Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vài nét về bệnh đái tháo đường ở người cao tuổi 1. Chẩn đoán Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ ở người cao tuổi tương tự tiêu chuẩn được áp dụng ở người trẻ tuổi trưởng thành. Nguy cơ mắc ĐTĐ tăng dần theo tuổi nên tất cả người cao tuổi được khuyến cáo nên khám sàng lọc định kỳ hàng năm để phát hiện bệnh.
Việc đo đường huyết lúc đói rất có giá trị trong phát hiện ĐTĐ ở người trẻ tuổi nhưng lại có thể bỏ sót tới 31% các trường hợp ĐTĐ ở người cao tuổi. Do đó, ở nhóm tuổi này, nghiệm pháp dung nạp glucose được cho là một công cụ chẩn đoán tốt hơn so với xét nghiệm đường huyết lúc đói. Phân loại Theo Hội ĐTĐ Hoa Kỳ, bệnh ĐTĐ bao gồm 3 nhóm chính: ĐTĐ type 1, ĐTĐ type 2 và một số loại ĐTĐ đặc biệt khác. Đái tháo đường type 1: Gây ra do tổn thương tế bào β của tụy dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối, nguy cơ nhiễm toan ceton cao Đái tháo đường type 2: chiếm phần lớn các trường hợp ĐTĐ ở người cao tuổi, đặc trưng bởi tình trạng rối loạn hoạt động hoặc tiết insulin: có thể thay đổi từ đề kháng insulin chiếm ưu thế với thiếu insulin tương đối đến giảm tiết insulin chiếm ưu thế kèm theo đề kháng insulin hoặc không.
Các type ĐTĐ đặc biệt khác: + Rối loạn chức năng tế bào β do khiếm khuyết gen: MODY 1, MODY 2, MODY 3, MODY 4, ĐTĐ ty lạp thể + Giảm hoạt tính của insulin do khiếm khuyết gen. + Bệnh lý tụy ngoại tiết: viêm tụy cấp, sau chấn thương/phẫu thuật cắt tụy. Biến chứng Gồm 2 nhóm chính là biến chứng cấp tính và biến chứng mạn tính, trong đó, các biến chứng mạn tính là nguyên nhân chính gây tử vong do bệnh. Thời gian tăng đường huyết thường tỷ lệ thuận với nguy cơ của các biến chứng mạn tính.
Biến chứng mạn tính gồm: biến chứng mạch máu, biến chứng thần kinh, bệnh lý bàn chân do ĐTĐ…[1] Các biến chứng mạch máu của ĐTĐ bao gồm 2 nhóm chính: biến chứng vi mạch và biến chứng mạch máu lớn. Biến chứng vi mạch: gây ra do tổn thương các mạch máu có đường kính < 30µm (tiểu động mạch, mao mạch, tiểu tĩnh mạch), dẫn đến triệu chứng ở nhiều hệ thống cơ quan khác nhau Bệnh lý võng mạc ĐTĐ Theo DRS (Diabetic Retinopathy study) và ETDRS (Early treatment diabetic retinopathy study), bệnh võng mạc do ĐTĐ được chia làm 3 giai đoạn: bệnh võng mạc không tăng sinh, bệnh võng mạc tỉền tăng sinh và bệnh võng mạc tăng sinh. Bên cạnh tổn thương võng mạc, ĐTĐ còn có thể gây ra một số biến chứng khác ở mắt như đục thủy tinh thể, glaucoma (thường là góc mở). Biến chứng thận do ĐTĐ Tổn thương thận là một biến chứng nặng và thường gặp của ĐTĐ, là nguyên nhân hàng đầu gây suy thận giai đoạn cuối ở nhiều nước trên thế giới.
Bệnh thận ĐTĐ tiến triển qua 5 giai đoạn: từ tăng mức lọc cầu thận, đến biểu hiện có microalbumin niệu, protein niệu thường xuyên và cuối cùng là suy thận [1],[5]. Biến chứng mạch máu lớn: ĐTĐ không phải là nguyên nhân đặc hiệu nhưng là yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch lên 2 - 4 lần. Bệnh lý mạch vành: triệu chứng ở bệnh nhân ĐTĐ thường nghèo nàn do hậu quả của biến chứng thần kinh, cơn đau thắt ngực có thể không điển hình hoặc chỉ biểu hiện trên điện tâm đồ. 5 Tai biến mạch máu não: ĐTĐ làm tăng tỷ lệ mắc, nguy cơ tử vong và các di chứng nặng nề do tai biến mạch máu não.
Ở bệnh nhân ĐTĐ, nhồi máu não, đặc biệt là nhồi máu ổ khuyết, gặp nhiều hơn xuất huyết não. Bệnh mạch máu ngoại vi: chủ yếu là viêm tắc động mạch chi, gây loét và hoại tử chi. Tăng huyết áp: là một biến chứng khá thường gặp của ĐTĐ [5]. Sự thay đổi tình trạng đông cầm máu ở người bệnh đái tháo đường Bảng 1.
Thay đổi của một số yếu tố tham gia đông cầm máu trong ĐTĐ [7] Yếu tố Nơi sản xuất Chức năng Nồng độ/hoạt Cơ chế đông máu tính trong ĐTĐ Yếu tố tổ chức Tế bào nội Khởi động Tăng Tăng insulin mạc, cơ trơn đông máu Tăng glucose mạch máu, Tăng AGE monocyte Tăng gốc ôxy hóa Yếu tố VII Gan Khởi động Tăng Tăng glucose đông máu Tăng triglyceride (Pro)thrombin Gan Chuyển Tăng Tăng glucose fibrinogen thành fibrin Fibrinogen Gan Tạo thành Tăng Tăng tổng hợp ở lưới fibrin gan do kháng insulin t-PA Chuyển Tăng hoặc giảm Rối loạn chức plasminogen năng tế bào nội thành plasmin mạc PAI-1 Tế bào nội Ức chế tiêu Tăng Tăng glucose mạc, gan, mô sợi huyết Kháng insulin mỡ, cơ trơn mạch máu vWF Tế bào nhân Liên kết tiểu Tăng Tổn thương tế khổng lồ và cầu với bào nội mạc TB nội mạc collagen 6 1. Sự thay đổi của một số yếu tố tham gia đông cầm máu Sự thay đổi ở những mức độ khác nhau của hầu hết các yếu tố tham gia vào hoạt động đông cầm máu đã được phát hiện ở người bệnh đái tháo đường (bảng 1. Kết quả cuối cùng của những thay đổi này phần lớn đều đưa đến tình trạng tăng đông và giảm tiêu sợi huyết. Rối loạn chức năng tế bào nội mạc mạch máu Hình 1.
Thay đổi chức năng nội mạc trong đái tháo đường [9] Chức năng cơ bản của các tế bào nội mạc mạch máu là đảm bảo sự lưu thông máu trong lòng mạch, ngăn ngừa sự hình thành các cục máu đông bằng cách ức chế sự ngưng tập của tiểu cầu, ngăn cản quá trình đông máu và kích thích hệ thống tiêu sợi huyết tại chỗ và duy trì tính hằng định nội mô trong mạch máu. Chức năng duy trì tính cân bằng nội mô mạch máu của nội mạc được thực hiện thông qua sự giải phóng các yếu tố bảo vệ mạch như NO, prostacyclin, bradykinin, Yếu tố tăng phân cực có nguồn gốc nội mạc (endothelium-derived hyperpolarizing factor - EDHF) cùng với những phân tử có hại như endothelin, các gốc ôxy hóa tự do (ROS), Yếu tố co mạch phụ thuộc cyclooxygenase có nguồn gốc nội mạc (endothelium-derived COX- 7 dependent vasoconstricting factor - EDCF), angiotensin II (AngII). Rối loạn chức năng hoạt động của nội mạc có thể dẫn đến mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ mạch máu và các phân tử có hại, khởi động một chuỗi các sự kiện dẫn đến thúc đẩy sự hình thành của các mảng xơ vữa như tăng tính thấm nội mạc, ngưng tập tiểu cầu, kết dính bạch cầu, hoạt hóa phản ứng viêm… Những mảng xơ vữa được hình thành có thể tồn tại không triệu chứng trong nhiều năm và không gây ra hậu quả nào trên lâm sàng [9],[10]. Ở bệnh nhân ĐTĐ, tình trạng tăng đường huyết trực tiếp tấn công và làm tổn thương các tế bào nội mạc bằng cách gắn không hồi phục với collagen và các protein cấu trúc dưới nội mạc mạch máu, tạo thành các sản phẩm độc hại AGE (advanced glycation end products).
AGE tích tụ ở lớp dưới nội mạc trong suốt thời gian có tăng đường huyết và có liên quan trực tiếp với tình trạng xơ vữa và suy thận. AGE cũng làm thay đổi cấu trúc và đặc tính sinh lý học của màng đáy, dẫn đến sự thay đổi tính thấm và khả năng co giãn của mạch máu [14]. Thrombomodulin là một protein cơ bản của màng đáy. Tăng nồng độ của thrombomodulin trong huyết tương là bằng chứng của tổn thương nội mạc và gián tiếp phản ánh sự thiếu hiệu quả của con đường kháng đông qua protein C [15].
Ở người bệnh ĐTĐ type 2, tăng nồng độ thrombomodulin có liên quan với tình trạng tổn thương mạch máu lan tỏa, không đặc hiệu mô [16]. Một yếu tố chỉ điểm khác của tổn thương nội mạc là yếu tố von Willebrand (vWF), một glycoprotein được tổng hợp bởi các tế bào nhân khổng lồ và tế bào nội mạc mạch máu. Khi những tế bào này bị tổn thương, nồng độ của vWF trong huyết tương sẽ tăng lên và có thể gây ra tình trạng tăng đông [17]. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, nồng độ cao của vWF có thể dự báo sự xuất hiện và tiến triển của các bệnh lý tim mạch, trong khi các nghiên cứu can thiệp lại cho thấy, điều trị kiểm soát tốt ĐTĐ có thể giúp 8 giảm nồng độ của yếu tố này [18].
Tăng nồng độ của vWF có thể được phát hiện trước sự xuất hiện của ĐTĐ type 2 và có mối liên quan rõ rệt với sự tiến triển của các biến chứng mạch máu trong ĐTĐ [19]. Tình trạng tăng đường huyết mạn tính cùng với những rối loạn chuyển hóa khác như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu hoặc tăng insulin máu cũng có thể gây tổn thương tế bào nội mạc, dẫn đến các biến chứng vi mạch đặc trưng của ĐTĐ như bệnh thận, võng mạc. Ngoài ra, cũng có giả thuyết cho rằng vi albumin niệu ở bệnh nhân ĐTĐ cũng là một yếu tố chỉ điểm của tổn thương mạch máu lan tỏa. Điều này giải thích mối liên quan giữa vi albumin niệu và tăng nồng độ thrombomodulin máu với các biến chứng mạch máu trong ĐTĐ [16].
Rối loạn chức năng tiểu cầu trong ĐTĐ Khi nội mạc mạch máu bị tổn thương, các tiểu cầu sẽ đến kết dính vào lớp dưới nội mạc nhờ yếu tố glycoprotein Iβ (GPIβ) và yếu tố von Willebrand (vWF) ở lớp collagen dưới nội mạc, hình dạng tiểu cầu thay đổi và bộc lộ các phân tử phospholipid tích điện âm và các thụ thể. Sự giải phóng adenosine diphosphate (ADP) từ các hạt tiểu cầu cùng với sự di chuyển của calcium dẫn đến sự thay đổi hình dạng tiểu cầu, từ đó bộc lộ phân tử glycoprotein IIbIIIa (GPIIbllla), cho phép sự tương tác giữa các tiểu cầu gây ra bởi các phân tử fibrinogen. Quá trình này khởi đầu cho hiện tượng ngưng tập tiểu cầu, sự bài tiết các hạt tiểu cầu sau đó sẽ lôi kéo các tiểu cầu khác đến thành mạch tạo thành nút tiểu cầu để tạm thời cầm máu và cách ly vị trí tổn thương [20]. Số lượng tiểu cầu trong máu ngoại vi ở người bệnh ĐTĐ không có sự thay đổi so với ở người bình thường nhưng tình trạng rối loạn chức năng của nội mạc mạch máu có thể dẫn đến sự hoạt hóa tại chỗ của tiểu cầu, đặc trưng bởi sự tăng kết dính và ngưng tập tiểu cầu [21].
Ngoài ra, tác dụng thẩm thấu của việc tăng đường huyết cũng làm tăng xu hướng ngưng tập và phóng thích hạt của tiểu cầu [22].