc gia, uy hiếp nghiêm trọng nền chăn nuôi và thương mại quốc tế (Lê Minh Chí, 1996)[6]. n 7 Những năm 1990, ở Châu Âu, các nước báo dịch gồm Italia, Bulgari, Nga và Hy Lạp.
Năm 1993 có 55 ổ dịch xảy ra ở Italia, ổ dịch đơn lẻ xảy ra ở Bulgari, Nga. Giữa năm 1994, một ổ dịch xảy ra ở Hy Lạp trên đảo Lesbos và Thrace gần biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1996 có 2 ổ dịch ở Thổ nhĩ Kỳ và 1 ở Hy Lạp. Năm 1997, chỉ có Georgia và Armenia là có bệnh.
Trong năm 1998 (Công ty Merial Ltd , 2003) [7], một chủng type A mới được phát hiện tại Iran năm 1996 đã lan đến Thổ Nhĩ Kỳ sát Istanbul, dịch kéo dài đến cuối năm 1998. Ở Châu Phi, vào thập niên 90, vi rút LMLM type O lưu hành rộng rãi ở Tây Phi, Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania Malawi và Kenia. Năm 1999 ổ dịch LMLM type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển bò xuyên qua Sahara lan đến Algeria, Marocco và Tunisia. Vi rút LMLM type SAT 2 lưu hành ở Uganda, Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở Kenia (Kitching, R.
Ở Châu Á, dịch LMLM do vi rút type O và Asia 1 xảy ra ở Pakistan và Myanmar; type O và A tại Nepal, Buhtan; type A ở Thái Lan. Tại Malaysia không công bố dịch từ năm 1998 nhưng trong thực tế 2 type vi rút O và Asia 1 vẫn lưu hành tại bán đảo Malay này (không gửi bệnh phẩm đến WRL). Hai ổ dịch địa phương tại Đài loan và Philippines (đảo Luzon) đều do vi rút type O gây ra. Tại Trung Quốc dịch xảy ra ở Vân Nam nhưng không có thông tin về type vi rút (Bùi Quang Anh & Hoàng Văn Năm, 2001) [1].
Ở Tây Á, chủng Iran 98 type A gây bệnh tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và lan đến Akmenia. Vi rút type O đã gây dịch tại Lebanon, Kuwait, Iran, Iraq, Israel, Qatar, Bahrain, Yemen và Saudi Arabia; Karakstan và Kyrgyzstan (riêng Kazakhstan có vi rút type A). Ở Nam Mỹ, tình hình khống chế dịch LMLM có nhiều thuận lợi, Paraguay được công nhận là nước an toàn dịch (có tiêm phòng). Argentina cũng được OIE công nhận là nước có vùng không bệnh LMLM không tiêm phòng (Reid, S.
M, Forsyth et al, 1996) [46]. Trong năm 2009, 59 nước đã báo cáo có dịch LMLM. Ở Châu Âu, dịch xảy ra tại Hy Lạp; ở Châu Á dịch xảy ra ở Nga, Mongolia, Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc, Nhật, Lào, Nepal, Pakistan, Philippin, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, n 8 Việt Nam, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Capscazơ vùng Georgia, Azerbaijan, Armenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Turkmenistan và Tajikistan; ở Châu Phi, dịch xảy ra tại Ai Cập, Kenya, Mauritania, nam Phi, Tanzania, Uganda, Malawi, Namibia, Zambia và Zimbabwe và các nước Nam Mỹ gồm Brazil, Colombia, Uruguay, Bolivia, Peru, Ecuador và Venezuela. Đại dịch 2000 do vi rút type O.
Vi rút serotype O/TAW/99 gây bệnh ở Đài Loan (18/02/2000 trên dê); Nhật Bản (8/03/2000 trên bò); Hàn Quốc (20/03/2000 trên bò); Liên Bang Nga (10/04/2000 trên lợn); ở Mông Cổ (14/04/2000 bò, dê, cừu, lạc đà); ở Hy Lạp và ở Zambia (02/03/2000). Năm 2001, dịch LMLM do type O tái bùng phát khắp Châu Âu (Anh, Hà Lan, Pháp và Ireland), Nam Mỹ (Uruguay, Brazil và Colombia); ở Châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan, Georgia, Azerbaijan, Mông Cổ, Kuwait, Bahrain, Yemen, Qatar, Ả Rập, Oman, Iran, Butan, Nepal, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Đài Loan). Tính đến cuối tháng 4/2001 Chính Phủ Anh đã phải chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch tổng thiệt hại do dịch gây ra lên đến trên 14 tỷ đô la Mỹ. Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á.
Tính đến tháng 7/2001 có trên 20 nước xảy ra dịch LMLM Nguyễn Quang Hưng, 2011) [15]. Năm 2004, không có ổ dịch LMLM nào được báo cáo chính thức trong các nước được OIE công nhận là không có bệnh (không tiêm phòng).